hồi lâu. Nhớ lại cuốn sách bìa cứng của gã Kramer. Bây giờ cũng giống như ngày mười ba tháng Bảy, năm 1943, ngày diễn ra
Trận Vòng cung Kursk kia. Chúng tôi giống Alexander Vasilevsky, tướng chỉ huy Xô Viết trong trận đánh ấy. Nếu ta tấn công ngay bây giờ, ngay giây phút này, ta phải ráo riết truy kích không ngừng cho đến khi quân thù cong đuôi bỏ chạy và cuộc chiến kết thúc. Nếu tạm ngưng hay dừng lại để thở dù chỉ một giây, ta sẽ bị nghiền nát ngay. “OK”, tôi nói. “Chiến thôi”. * * * Chúng tôi gặp Andrea Norton trong phòng nghỉ dành cho sĩ quan và tôi hỏi cô ta có thể dành vài phút nói chuyện với bọn tôi trong văn phòng của cô ta không. Trông cô ta bối rối như muốn hỏi lý do vì sao. Tôi trả lời đây là việc tối mật. Cô ta vẫn bối rối. Vì lão Willard đã bảo rằng vụ Carbone kết thúc rồi, nên cô ta không hiểu bọn tôi còn tìm đến vì lẽ gì nữa. Nhưng cô ta vẫn đồng ý. Cô ta nhắn sẽ gặp chúng tôi trong văn phòng chừng ba mươi phút nữa. * * * Summer và tôi đợi ba mươi phút trong văn phòng mình cùng bản danh sách những ai có mặt hoặc vắng mặt tại doanh trại vào thời điểm Carbone bị hạ sát. Cô xếp gọn gàng mớ giấy tờ dài dằng dặc kia thành một xấp dày chừng hai phân. Trong ấy có chi tiết tên họ, cấp bậc và số thứ tự theo từng hàng in bằng mực in kim. Mọi cái tên đều được đánh dấu bên cạnh. “Dấu này nghĩa là gì?” tôi hỏi cô. “Có mặt hay vắng mặt?” “Có mặt”, cô đáp. Tôi gật đầu. Tôi đang lo chuyện ấy. Tôi lướt ngón cái qua mớ hồ sơ, “Có bao nhiêu người tất cả?” tôi hỏi. “Chừng một ngàn hai trăm người”. Tôi gật đầu lần nữa. Về lý thuyết mà nói thì việc sàng lọc qua một ngàn hai trăm cái tên để tìm ra một kẻ thủ ác chẳng có gì khó. Có những ca cảnh sát phải ngụp lặn trong một bể nghi phạm lớn hơn nhiều. Như có vụ ở Hàn Quốc mà họ đã xét toàn bộ lực lượng quân đội Mỹ vào dạng tình nghi. Nhưng để xử lý những ca như vậy ta cần nguồn nhân lực vô biên, lực lượng điều tra lớn, và nguồn hỗ trợ khổng lồ. Và cần nhất là sự hợp tác của mọi người. Chẳng cách nào sức còm của hai cá nhân có thể xử lý nổi việc này, mà lại còn lén lút sau lưng sĩ quan chỉ huy nữa. “Bất khả thi”, tôi nói. “Không gì là bất khả thi cả”, Summer đáp. “Ta phải tìm phương cách khác”.
