1 Kẻ Thù

phần cho người khác nữa con nhé”.

phần cho người khác nữa con nhé”.

phần cho người khác nữa con nhé”. Mẹ hôn lên má anh lần nữa. Rồi mẹ vẫn giữ một tay trên lưng ghế của anh còn tay kia vươn ra và di chuyển ra đằng sau tôi. Tôi nghe được hơi thở khó nhọc của mẹ. Mẹ hôn má tôi. Và như bao năm qua, mẹ đặt tay

lên vai tôi. Mẹ lấy tay đo chúng, từ bên này sang bên kia. Mẹ vốn nhỏ người, luôn thích thú khi đứa con bé bỏng của mình nay đã thành một người khổng lồ. “Con khỏe bằng sức hai thằng con trai bình thường gộp lại đó”, mẹ nói. Rồi câu hỏi dành riêng cho tôi cũng đến. “Con sẽ làm gì với chừng này sức mạnh đây?” mẹ hỏi tôi. Tôi không trả lời. Tôi chưa bao giờ trả lời cả. “Con sẽ làm điều đúng đắn”, mẹ nói tiếp. Rồi mẹ cúi xuống hôn lên má tôi lần nữa. Tôi nghĩ thầm: Có phải đây là lần cuối mẹ hôn mình không? * * * Nửa tiếng sau chúng tôi rời đi. Ba mẹ con ôm nhau thật lâu ngay ngưỡng cửa và hai anh em cùng nói lời yêu mẹ, và đáp lại mẹ cũng nói rằng bà đã và sẽ luôn thương yêu chúng tôi. Mẹ đứng đó khi hai anh em chui vào chiếc thang máy bé tí xuống đất, và rồi cùng đi bộ suốt quảng đường dài tới quảng trường Opéra đón xe buýt chở khách vào sân bay. Mắt chúng tôi nhòa lệ và cả hai không nói gì với nhau. Hàng huân chương trên ngực tôi chả có ý nghĩa gì với cô nhân viên làm thủ tục tại sân bay Roissy - Charles de Gaulle. Cô xếp chúng tôi ở cuối máy bay. Bay được nửa chặng đường tôi lật tờ Le Monde và đọc thấy rằng tay Noriega đã bị bắt ở thành phố Panama. Mới tuần trước tôi còn đầu tắt mặt tối với vụ hắn ta. Vậy mà bây giờ tôi chẳng còn nhớ gì mấy. Tôi đặt tờ báo xuống và cố nhìn về phía trước. Cố nhớ lại nơi tôi cần đến là đâu, và việc tôi cần làm là gì khi tới đó. Tôi chẳng nhớ được gì rõ ràng. Chẳng biết được chuyện gì sắp xảy đến. Nếu biết, tôi đã ở lại Paris. (Untitled) (Untitled) (Untitled) (Untitled) BẢY (Untitled) Khi về hướng Tây múi giờ thay đổi khiến ngày dài ra thay vì ngắn đi. Thời gian bù lại cho chúng tôi những giờ hụt đi hai ngày trước. Chúng tôi đáp xuống sân bay Dulles vào lúc hai giờ chiều. Tôi tạm biệt Joe và anh lên taxi đi về hướng thành phố. Tôi đi tìm xe buýt nhưng chưa tìm thấy chiếc nào thì đã bị bắt. Ai kiểm sát kẻ đi kiểm sát? Ai bắt giữ sĩ quan Quân cảnh? Vào trường

hợp tôi thì đó là ba viên chuẩn úy làm việc trực tiếp cho văn phòng tổng chỉ huy trưởng Quân cảnh. Họ gồm hai chuẩn úy cấp 3 và một chuẩn úy cấp 4. Gã cấp 4 ấn vào mặt tôi thẻ sĩ quan của hắn cùng trát bắt giữ còn hai gã cấp 3 khoe tôi hai khẩu Beretta cùng bộ còng, rồi gã cấp 4 cho tôi quyền lựa chọn sau: hoặc tôi ngoan ngoãn hoặc ăn đòn. Tôi cười nhạt. Tôi thích phong cách làm việc của hắn. Nghiệp vụ rất tốt. Tôi không biết nếu là mình thì mình liệu có cư xử khác đi, hay tốt hơn không. “Anh có vũ khí không, Thiếu tá?” hắn hỏi. “Không”, tôi đáp. Sẽ rất đáng lo cho chất lượng đào tạo của quân đội nếu hắn tin lời tôi nói. Vài tay cấp 4 khác hẳn sẽ tin tôi rồi. Họ sẽ thấy quá hồi hộp trong tình huống tế nhị thế này. Đi bắt giữ một sĩ quan cấp trên cùng ngành là một nhiệm vụ khó khăn. Nhưng gã cấp 4 này làm rất đúng quy trình. Gã nghe tôi trả lời Không thì liền gật đầu ra lệnh cho hai gã cấp 3 kia tiến hành lục soát người tôi nhanh như thể tôi đã trả lời là Có, tôi có đầu đạn hạt nhân. Một gã kiểm tra người tôi còn gã kia xem qua túi đồ. Họ lục soát rất kỹ lưỡng. Xem xét phải mất mấy phút bọn họ mới thỏa mãn. “Tôi có cần phải tra còng Thiếu tá không?” gã cấp 4 hỏi. Tôi lắc đầu. “Xe các cậu ở đâu?” Hắn không trả lời. Hai tay cấp 3 vào đội hình tiêu chuẩn là mỗi người một bên tôi và hơi lui lại đằng sau một chút. Gã cấp 4 tiến lên đằng trước. Chúng tôi băng qua vỉa hè và đi qua bến xe buýt tới khu vực dành riêng cho xe công vụ. Ở đó đang đậu một chiếc sedan màu xanh ô liu. Đây là lúc cần cảnh giác nhất của bọn họ. Tay nào có ý đồ sẽ gồng cứng người khi ấy, sẵn sàng vùng thoát. Bọn họ biết điều đó, nên đội hình khép lại chặt hơn ban nãy một chút. Quả là một đội phối hợp ăn ý. Lấy ba chọi một, họ đã giảm xác suất rủi ro xuống còn năm mươi-năm mươi. Nhưng tôi để họ đẩy mình vào xe. Sau đó, tôi thắc mắc không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi vùng tháo chạy. Nhiều khi, tôi vẫn ước mình đã làm như vậy. Xe của họ là một chiếc Chevrolet Caprice. Nó từng có màu trắng trước khi được quân đội sơn lại thành màu xanh lá. Tôi thấy màu sơn gốc trong khung cửa xe. Ghế xe được bọc nhựa vinyl và cửa kính quay bằng tay. Loại xe đặc trưng của cảnh sát dân sự. Tôi trượt vào băng ghế sau và ngồi trong góc ngay đằng sau ghế lái phụ. Một gã cấp 3 chen vào cạnh tôi và gã kia trèo lên ghế tài xế. Gã cấp 4 ngồi bên cạnh hắn phía trước. Chúng tôi không nói gì thêm. Xe chạy về phía Đông hướng vào thành phố trên đường cao tốc chính.