“Như thế nào hả sếp?” “Thủ phạm đem gì đến hiện trường?” “Đi tay không ạ”. “Sai”, tôi nói. “Hắn đem chính bản thân tới”. Summer nhún vai. Miết ngón tay theo mép tập hồ sơ. Xấp giấy ép vào nhau dày cộp rồi mỏng dần trong lúc không khí thoát ra giữa những trang giấy. “Sếp chọn một cái tên đi”, cô nói. “Hắn đem theo một con daoK-bar”, tôi bảo. “Một ngàn hai trăm cái tên, một ngàn hai trăm con daoK-bar”. “Hắn mang theo một tuýp sắt hoặc xà beng gì đó”. Cô gật đầu. “Và cả sữa chua nữa”, tôi bảo. Cô im lặng. “Bốn thứ”, tôi nói, “Bản thân hắn, một con daoK-bar, một vật cùn, và sữa chua, Sữa chua ở đâu ra? “Từ tủ lạnh trong phòng riêng của hắn”, Summer đáp. “Hoặc phòng ăn chung nào đó, bàn buffet, từ viên sĩ quan hậu cần, siêu thị hoặc quán ăn hoặc tiệm tạp hóa đâu đó ngoài doanh trại”. Tôi tưởng tượng hình ảnh một gã thở hồng hộc, đi nhanh, có thể đầm đìa mồ hôi, tay phải cầm con dao vấy máu và cây xà beng, tay trái cầm hũ sữa chua đã rỗng, vấp váp giữa đêm đen, tới gần một nơi nào đó, nhìn xuống, thấy cái hũ, bèn ném vào bụi cây, cất dao vào túi, giấu xà beng dưới lớp áo khoác. “Ta nên tìm cái hũ đó”, tôi nói. Summer im lặng. “Chắc hắn đã vứt nó đi rồi”, tôi nói tiếp. “Ở nơi nào không gần hiện trường lắm, nhưng cũng chẳng xa”. “Liệu có ích gì cho ta không sếp?” “Cái hũ đó dám có in mã sản xuất trên ấy. Chí ít là một dòng hạn sử dụng. Kiểu vậy. Từ đó may ra ta tìm được nơi hắn đã mua nó”. Rồi tôi khựng lại. “Dám có khi còn tìm được dấu vân tay trên ấy”, tôi nói. “Hắn đeo găng mà sếp”. Tôi lắc đầu. “Tôi thấy người ta mở hũ sữa chua suốt. Nhưng chưa bao giờ thấy ai đeo găng mà thử cả. Bên trong còn một lớp đậy bằng nhôm mà. Có mép để lật lên ấy”. “Thế ta phải xới tung một trăm ngàn mẫu vuông đất doanh trại để tìm đó
sếp”. Tôi gật đầu. Trở về bước đầu tiên. Thông thường thì chỉ cần vài ba cú điện thoại là tôi có thể lôi cả đám lính ra ngoài sân quỳ cách nhau một yard, bò chậm rãi bằng cả bốn chi như răng của một cây lược người khổng lồ, cắm mặt xuống đất và dùng tay tách từng ngọn cỏ. Cứ thế làm hết hôm nay rồi đến ngày mai, làm đến ngày kia, cho đến khi ai đó tìm thấy thứ chúng tôi cần tìm. Với khoản nhân lực của quân đội, anh hoàn toàn có thể tìm được cây kim dưới đáy bể. Cây kim đó có gãy làm đôi anh cũng tìm được. Miếng mẻ của cây kim đó cũng tìm được nữa là. Summer nhìn đồng hồ trên tường. “Hết ba mươi phút rồi”, cô nói. * * * Chúng tôi lái chiếc Humvee tới khu huấn luyện tác chiến tâm lý rồi đậu xe ở khoảng sân có lẽ dành riêng cho ai đó. Lúc đó đã chín giờ. Summer tắt máy xe rồi chúng tôi mở cửa bước vào trời đêm lạnh. Tôi mang theo chiếc cặp táp của Kramer bên mình. Chúng tôi bước qua hành lang lát gạch đã cũ tới trước cửa phòng Norton. Bên trong đang sáng đèn. Tôi gõ cửa rồi cả hai bước vào. Norton ngồi sau bàn làm việc. Khối sách giáo khoa của cô ta đã được xếp vào kệ tủ sau lưng. Không có cuốn Sổ tay nào trên bàn. Không bút mực lẫn bút chì. Bàn làm việc của cô ta sạch tron. Ánh sáng từ đèn bàn rọi xuống thành một hình tròn hoàn hảo trên mặt gỗ. Phòng cô ta đặt ba chiếc ghế dành cho khách. Cô ta vẫy tay mời chúng tôi ngồi. Summer ngồi bên phải. Tôi ngồi bên trái. Tôi đặt chiếc cặp táp của Kramer vào ghế giữa, đối mặt Norton, như bóng ma từ quá khứ hiện về. Cô ta không để mắt tới nó. “Tôi giúp gì được hai vị đây?” Cô ta hỏi. Tôi cố tình chỉnh chiếc cặp táp sao cho nó dựng thẳng thóm trên ghế. “Mời cô kể cho chúng tôi về bữa tiệc tối qua”, tôi nói. “Bữa tiệc nào chứ?” “Cô có dùng bữa cùng vài sĩ quan Thiết giáp ghé thăm doanh trại ta”. Cô ta gật đầu. “Vassell và Coomer”, cô ta đáp. “Thì sao?” “Họ từng làm việc cho thiếu tướng Kramer”. Cô ta gật đầu lần nữa. “Tôi cũng biết vậy”. “Kể chúng tôi nghe về bữa ăn đi”.