Chắc tôi đi sau taxi của Joe chừng năm phút. Chúng tôi rẽ hướng Đông Nam và đi qua trung tâm thương mại Tysons Corner. Tới đó tôi biết ngay điểm đến của mình rồi. Vài dặm sau chúng tôi thấy bảng chỉ đường tới Rock Creek. Rock Creek là một thị trấn nhỏ cách doanh trại Belvoir hai mươi mấy dặm về hướng Bắc và cách trại Thủy quân lục chiến ở Quantico bốn mươi mấy dặm về hướng Đông Bắc. Gần như có thể coi đó là nơi công tác chính thức của tôi. Vì trụ sở chỉ huy Đội Đặc nhiệm 110 được đặt ở đấy. Nên tôi biết mình đang đến đâu. Tôi chỉ chưa hiểu vì sao mà thôi. Trụ sở chỉ huy 110 về cơ bản là một văn phòng kiêm trung tâm quân nhu. Không có phòng giam nào. Không có trang thiết bị cho việc giam giữ. Họ giam tôi trong một phòng thẩm vấn. Cứ thế vứt túi đồ của tôi lên bàn rồi khóa cửa lại để mặc tôi trong đó. Chính căn phòng này là nơi tôi từng giam nhiều người. Nên tôi biết quy trình ra làm sao. Sẽ có một gã cấp 3 canh gác ngay hành lang bên ngoài. Hoặc có khi cả hai cùng gác không chừng. Vậy nên tôi chỉ ngả chiếc ghế gỗ ra sau rồi gác chân lên mặt bàn và chờ đợi. Tôi đợi một tiếng đồng hồ. Tôi đương mệt và đói và khát sau chuyến bay. Tôi đoán nếu họ biết điều đó dám họ sẽ bắt tôi chờ tới hai tiếng. Có khi hơn. Nhưng rồi họ trở lại sau sáu mươi phút. Gã cấp 4 dẫn đầu và hất hàm ra lệnh cho tôi đứng dậy đi theo hắn ra cửa. Hai gã cấp 3 lại lui ra sau kèm tôi. Họ đưa tôi lên hai tầng thang. Hết dẫn quẹo trái lại quẹo phải qua các hành lang quét màu xám trơn. Đến lúc đó tôi biết ngay mình đang đi đâu. Chúng tôi đang tới văn phòng của Leon Garber. Nhưng tôi vẫn không biết vì sao. Họ chặn tôi ngoài cửa văn phòng của ông ta. Cửa ấy lắp kính mờ và trên đó có ký hiệu tắt của Sĩ quan chỉ huy sơn vàng. Tôi từng bước qua đây nhiều lần rồi. Nhưng chưa bao giờ trong vị trí người bị bắt cả. Gã cấp 4 gõ cửa và đợi, rồi hắn mở cửa xong lùi lại cho tôi bước vào. Hắn đóng cửa lại sau lưng tôi rồi ở lại ngoài hành lang cùng hai gã kia. Đằng sau bàn làm việc của Garber là một người đàn ông tôi chưa từng gặp bao giờ. Ông ta là đại tá. Trên người đang mặc bộ đồ dã chiến. Trên bảng tên có ghi: Willard, Lục quân Hoa Kỳ. Tóc ông ta màu bạc để rẽ ngôi kiểu học sinh. Trông rất cần được cắt tỉa. Ông ta đeo cặp kính gọng sắt với vẻ mặt phục phịch mà tôi đoán đã trông già nua tự thuở hai mươi tuổi. Tướng ông ta khá lùn và bè, và nhìn đôi vai không vừa với bộ dã chiến tôi biết hẳn ông ta không hề bỏ công tập thể hình gì. Ông ta không

ngồi yên được. Vừa ngồi vừa nghiêng trái vừa kéo chỗ quần đang bó vào hơi chặt ở đầu gối phải. Tôi vào phòng chưa tới mười phút ông ta đã đổi thế ngồi tới ba lần. Hoặc ông ta bị trĩ. Hoặc hồi hộp. Tay ông ta trông mềm. Móng tay tưa cả. Không nhẫn cưới. Đã ly dị, chắc chắn. Nhìn bề ngoài thì biết. Chẳng bà vợ nào để ông chồng mình tha kiểu tóc kia ra đường cả. Và chẳng bà vợ nào chịu nổi cái kiểu giật giật ngả nghiêng đó. Dù có cũng chẳng được lâu. Đáng lẽ tôi phải nhanh chóng nghiêm rồi giơ tay chào và hô: Thưa, Thiếu tá Reacher có mặt. Đó là nghi thức chuẩn mực của nhà binh. Nhưng tôi thà chết còn hơn. Tôi chỉ uể oải nhìn xung quanh mà vẫn đứng nghệch ra trước chiếc bàn. “Tôi cần cậu giải thích”, người mang tên Willard lên tiếng. Ông ta lại trở mình trên ghế. “Ông là ai vậy?” tôi hỏi. “Cậu nhìn thì phải biết chứ”. “Tôi nhìn thì thấy ông đây là một đại tá Lục quân Hoa Kỳ tên Willard thôi. Nhưng làm sao tôi giải thích gì được khi chưa biết ông có trực tiếp chỉ huy tôi hay không”. “Tôi chính là chỉ huy của cậu đấy, nhóc con. Trên cửa ghi gì?” “Sĩ quan chỉ huy”, tôi đáp. “Và ta đang ở đâu?” “Rock Creek, bang Virginia”, tôi đáp. “OK, câu hỏi cậu tự trả lời rồi đấy”, ông ta nói. “Ông là người mới”, tôi bảo. “Hai ta chưa gặp nhau bao giờ”. “Tôi tiếp quản vị trí này cách đây bốn mươi tám tiếng. Giờ ta gặp nhau rồi đó. Và giờ tôi cần lời giải thích”. “Về việc gì cơ?” “Cậu đã VKP, bắt đầu bằng việc này đi”, ông ta nói. “Vắng không phép?” tôi bảo. “Lúc nào cơ?” “Trong bảy mươi hai tiếng đồng hồ vừa qua”. “Sai rồi”, tôi nói. “Sai thế nào?” “Việc vắng mặt của tôi được đại tá Garber duyệt cho”. “Không hề”. “Tôi gọi đến văn phòng này rồi”, tôi nói. “Khi nào?” “Trước khi tôi đi”.