“Về món ăn á?” “Về không khí chung”, tôi đáp. “Về cuộc đối thoại. Về thái độ mọi người lúc đó”. “Như mọi bữa ăn trong nhà ăn dành cho sĩ quan thôi mà”, cô ta nói. “Ai đó đã đưa một chiếc cặp táp cho Vassell và Coomer”. “Vậy sao? Như kiểu, quà tặng á?” Tôi im lặng. “Tôi không nhớ việc đó”, Norton nói. “Khi nào vậy?” “Trong bữa tối”, tôi nói. “Hoặc khi họ chuẩn bị ra về”. Không ai nói gì. “Một chiếc cặp táp sao?” Norton hỏi. “Là cô phải không?” Summer hỏi. Norton nhìn cô, rất thẳng thừng. Hoặc Cô ta thực sự không hiểu chuyện đang xảy ra, hoặc Cô ta là một diễn viên đại tài. “Là tôi làm sao cơ?” “Là người đưa họ chiếc cặp táp”. “Tại sao tôi lại đưa họ chiếc cặp? Tôi đâu có thân với họ đến vậy”. “Cô thân với họ đến mức nào?” “Tôi gặp hai người này một hai lần gì đó, cách đây nhiều năm rồi”. “Ở trại Irwin?” “Hình như vậy”. “Sao cô lại ăn tối với họ?” “Vì lúc đó tôi đang ở quầy bar. Rồi họ mời tôi. Từ chối thì không được lịch sự lắm”. “Cô có biết họ sẽ tới hôm đó không?” tôi hỏi. “Không”, cô ta đáp”.Tôi chẳng biết. Tôi ngạc nhiên vì họ không ở Đức thôi”. “Vậy cô thân với hai người đó đủ để biết họ công tác tại nơi nào”. “Kramer là một chỉ huy Thiết giáp ở châu Âu. Bọn họ là cấp dưới của ông ta. Tôi hắn sẽ không nghĩ hai người đó công tác ở đảo Hawaii rồi”. Không ai nói gì. Tôi quan sát ánh mắt Norton. Cô ta không nhìn chiếc cặp của Kramer lâu hơn nửa giây. Vừa đủ để biết tôi đem tới một chiếc cặp nào đó, rồi không bận tâm nữa. “Chuyện này là sao vậy?” cô ta hỏi. Tôi không đáp. “Nói cho tôi biết đi”. Tôi chỉ vào chiếc cặp. “Vật này thuộc về thiếu tướng Kramer. Ông ta đánh mất nó vào đêm Giao thừa và tới hôm nay lại xuất hiện. Chúng tôi
đang tìm hiểu xem nó đã ở đâu”. “Ông ta mất nó ở đâu?” Summer cựa người trên ghế. “Tại một quán trọ”, cô đáp. “Khi đang quan hệ tình dục với một nữ quân nhân từ doanh trại này. Cô ta lái một chiếc Humvee tới đó. Vì vậy chúng tôi đang tìm một nữ sĩ quan có quen biết với Kramer, và có quyền sở hữu một chiếc Humvee cá nhân, và vắng mặt tại doanh trại trong đêm Giao thừa, và có dự bữa ăn tối qua”. “Tôi là nữ sĩ quan duy nhất dùng bữa tối qua mà”. Một thoáng yên lặng. Summer gật đầu. “Chúng tôi biết. Và hứa sẽ giữ kín chuyện này, với điều kiện cô cho chúng tôi biết cô đã giao chiếc cặp này cho ai”. Căn phòng trở im lặng. Norton nhìn Summer như thể cô vừa kể một câu chuyện tiếu lâm mà Cô ta chưa kịp hiểu. “Cô nghĩ tôi đã ngủ với thiếu tướng Kramer sao?” cô ta hỏi. Summer không