“Cậu có nhận được phê duyệt của chính ông ta không?” Tôi khựng lại. “Tôi có để lại tin nhắn. Ông đang nói là ông ấy không duyệt sao?” “Ông ta có ở đây đâu. Ông ta được lệnh tới Hàn Quốc cách đây vài giờ”. “Hàn Quốc sao?” “Ông ta tiếp quản vị trí chỉ huy Quân cảnh ở đó”. “Đó là việc của chuẩn tướng mà”. “Quyền chỉ huy thôi. Việc thăng cấp của ông ta chắc chắn sẽ được duyệt vào mùa thu”. Tôi không nói gì. “Garber đi rồi”, Willard nói. “Tôi là người điều hành ở đây. Vòng xoay quân đội vẫn xoay vòng. Cố quen đi”. Trong phòng im lặng. Willard mỉm cười nhìn tôi. Không phải một nụ cười dễ chịu. Gần như mỉa mai vậy. Cứ như có người vừa giật đi tấm thảm dưới chân tôi, và ông ta ngắm tôi ngã xuống vậy. “Cũng nhờ cậu để lại lịch trình”, ông ta nói. “Nên ngày hôm nay không khó khăn mấy”. “Ông nghĩ vắng mặt không phép đáng bị bắt giữ sao?” “Cậu không nghĩ thế à?” “Chỉ là hiểu lầm thôi mà”. “Cậu tự ý rời bỏ vị trí của mình mà không được phép cấp trên, Thiếu tá. Đó là sự thật. Việc cậu tưởng mình sẽ được duyệt không hề thay đổi điều đó. Đây là quân đội. Ta không tự ý làm điều gì khi chưa có mệnh lệnh hoặc được sự đồng ý của cấp trên cả. Ta phải đợi đến khi nhận được sự cho phép chính thức và chắc chắn. Không tuân theo tất loạn”. Tôi không trả lời. “Cậu đã đi đâu?” Tôi nhớ lại hình ảnh mẹ tôi, chống khung tập đi bằng nhôm. Tôi nhớ lại gương mặt anh trai tôi khi anh lặng lẽ nhìn tôi thu dọn đồ đạc. “Tôi đi nghỉ vài hôm”, tôi đáp. “Tôi đi biển chơi”. “Việc bắt giữ cậu không phải vì lỗi vắng mặt chưa xin phép”, Willard nói. “Mà bởi vì cậu mặc bộ cảnh phục nghi lễ vào buổi tối mồng một”. “Vậy cũng là vi phạm sao?” “Cậu có đeo bảng tên hôm đó”. Tôi im lặng. “Cậu đánh hai thường dân nhập viện. Khi đang đeo biển tên của mình”. Tôi trân trân nhìn ông ta. Ngẫm nghĩ thật kỹ. Tôi không tin gã hộ pháp lẫn tay nông dân kia tố cáo tôi. Không thể. Chúng đần, nhưng không đần

đến vậy. Chúng biết tôi có thể quay lại tìm chúng. “Ai nói vậy?” tôi hỏi. “Hôm cậu thượng đài có quá trời khán giả”. “Một người của ta sao?” Willard gật đầu. "Ai?” tôi hỏi. “Cậu không cần biết đâu”. Tôi giữ im lặng. “Cậu còn gì để nói không?” Willard hỏi tôi. Tôi nghĩ thầm: Hắn còn lâu mới dám làm chứng chống tôi trước tòa án binh. Chắc chắn. Tôi muốn nói vậy đó. “Không”, tôi đáp. “Cậu nghĩ tôi nên xử lý cậu sao?” Tôi không trả lời. “Cậu nghĩ tôi nên làm gì hả?” Ông nên biết điểm khác nhau giữa một tay cứng đầu với một thằng đầu đất là gì, ông già. Ông hiểu được càng sớm càng tốt. “Tùy ông”, tôi đáp. “Quyết định của ông”. Ông ta gật đầu. “Tôi cũng vừa nhận được báo cáo của tướng Vassell và đại tá Coomer”. “Báo cáo việc gì cơ?” “Báo cáo việc cậu có thái độ vô lễ với họ”. “Vậy thì báo cáo đó sai rồi”. “Cũng như việc nghỉ không xin phép là sai phải không?” Tôi không nói gì. “Đứng nghiêm đi”, Willard bảo. Tôi nhìn ông ta. Đếm thầm Một giây. Hai giây. Ba giây. Rồi mới nghiêm. “Chậm quá”, ông ta nói. “Tôi đâu có đua với ai”, tôi đáp. “Cậu quan tâm gì ở Vassell và Coomer?” “Bản chương trình nghị sự cho một hội nghị Thiết giáp bị mất. Tôi muốn biết nó có chứa thông tin mật nào không”. “Làm gì có bản chương trình nghị sự nào”, Willard nói. “Vassell và Coomer nói rõ rồi còn gì. Họ đã khai như vậy với cậu, và với tôi. Việc tra vấn của cậu có thể chấp nhận được. Dù sao về căn bản, cậu có quyền đó. Nhưng cố tình phủ nhận câu trả lời trực tiếp của một sĩ quan cấp cao

là vô lễ. Gần như xúc phạm rồi”. “Thưa, tôi ăn lương để giải quyết những việc này. Tôi tin rằng có một bản chương trình nghị sự ở đâu đó”. Đến lượt Willard không nói gì. “Cho phép tôi hỏi trước đó ông chỉ huy gì?” tôi hỏi. Ông ta cựa mình trên ghế. “Tình báo”, ông ta đáp. “Đặc vụ hiện trường” tôi hỏi. “Hay ngồi bàn giấy?” Ông ta không trả lời. Ngồi bàn giấy rồi. “Ông có bao giờ dự hội nghị nào mà không có bản chương trình nghị sự không?” Ông ta trừng mắt nhìn tôi. “Mệnh lệnh trực tiếp đây, Thiếu tá”, ông ta bắt đầu. “Đầu tiên, chấm dứt mọi sự quan tâm đến Vassell và Coomer. Ngay lập tức, không chậm trễ. Thứ hai, chấm dứt mọi sự quan tâm đến tướng Kramer. Chúng ta không muốn gây lớn chuyện, nhất là trong tình cảnh này. Thứ ba, chấm dứt việc trung úy Summer tham gia công tác của đội đặc nhiệm. Ngay lập tức, không chậm trễ. Cô ta chỉ là Quân cảnh cấp dưới và sau khi lướt qua hồ sơ thì tôi nghĩ cô ta không tiến xa được hơn nữa đâu. Thứ tư, không tiếp xúc với đối tượng thường dân địa phương bị cậu đả thương. Và thứ năm, không tìm cách xác định nhân chứng đã khai báo vụ ẩu đả của cậu”. Tôi không đáp. “Cậu có hiểu mệnh lệnh vừa rồi không?” ông ta hỏi. “Tôi muốn có văn bản chính thức”, tôi trả lời. “Bằng miệng là đủ rồi”, ông ta nói. “Cậu có hiểu mệnh lệnh vừa rồi không?” “Có”, tôi nói. “Cho nghỉ”. Tôi đếm thầm Một giây. Hai giây. Ba giây. Rồi tôi giơ tay chào và quay ra. Tôi vừa bước tới cửa thì ông ta bắn thêm một phát chia tay. “Nghe đồn cậu là một ngôi sao lớn, Reacher”, ông ta nói. “Cậu nên cân nhắc xem mình có muốn tiếp tục làm ngôi sao, hay trở thành một thằng nhãi láo lếu ngạo mạn. Và cậu nên nhớ chẳng ai ưa bọn láo lếu ngạo mạn đâu. Và cậu nên nhớ chúng ta sắp đến thời điểm mà việc người ta ưa mình hay không sẽ rất quan trọng. Quan trọng cực kỳ đấy”. Tôi không đáp.

“Tôi nói có rõ không, Thiếu tá?” “Rõ”, tôi trả lời. Tôi đặt tay lên nắm đấm cửa. “Một điều cuối”, ông ta nói. “Tôi sẽ tạm gác lại việc tố cáo hành vi bạo lực của cậu. Tới chừng nào hay chừng đó. Chỉ vì những thành tích của cậu. Cậu may lắm nên tố cáo mới chỉ đưa trong nội bộ thôi. Nhưng tôi muốn cậu nhớ rằng nó vẫn còn nằm đây, và vẫn có thể được đem xử lý đấy”. * * * Tôi rời Rock Creek trước năm giờ chiều một chút. Đoạn bắt chuyến buýt về Thủ đô Washington, rồi bắt chuyến nữa về hướng Nam theo cao tốc I-95. Sau đó tôi gỡ huy hiệu trên ve áo rồi bắt nhờ xe suốt chặng ba mươi dặm cuối về trại Bird. Như vậy nhanh hơn. Giao thông địa phương lúc đó chủ yếu toàn lính, hoặc lính đã giải ngũ, hoặc gia đình họ, và hầu hết đều không có thiện cảm với Quân cảnh. Nên từ kinh nghiệm tôi biết tốt nhất cứ cất hết phù hiệu đi cho xong. Tôi kiếm được xe đi nhờ và xuống xe cách cổng trại Bird chừng hai trăm yard, quá mười một giờ đêm một chút, mồng bốn tháng Giêng, sau hơn sáu giờ đồng hồ đi đường. Bắc Carolina lúc ấy đã tối mù và trở lạnh. Trời lạnh quá, tôi phải chạy bộ suốt hai trăm yard ấy cho ấm người. Đến cổng chính thì hết cả hơi. Tôi ký nhập trại rồi chạy xuống văn phòng. Bên trong ấm áp vô cùng. Cô trung sĩ có đứa con trai nhỏ đang trực. Cô đã pha sẵn cà phê. Cô đưa tôi một cốc rồi tôi bước vào văn phòng và tìm thấy mẩu giấy nhắn của Summer trên bàn. Mẩu giấy đính trên tập hồ sơ mỏng bìa màu xanh lá. Trong ấy đựng ba loại danh sách. Danh sách nữ quân nhân có xe Humvee cá nhân, danh sách nữ quân nhân từ trại Irwin, và bản đăng ký xuất nhập trại đêm Giao thừa. Hai bản danh sách đầu khá ngắn. Còn bản đăng ký kia thì hỗn loạn vô cùng. Người ta ra vào trại thâu đêm, tiệc tùng không nghỉ. Nhưng chỉ có một cái tên lặp lại trong cả ba danh sách: Tr. tá Andrea Norton. Summer đã khoanh tròn cái tên đó trong cả ba danh sách. Lời nhắn của cô như sau: Gọi tôi để nói về Norton. Mong mẹ sếp vẫn khỏe. Tôi tìm thấy mẩu giấy cũ ghi số điện thoại của Joe và quyết định gọi cho anh trước. “Anh ổn không?” tôi hỏi. “Đáng lẽ ta nên ở lại”, anh đáp.

“Mẹ cho cô y tá nghỉ một ngày”, tôi bảo. “Mẹ chỉ cần một ngày đó thôi”. “Dù sao ta vẫn nên ở lại chứ”. “Mẹ không muốn có khán giả đâu anh”, tôi bảo. Joe không trả lời. Ống nghe điện thoại nóng hổi và câm lặng bên tai tôi. “Em muốn hỏi cái này”, tôi hỏi. “Khi còn làm ở Lầu Năm Góc, anh có quen thằng khốn nào tên Willard không?” Anh giữ im lặng một hồi, cố lục lọi trí nhớ. Anh ngừng công tác bên Tình báo cũng khá lâu rồi. “Phải lão bè bè lùn lùn không?” anh hỏi. “Không ngồi yên nổi một chỗ ấy? Lúc nào cũng rục rịch trên ghế, mày mò nếp quần hả? Lão chuyên ngồi bàn giấy thôi. Hình như là thiếu tá”. “Lão lên đại tá rồi”, tôi bảo. “Lão mới chuyển qua Đội 110. Tới Rock Creek làm sĩ quan chỉ huy của em”. “Từ Tình báo sang Đội 110 à? Cũng hợp lý”. “Em chẳng thấy hợp lý chỗ nào”. “Học thuyết mới đấy”. Joe bảo. “Họ đang bắt chước bên kinh tế tư nhân. Họ cho là những người không rõ mô tê gì sẽ làm tốt hơn, vì những người đó sẽ không bị lệ thuộc vào tình trạng hiện có. Họ nghĩ rằng như thế sẽ đem lại những quan điểm mới mẻ ấy mà”. “Em cần biết gì về lão không?” “Chú nói lão khốn nạn, thì chắc cũng biết ít nhiều về lão rồi đó. Thông minh thật, nhưng khốn nạn, không phải bàn. Độc ác, hẹp hòi, thích bè phái, giỏi chiêu trò công sở, đặc biệt thích đứng đầu, rất thạo bợ đít, luôn biết gió đang thổi chiều nào”. Tôi không nói gì. “Vô vọng với phụ nữ”, Joe bảo. “Cái đó anh nhớ”. Tôi im lặng. “Lão là ví dụ tốt”, Joe nói tiếp. “Cho việc anh bàn với em đó. Lão từng tham gia phân tích phe Xô Viết. Lão theo dõi lượng sản xuất xe tăng và lượng tiêu hao nhiên liệu của bên đó, theo anh nhớ là vậy. Hình như lão thiết kế thuật toán nào đó giúp ta tìm ra chương trình tập huấn của quân Thiết giáp phe kia dựa vào lượng tiêu hao nhiên liệu. Cả năm trời ấy lão phất lắm. Nhưng bây giờ anh nghĩ lão đã lường trước được tương lai. Quyết định thoát ra ngay khi tình hình còn đang thuận lợi. Em cũng nên làm vậy. Hoặc chí ít cũng thử suy xét xem. Như ta đã bàn ấy”. Tôi vẫn không đáp.