đáp. “Vậy thì, không có đâu”, Norton nói tiếp. “Lạy Chúa tôi”. Không ai nói gì thêm. “Tôi chẳng biết mình nên cười hay khóc nữa”, cô ta bảo. “Tôi đang rối mù lên đây. Vừa rồi là một lời vu khống quá lố bịch. Cô nói vậy mà nghe được thì tôi cũng ngạc nhiên quá”. Không ai nói gì một lúc lâu. Norton mỉm cười, như thể tất cả chuyện vừa rồi chỉ làm cô ta thích thú. Chứ không nổi giận. Cô ta nhắm mắt lại rồi mở chúng ra một lát sau, như muốn xóa cuộc đối thoại ban nãy ra khỏi đầu. “Trong chiếc cặp có thứ gì bị mất không?” Cô ta hỏi tôi. Tôi không trả lời. “Giúp tôi đi nào”, cô ta nói tiếp. “Làm ơn đó. Tôi đang muốn làm rõ chuyến viếng thăm kỳ khôi này của hai vị. Trong chiếc cặp của Kramer có thứ gì bị mất không?” “Vassell và Coomer bảo không”. “Nhưng rồi sao?” “Tôi không tin bọn họ”. “Anh nên tin thì hơn. Dù gì họ cũng là cấp trên”. Tôi không đáp. “Vậy sĩ quan chỉ huy mới của anh nói gì?” “Ông ta không muốn điều tra tiếp vụ việc này. Ông ta sợ phanh phui một
vụ bê bối”. “Anh nên nghe lời ông ta thì hơn”. “Tôi làm điều tra. Việc của tôi là phải đặt câu hỏi”. “Quân đội như gia đình vậy”. Cô ta nói. “Chúng ta là một phe mà”. “Tối qua có phải Vassell và Coomer đã ra về cùng chiếc cặp này không?” Norton nhắm mắt lại lần nữa. Ban đầu tôi tưởng cô ta sắp nổi đóa, nhưng tôi nhận ra cô ta đang hồi tưởng về cảnh tối qua, tại khu gửi áo khoác của sĩ quan. “Không”, cô ta đáp. “Cả hai không ai đem theo chiếc cặp này ra về cả”. “Cô có chắc không?” “Tôi cam đoan”. “Thái độ bọn họ khi dùng bữa như thế nào?” Cô ta mở mắt. “Hai người đó rất thoải mái”, cô ta đáp. “Như thể họ đang tận hưởng một buổi tối nhàn hạ vậy”. “Bọn họ có nói vì sao lại ghé trại Bird lần nữa không?” “Đám tang của thiếu tướng Kramer diễn ra hôm qua, vào tầm trưa”. “Tôi không biết việc đó”. “Tôi nghe nói Viện Walter Reed đã trả xác còn Lầu Năm Góc lo hậu sự”. “Đám tang tổ chức ở đâu?” “Nghĩa trang Arlington”, cô ta đáp. “Chứ ở đâu nữa?” “Nơi đó cách đây ba trăm dặm”. “Chừng đó. Theo đường chim bay”. “Vậy sao họ lại tới đây dùng bữa tối?” “Cái đó thì họ không nói với tôi, cô ta đáp. Tôi im lặng. “Còn gì nữa không?” cô ta hỏi. Tôi lắc đầu. “Một quán trọ à?” cô ta nói tiếp. “Nhìn tôi giống loại đàn bà con gái đồng ý gặp gã nào đó tại một quán trọ sao?” Tôi không trả lời. “Mời về cho”, cô ta nói. Tôi đứng dậy. Summer cũng làm theo. Tôi cầm chiếc cặp của Kramer từ ghế giữa rồi bước ra khỏi phòng. Summer đi theo sau. * * * "Sếp tin cô ta không?" Summer hỏi tôi.