“Còn bây giờ thì cẩn thận đấy”, Joe dặn. “Là anh thì không muốn lão Willard làm sếp mình đâu”. “Em không sao đâu, tôi bảo. “Đáng lẽ ta nên ở lại Paris”, anh nói, và dập máy. * * * Tôi gặp Summer tại quán bar OClub. Cô cầm sẵn lon bia trên tay và đang ngả lưng vào tường trò chuyện với vài tay chuẩn úy cấp 2. Cô rời họ ngay khi vừa trông thấy tôi. “Garber tới Hàn Quốc rồi”, tôi nói. “Ta có sếp mới”. “Ai cơ?” “Lão đại tá nào tên Willard đó. Từ bên Tình báo”. “Nhưng ông ta phù hợp chỗ nào?” “Lão có phù hợp đâu. Lão khốn nạn ấy”. “Sếp tức lắm hả?” Tôi nhún vai. “Lão bảo ta tránh xa vụ Kramer ra”. “Ta có nghe theo không?” “Lão cấm tôi nói chuyện với cô. Lão còn bảo sẽ từ chối đơn xin chuyển công tác của cô nữa”. Cô im lặng. Quay mặt đi. “Chết tiệt”, cô nói. “Tôi xin lỗi”, tôi bảo. “Tôi biết cô mong lắm”. Cô trở lại nhìn tôi. “Ông ta nghiêm túc về việc Kramer đó chứ?” cô hỏi. Tôi gật đầu. “Cái gì lão cũng nghiêm túc hết. Lão cho người bắt giữ tôi tại sân bay, chỉ để chứng minh quan điểm thôi”. “Bắt sếp á?” Tôi gật đầu lần nữa. “Có người khai báo vụ ẩu đả tại bãi xe của tôi”. “Ai cơ?” “Chắc tay quân nhân nào trong đám đông”. “Người của ta sao? Ai thế nhỉ?” “Tôi chịu”. “Lạnh lùng thật đó”. Tôi gật đầu. “Chưa bao giờ tôi bị vậy cả”. Cô lại im lặng. “Mẹ sếp thế nào rồi?” cô hỏi. “Mẹ tôi bị gãy chân”, tôi đáp. “Bình thường ấy mà”. “Người già dễ bị viêm phổi lắm đó”.

Tôi gật đầu lần nữa. “Mẹ tôi chụp X quang rồi. Không bị viêm phổi”. Mi mắt dưới của cô cong lên. “Sếp cho tôi hỏi một câu hiển nhiên nhé?” cô hỏi. “Có à?” “Hành hung thường dân là tội nặng. Và dường như ta đã có văn bản báo cáo cùng nhân chứng rồi, từng ấy thôi cũng đủ để bắt giữ sếp”. “Thì sao?" “Thì sao sếp vẫn được tự do đi lại thế này?” “Lão Willard đang tạm gác qua vụ đó”. “Tại sao phải làm thế, nếu ông ta thực là đồ khốn?” “Vì nể thành tích của tôi thôi. Lão nói vậy đó”. “Sếp tin không?” Tôi lắc đầu. “Chắc đơn tố cáo có vấn đề”, tôi bảo. “Một tay khốn nạn như Willard sẽ dùng nó để hại tôi ngay, chắc chắn là vậy. Lão đâu quan tâm gì đến thành tích của tôi”. “Đơn tố cáo không thể có vấn đề được. Có nhân chứng quân nhân là tốt nhất rồi. Họ bảo hắn làm chứng việc gì thì hắn sẽ làm ngay thôi. Khác gì chính tay Willard viết đơn tố cáo ấy đâu”. Tôi không trả lời. “Mà sếp tới đây làm gì vậy?” cô hỏi. Tôi chợt nghe tiếng Joe nói: Chú nên tìm hiểu xem ai cần mình tới trại Bird đến mức rút chú ra khỏi Panama rồi để cho một thằng khốn nào đó tiếp quản. “Tôi chẳng biết mình tới đây làm gì” tôi đáp. “Tôi chẳng biết gì cả. Kể tôi nghe về trung tá Norton đi”. “Ta rút khỏi cuộc điều tra rồi mà sếp”. “Kể tôi nghe cho vui thôi”. “Không phải cô ta đâu. Có bằng chứng ngoại phạm. Lúc đó cô ta đang tiệc tùng tại một quán bar ngoài doanh trại. Thâu đêm luôn. Có gần cả trăm người ở đó cùng cô ta”. “Cô ta là ai?” “Chuyên viên đào tạo tác chiến tâm lý. Một tiến sĩ tâm sinh dục chuyên về tấn công trạng thái cảm xúc xoay quanh cảm giác về sự nam tính của đối phương”. “Có vẻ là người thú vị đó”. “Cô ta được mời đi bar tiệc tùng mà sếp. Rõ ràng có người thấy cô ta thú

vị”. “Cô đã kiểm tra danh tính tài xế của Vassell và Coomer chưa?” Cô gật đầu. “Nhân viên gác cổng ghi vào sổ cái tên thiếu tá Marshall. Tôi tra thì biết hắn thuộc Quân đoàn XII đang tạm thời công tác ở Lầu Năm Góc. Có vẻ được ưu ái lắm. Hắn đã ở đây từ hồi tháng Mười một”. “Cô đã xem qua lịch sử cuộc gọi đi từ cái khách sạn ở Thủ đô rồi chứ?” Cô gật đầu lần nữa. “Trống trơn sếp ạ” cô bảo. “Phòng Vassell chỉ nhận một cú điện thoại gọi tới lúc mười hai giờ hai mươi tám phút buổi sáng. Tôi đoán đó là Quân đoàn XII gọi tới từ Đức. Cả hai ông chẳng ai gọi ra ngoài cả”. “Không một cú nào sao?” “Không một cú nào hết”. “Cô chắc chứ?” “Chắc chắn. Tổng đài điện tử mà. Muốn gọi ra ngoài phải bấm phím số chín, và máy tính sẽ tự động ghi lại. Phải thế đặng còn tính cước nữa”. Đụng ngõ cụt rồi. “OK”, tôi bảo. “Quên hết mọi chuyện đi”. “Thật ư?” “Lệnh là lệnh”, tôi nói. “Không tuân theo tất loạn”. * * * Tôi trở về văn phòng rồi điện tới Rock Creek. Tôi đoán lão Willard đã đi từ lâu rồi. Lão thuộc dạng cứ tới giờ là về thôi. Tôi nói chuyện với một thư ký đại đội và nhờ anh ta tìm giúp bản gốc lệnh thuyên chuyển công tác của tôi từ Panama về trại Bird. Anh ta trở lại ống nghe sau năm phút. Trong lúc chờ, tôi đọc bản danh sách mà Summer đã đưa. Chúng ghi đầy những cái tên chẳng có ý nghĩa gì với tôi cả. “Tôi tìm được rồi đây”, người trên điện thoại nói. “Ai ký duyệt thế?” tôi hỏi anh ta. “Thưa, là đại tá Garber”. “Cảm ơn anh”, tôi nói, rồi dập máy. Tôi ngồi đó suốt mười phút thắc mắc vì sao người ta nói dối tôi. Rồi chợt tôi quên bẵng đi thắc mắc đó, bởi điện thoại lại đổ chuông và một binh nhì Quân cảnh trẻ tuổi đang trên đường đi tuần quanh trại như thường lệ gọi báo phát hiện một người bị giết trong rừng. Có vẻ khủng khiếp lắm. Bởi cậu ta phải dừng tới hai lần để nôn oẹ mới báo cáo xong nổi. (Untitled) (Untitled)

(Untitled) (Untitled) TÁM (Untitled) Các doanh trại ngoài ngoại ô thường vô cùng rộng lớn. Dù cơ sở hạ tầng có quy hoạch gọn ghẽ tới đâu, xung quanh vẫn thừa ra một khoảnh đất khổng lồ. Tuy là lần đầu trực tại trại Bird, nhưng tôi đoán nơi đây cũng không phải ngoại lệ. Doanh trại như thể một thị trấn nhỏ lọt thỏm giữa khoảng đất rộng lớn khô cằn hình móng ngựa thuộc sở hữu của chính phủ với những dãy đồi thấp và thung lũng nông cùng một lớp những cây và bụi mọc lưa thưa. Suốt thời gian dài tồn tại của doanh trại, đám cây đó sẽ mô phỏng những thân cây màu xám tro của xứ Ardennes, những cây thông ở Trung Âu, và những cây cọ đung đưa vùng Trung Đông. Tất cả các thế hệ huấn luyện lý thuyết bộ binh đã đến và đi ở đó. Xung quanh còn rải rác những hào chiến đấu cùng hố cá nhân và lỗ châu mai cũ. Vẫn còn những gờ đất tập bắn súng trường và hàng rào thép gai cùng các lán biệt lập nơi các chuyên viên tâm lý thử thách trạng thái cảm xúc đàn ông. Vẫn đó những bunker bằng xi măng và bản sao các văn phòng chính phủ được Lực lượng Đặc n Tôi gọi một toán chuyên viên rồi tới bãi xe và tìm thấy một chiếc Humvee có gắn đèn pin bên bảng điều khiển. Tôi nổ máy đi theo chỉ dẫn của tay binh nhì về hướng Tây Nam của khu vực cư trú đến một con đường cát dẫn vào khu hoang sơ. Trời đã trở tối hoàn toàn. Tôi đi hơn một dặm thì thấy ánh đèn một chiếc xe Humvee khác ở đằng xa. Xe của tay binh nhì đó đỗ chéo cách con đường mòn khoảng hai mươi feet và đèn pha của nó quét sáng lên hàng cây tạo thành những bóng hình quái đản vào tận sâu trong rừng. Tay binh nhì đang đứng tựa lên nắp xe mình. Đầu gục xuống nhìn mặt đất chăm chăm. Câu hỏi đầu tiên: làm sao đường đi tuần trên xe ở một khu tối mù lại phát hiện được một cái xác bị giấu tuốt ngoài đây, tận sâu trong rừng? Tôi dừng xe bên cạnh cậu ta, lấy đèn pin rồi bước ra bầu trời lạnh, và ngay lập tức có câu trả lời. Có một vệt dài những món trang phục bắt đầu từ giữa con đường. Ngay giữa đường là một chiếc giày bốt. Loại bốt dã chiến bằng da màu đen được cấp theo tiêu chuẩn, đã cũ, sờn, và không được đánh bóng đàng hoàng. Nằm ở hướng Tây, cách chiếc giày chừng một yard, là một chiếc tất. Rồi một chiếc giày nữa, một chiếc tất nữa, đến áo khoác dã chiến, và áo mặc trong màu ô liu. Mớ trang phục

được trải thành một đường, như một màn giễu nhại cái ảo tưởng anh có là khi về nhà sẽ tìm thấy quần áo lót của vợ rải rác dẫn lên cầu thang vào phòng ngủ vậy. Chỉ có điều cái áo khoác và áo trong kia đen thẫm màu máu. Tôi kiểm tra mặt đất bên rìa con đường. Nó cứng ngắc và đóng một lớp băng mỏng. Tôi sẽ không phá hỏng hiện trường. Tôi sẽ không vô tình xóa đi dấu chân thủ phạm, bởi trên mặt đất chẳng có dấu chân nào cả. Vậy là tôi hít một hơi sâu và theo vệt quần áo đến nơi nó kết thúc. Đến đó thì tôi hiểu vì sao tay binh nhì kia phải nôn thốc hai lần. Bằng tuổi cậu ta dám tôi phải oẹ ra tới ba lần. Cái xác nằm sấp trên thảm lá khô đã đông cứng dưới gốc cây. Trần truồng. Cao ngưỡng trung bình, người săn chắc. Nạn nhân gốc da trắng, nhưng khắp cơ thể nhuốm máu đỏ. Khắp cánh tay và vai đầy những vết cắt sâu đến tận xương bằng dao. Từ đằng sau tôi thấy gương mặt của nạn nhân bị dập nát và sưng phù. Má lồi ra. Thẻ định danh bị mất. Quanh cổ quấn chặt một thắt lưng da nhỏ. Khóa thắt lưng bằng đồng còn phần đuôi dài quấn tiếp trở xuống. Trên lưng vương lại thứ dịch gì đó sền sệt màu trắng hơi ngả hồng. Nạn nhân bị một nhánh cây gãy đâm ngập hậu môn. Mặt đất bên dưới nhuộm màu đen kịt. Tôi đoán nếu lật thi thể lại chúng tôi sẽ phát hiện ra cơ quan sinh dục nạn nhân cũng đã bị cắt mất. Tôi trở lại theo vệt quần áo ra đường. Bước đến tay binh nhì. Cậu ta vẫn dán mắt xuống đất. “Chính xác thì ta đang ở vị trí nào?” tôi hỏi cậu ta. “Sao ạ?” “Ta vẫn trong khu vực doanh trại chứ?” Cậu ta gật đầu. “Ta đứng cách hàng rào biên một dặm. Theo mọi phía ạ”. “OK”, tôi bảo. Quyền hạn đã rõ. Nạn nhân là quân nhân, chết trên đất quân đội. “Ta đợi ở đây. Không ai được vào hiện trường nếu tôi chưa cho phép. Rõ chưa?” “Thưa rõ”, cậu ta trả lời. “Cậu làm tốt lắm”, tôi nói. “Sếp nghĩ vậy ư?” “Cậu vẫn đứng vững đấy thôi”, tôi bảo, Tôi trở về xe Humvee của mình và gọi cho cô trung sĩ. Tôi thông báo tình hình cho cô và nhờ cô nhắn trung úy Summer gọi ngay cho tôi trên

kênh liên lạc khẩn. Rồi tôi đợi. Hai phút sau một xe cứu thương tới nơi, Xong đến lượt hai chiếc Humvee nữa chở toán chuyên viên hiện trường mà tôi đã yêu cầu trước khi rời văn phòng. Họ xuống xe. Tôi dặn họ chờ đó. Không có việc gì phải gấp gáp. Summer điện cho tôi trên bộ đàm chừng năm phút sau. “Có người chết trong rừng”, tôi bảo cô. “Tôi muốn cô tìm ngay cô đào tạo tác chiến tâm lý kia”. “Trung tá Norton ư?” “Tôi muốn cô đưa cô ta ra đây”. “Willard cấm sếp làm việc với tôi rồi mà”. “Chỉ cấm việc của đội đặc nhiệm thôi. Đây là việc quân cảnh bình thường”. “Sao sếp muốn đưa cô Norton ra đó vậy?” “Tôi muốn gặp cô ta”. Cô tắt đài và tôi bước ra khỏi xe. Tôi tham gia đoàn khám nghiệm và chuyên viên hiện trường. Chúng tôi đứng quanh trong trời lạnh. Chúng tôi để máy chạy để nạp ắc quy và cho máy sưởi hoạt động. Từng khóm khói diesel bốc lên và gom lại thành một lớp dày trải khắp, như sương mù. Tôi dặn chuyên viên hiện trường bắt đầu liệt kê mớ trang phục trên đường. Tôi dặn họ không được động vào chúng cũng như không được rời con đường. Chúng tôi đợi. Trời không trăng. Không sao. Không chút ánh sáng hay âm thanh nào ngoài đèn pha trên xe và tiếng động cơ diesel chạy không. Tôi nghĩ về Leon Garber. Hàn Quốc là một trong những nhánh lớn nhất mà Lục quân Hoa Kỳ có thể đưa ông ta tới. Dù không phải nơi hào nhoáng nhất, nhưng là nơi hoạt động sôi nổi cũng như khó khăn nhất. Chỉ huy Quân cảnh ở đó là một nhiệm vụ đáng tự hào. Điều đó nghĩa là ông ta có thể sẽ về hưu với hai ngôi sao, một điều vượt quá mọi mong tưởng của ông ta. Nếu anh tôi nói đúng và sắp có cắt giảm, thì Leon đã lành lặn thoát ra. Tôi mừng cho ông ta. Trong chừng mười phút. Rồi tôi nhìn nhận tình trạng của ông ta từ khía cạnh khác. Tôi lo lắng thêm mười phút nữa và chẳng suy ra được gì thêm. Summer tới nơi khi tôi vừa dứt suy nghĩ. Cô lái chiếc Humvee với một người phụ nữ tóc vàng mặc đồ dã chiến để đầu trần ngồi ngay ghế lái phụ cách cô chừng bốn bộ. Cô dừng xe ngay giữa con đường với đèn pha rọi thẳng vào chúng tôi. Cô ở yên trong xe, trong khi cô gái tóc vàng kia bước ra đảo một vòng mắt khắp đám đông rồi tiến vào mớ ánh sáng

đèn pha hỗn độn tới trước tôi. Tôi giơ tay chào cô ta vì lịch sự rồi nhìn bảng tên. Nó ghi: Norton. Ve áo cô ta đính lá sồi của bậc trung tá. Cô ta có vẻ hơn tuổi tôi, nhưng không nhiều lắm. Tướng cô ta cao và gầy và có gương mặt có thể đưa cô ta lên làm diễn viên hay người mẫu gì đó. “Tôi giúp gì được anh đây, Thiếu tá?” Cô ta hỏi. Giọng cô ta nghe như dân Boston và có vẻ không ưa gì việc bị lôi ra tận đây giữa đêm. “Có cái này tôi muốn cô xem qua”, tôi bảo. “Vì sao?” “Vì có thể cô có góc nhìn chuyên môn”. “Sao lại là tôi?” “Bởi sẵn có cô đang ở Bắc Carolina này. Sẽ phí nhiều tiếng đồng hồ nếu tôi muốn nhờ ai đó ở tít nơi khác”. “Anh muốn nhờ người thế nào?” “Người nào trong chuyên ngành của cô ấy”. “Tôi biết mình chỉ dạy lý thuyết rồi”, cô nói. “Tôi không cần bị nhắc mãi nữa đâu”. “Sao cơ?” “Hình như trại này lấy trò đó làm vui, luôn nhắc Andrea Norton nhớ mình chỉ là một giáo sư lý thuyết, trong khi người ta bận rộn làm những việc thực tế”. “Làm sao tôi biết gì về việc đấy được. Tôi là người mới mà. Tôi chỉ muốn nghe nhận định đầu tiên từ người nào có chuyên môn như cô, vậy thôi”. “Anh không có ý đồ gì sao?” “Tôi đang cần giúp đỡ thôi mà”. Cô ta chun mũi. “OK”. Tôi đưa cô ta đèn pin. “Nhờ CÔ men theo vật quần áo này đến cuối. Xin đừng động vào vật gì cả. Cứ tập trung vào nhận định của mình. Sau đó tôi muốn bàn lại với cô”. Cô ta không đáp. Chỉ cầm lấy đèn pin của tôi và đi. Chừng hai mươi bước đầu tiên lưng cô ta còn được đèn pha từ xe tay binh nhì chiếu sáng rực. Xe cậu ta vẫn đối diện với khu rừng. Bóng của cô ta ngả ra phía trước người. Rồi cô ta bước ra khỏi tầm chiếu của đèn pha và tôi chỉ thấy ánh đèn pin tiến tới, ngả nghiêng trong bóng tối. Sau đó tôi không nhìn thấy nữa. Chỉ còn vệt sáng mờ mờ hắt lên mặt dưới của những nhánh cây không lá, ở tít đằng xa, phía trên cao. Cô ta đi mất khoảng mười phút. Rồi tôi thấy ánh đèn pin quét trở về

hướng chúng tôi. Cô ta bước ra từ khu rừng, đi ngược lại theo hướng cũ. Cô ta đi thẳng đến tôi. Mặt tái mét. Cô ta tắt đèn pin rồi trả lại cho tôi. “Gặp lại trong văn phòng tôi”, cô ta bảo. “Chừng một tiếng nữa”. Cô ta leo lên xe Humvee của Summer và Summer lùi xe, quay đầu và phi vào bóng tối. “OK, mấy cậu, bắt đầu vào việc được rồi”, tôi nói. Tôi ngồi trong xe nhìn khói và ánh đèn pin quét rọi khắp mặt đất cùng ánh chớp xanh của máy ảnh bắt lấy mọi thứ xung quanh. Tôi điện cho nữ trung sĩ và dặn cô báo nhà xác doanh trại mở cửa. Dặn cô báo một chuyên viên khám nghiệm sẵn sàng sáng sớm hôm sau. Sau ba mươi phút xe cứu thương lùi ra mé đường và người của tôi khênh lên một hình hài dưới lớp khăn trắng. Họ đóng cửa rồi vỗ lên thành xe và xe rồ máy chạy đi. Các túi nhựa trong đựng chứng cứ và dán nhãn chi tiết. Băng hiện trường được giăng vòng quanh các gốc cây. Họ quây lại thành một hình chữ nhật với kích thước chừng bốn mươi nhân năm mươi yard. Tôi để họ tự thu dọn và lái xe qua màn đêm trở về tòa nhà chính. Tôi được binh sĩ canh gác chỉ đường đến bộ phận tác chiến tâm lý. Nơi đó là một tòa nhà thấp bằng gạch với cửa và cửa sổ màu xanh lá như thể đã từng là văn phòng xưa của sĩ quan hậu cần từ thời mới được xây dựng vậy. Nó cách khá xa trụ sở chỉ huy, có lẽ cách khu vực nghỉ ngơi của Lực lượng Đặc nhiệm nửa đoạn đường. Xung quanh tối và im ắng nhưng trong hành lang chính và một cửa sổ văn phòng vẫn còn ánh đèn. Tôi dừng xe và vào trong. Tôi đi qua các hành lang lát gạch u ám tới một cánh cửa gắn kính mờ. Đằng sau lớp kính mờ ấy có ánh đèn tỏa ra và trên kính khắc dòng chữ Tr. tá A. Norton. Tôi gõ cửa và bước vào trong. Trước mặt tôi là một văn phòng nhỏ nhưng gọn gàng. Nó sạch sẽ và vương mùi phụ nữ. Tôi không đưa tay chào lại nữa. Tôi nghĩ tôi và cô ta đã vượt qua giai đoạn nghi thức rồi. Norton ngồi sau chiếc bàn gỗ sồi lớn được quân đội cấp và trên đó trải đầy những quyển sách đang mở. Cô ta đặt nhiều sách lên bàn đến nỗi phải bỏ điện thoại xuống đất. Trước mặt cô ta là một tập giấy vàng với vài dòng viết tay. Tập giấy hứng ánh sáng từ đèn làm việc rồi phản chiếu màu vàng của mình lên mái tóc cô ta. “Xin chào”, cô ta nói. Tôi ngồi xuống ghế khách. “Nạn nhân là ai vậy?” cô ta hỏi. “Tôi không biết”, tôi bảo. “Tôi không nghĩ ta tìm được thẻ căn cước

nào. Mặt nạn nhân bị dập nát. Ta phải dựa vào dấu vân tay thôi. Hoặc răng. Nếu nạn nhân còn cái nào trong miệng”. “Sao anh lại muốn tôi kiểm tra nạn nhân?” “Tôi bảo rồi mà. Tôi muốn nghe nhận định của cô”. “Sao anh biết tôi sẽ có một nhận định nào đó?” “Vì tôi nghĩ sẽ có manh mối mà cô hiểu được”. “Tôi đâu phải chuyên gia thiết lập hồ sơ tội phạm đâu”. “Tôi không cần cô phải là chuyên gia. Tôi chỉ cần vài đầu mối, ngay bây giờ. Tôi muốn biết mình có đang nhìn đúng hướng hay không”. Cô ta gật đầu. Rồi vén tóc vương trên mặt. “Hiển nhiên nạn nhân là người đồng tính”, cô ta nói. “Đó có thể là động cơ gây án. Hoặc nếu không, thì hung thủ cũng là người biết được chuyện đó”. Tôi gật đầu. “Bộ phận sinh dục bị cắt bỏ”, cô ta nói tiếp. “Cô kiểm tra rồi à?” “Tôi có xê dịch nạn nhân một chút”, cô ta đáp. “Tôi xin lỗi. Anh có dặn tôi không được làm như vậy rồi”. Tôi nhìn cô ta. Cô ta khi nãy còn không đeo găng. Đúng là gan dạ. Có lẽ cái tiếng chỉ biết sách vở của cô ta không hoàn toàn đúng. “Không sao đâu”, tôi bảo. “Theo tôi đoán thì anh sẽ tìm được tinh hoàn và dương vật bị nhét trong miệng nạn nhân. Tôi không nghĩ má anh ta sẽ sưng phồng như vậy chỉ vì bị đánh. Rõ ràng đây là một tuyên bố có tính biểu tượng, từ góc nhìn của một kẻ thủ ác ghê sợ đồng tính. Cắt bỏ bộ phận sinh dục, rồi mô phỏng hành động quan hệ bằng miệng”. Tôi gật đầu. “Việc nạn nhân bị lột trần và thẻ định danh bị lấy cắp cũng vậy”, cô ta nói tiếp. “Xóa bỏ mối liên quan giữa nạn nhân đồng tính và quân đội”. Tôi gật đầu. “Ngoại vật đâm vào nạn nhân cũng vậy”, cô ta nói. “Xuyên hậu môn ấy”. Tôi gật đầu. “Rồi thứ dịch trên lưng nạn nhân nữa”, cô ta nói. “Sữa chua”, tôi bảo. “Có vẻ là sữa chua vị dâu”, cô ta nói. “Hoặc vị mâm xôi. Một câu đùa xưa như trái đất. Một người đồng tính giả cực khoái như thế nào?”

“Anh ta và rên rỉ”, tôi bảo. “Rồi ném sữa chua lên lưng người tình”. “Phải”, cô ta đáp. Cô ta không cười. Và nhìn tôi, để xem tôi có cười hay không. “Vậy còn vết cắt và vết đánh đập?” tôi hỏi. “Vì kỳ thị”, cô ta trả lời. “Còn thắt lưng siết cổ?” Cô ta nhún vai. “Nó ám chỉ một kỹ thuật tự kích thích. Ngạt thở một chút sẽ khiến cơn cực khoái mạnh hơn thường”. Tôi gật đầu. “OK”, tôi bảo. “OK gì cơ?” “Đó là các nhận định ban đầu của cô. Cô có ý kiến nào dựa trên chúng không?” “Anh có hả?” Cô ta hỏi. “Có chứ”, tôi nói. “Anh nói trước đi”,. “Tôi nghĩ chúng vớ vẩn hết”. “Vì sao?” “Vì có quá nhiều thứ”, tôi tiếp. “Có tới sáu thứ trong này. Lột trần này, cướp thẻ định danh này, cắt bỏ bộ phận sinh dục này, cành cây này, sữa chua này,rồi thắt lưng nữa. Chỉ cần hai trong số sáu là đủ rồi. Cho luôn là ba đi. Cứ như thể hung thủ đang cố gắng thể hiện một điều gì đó, thay vì cứ thế thể hiện ra thôi. Giống như là cố gắng quá lố vậy”. Norton không nói gì. “Quá nhiều thứ”, tôi lặp lại. “Giống như bắn một người, rồi siết cổ người ta, rồi đâm người ta, rồi nhấn nước người ta, rồi làm ngạt thở người ta, rồi đánh đập người ta đến chết. Như thể hung thủ đang trang trí cây thông Giáng sinh bằng cả mớ manh mối vậy”. Cô ta vẫn im lặng. Cô ta quan sát tôi, trong ánh sáng từ đèn làm việc. Có lẽ đang đánh giá tôi. “Tôi có nghi vấn về chiếc thắt lưng”, cô ta nói. “Tự kích thích không chỉ dành riêng cho người đồng tính. Về sinh lý nam giới có các kiểu cực khoái như nhau, dù đồng tính hay không”. “Toàn bộ vụ này là giả cả”, tôi nói. Cuối cùng, cô ta cũng gật đầu. “Tôi đồng ý với anh”, cô ta bảo. “Anh sắc sảo lắm”. “Đối với một tay cớm phải không?”

Cô ta không cười. “Nhưng là quân nhân ta biết việc cho phép người đồng tính nhập ngũ là phạm luật. Vì vậy ta nên chắc chắn mình không để việc bảo vệ quân đội làm mờ óc phán xét của mình”. “Việc của tôi là bảo vệ quân đội”, tôi bảo. “Chính vì vậy đó”, Norton đáp. Tôi nhún vai. “Nhưng tôi không bênh vực ai. Tôi không quả quyết rằng nạn nhân không đồng tính. Có thể hắn ta đồng tính thật. Tôi thực sự không quan tâm. Có thể hung thủ biết nạn nhân đồng tính, hoặc không. Dù sao đi nữa, đó không phải động cơ gây án. Chúng muốn khiến sự việc trông có vẻ như vậy. Nhưng chúng dàn cảnh mà không thực sự hiểu. Chúng hiểu theo một kiểu khác. Nên chúng n

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 119

Đang tải bình luận...