Chúng tôi đang ngồi trong chiếc Humvee ngay bên ngoài khu tác chiến tâm lý. Động cơ xe vẫn im lìm còn hệ thống sưởi đang phả làn hơi vừa nóng vừa nồng thoang thoảng mùi xăng dầu. “Có chứ”, tôi đáp. “Ngay khi cô ta không thèm nhìn chiếc cặp. Nếu trông thấy nó từ trước hẳn cô ta đã lúng túng ngay lập tức rồi. Và tôi cũng tin chuyện quán trọ kia nữa. Phải là đại gia mới tán đổ được cô nàng này”. “Vậy ta đã biết được gì thêm nào?” “Chẳng biết được gì cả”, tôi đáp. “Một con số không to đùng”. “Không đâu, ta biết doanh trại Bird này hấp dẫn, có vẻ vậy. Vassell và Coomer cứ tới đây suốt, mà chẳng có lý do nào cả”. “Vậy mới lạ chứ”, tôi nói. “Và cô Norton kia nghĩ chúng ta là một gia đình”. “Sī quan mà”, tôi nói. “Chứ cô tưởng thế nào?” “Sếp là sĩ quan. Tôi cũng là sĩ quan. Tôi gật đầu. “Tôi học trường West Point tới bốn năm trời“, tôi nói. “Đáng lẽ tôi phải hiểu chuyện hơn mới phải. Đáng lẽ tôi nên thay tên đổi họ rồi trở về đây với lon binh nhì. Thêm ba lần thăng cấp nữa, tôi đã là chuyên viên cấp E-4 rồi được lên trung sĩ cấp E-5. Ước gì là vậy”. “Giờ thì sao sếp?” Tôi nhìn đồng hồ. Đã gần mười giờ. “Đi ngủ thôi”, tôi nói. “Ngay rạng sáng, ta sẽ đi tìm hũ sữa chua kia”. (Untitled) MƯỜI BA (Untitled) Dù bản thân chưa từng ăn sữa chua bao giờ nhưng tôi có thấy qua và ước chừng một hũ như vậy có kích thước hai inch, nghĩa là anh sẽ nhét vừa chừng ba trăm hũ như vậy vào mỗi một yard vuông đất. Cứ theo đó nhân lên thì một khoảnh đất rộng một mẫu vuông sẽ nhét vừa một triệu rưỡi hũ sữa chua. Và với diện tích doanh trại Bird này anh sẽ nhét vừa tất thảy là một trăm năm mươi tỷ hũ. Chẳng khác nào đi mò một con vi rút giữa sân vận động Yankee vậy. Tôi vừa tắm rửa và thay quần áo vừa lẩm nhẩm tính giữa buổi trời đêm gần sáng. Rồi tôi ngồi trên giường và chờ ngày mai đến. Giờ còn quá tối, ra đó cũng chẳng để làm gì, không khéo lại để lỡ mất cơ hội một trên một trăm năm mươi tỷ kia. Tôi ngồi tính toán xem làm thế nào để giới hạn
phạm vi tìm kiếm. Thủ phạm dĩ nhiên đã đi từ A đến B. Chúng tôi biết A là đâu. A là hiện trường nơi Carbone bị giết. Và chỉ có một số nơi nhất định có thể là B. B hoặc là một cái lỗ nào đó trên hàng rào hoặc là một trong các tòa nhà chính. Nên nếu khéo, chúng tôi có thể cắt từ hàng tỷ xuống triệu, và sẽ chỉ mất vài trăm năm thay vì cả ngàn năm để kiếm cái hũ. Lỡ một con chồn nào đó đã tha cái hũ về tổ đánh chén rồi thì đành chịu. Tôi gặp Summer tại bãi xe dành cho sĩ quan Quân cảnh. Trông cô rạng rỡ và sung sức nhưng cả hai không nói chuyện với nhau. Cũng chẳng có gì để nói, ngoại trừ cái nhiệm vụ bất khả thi mà chúng tôi đã tự đề ra. Và tôi đoán cả hai đều không muốn gây áp lực cho nhau bằng cách nhấn mạnh việc đó. Nên chúng tôi không trò chuyện. Bọn tôi chỉ chọn bừa một chiếc Humvee rồi lên đường. Lần này tôi tự lái xe, trên chặng đường dài ba phút mà mình vừa đi qua trước đó chừng ba mươi tiếng. Đồng hồ đo quãng đường báo xe đã đi được một dặm rưỡi còn la bàn chỉ về hướng Tây Nam, và rồi chúng tôi cũng đến hiện trường. Ở đó vẫn vương lại mẩu băng keo điều tra của Quân cảnh dán trên vài thân cây. Chúng tôi dừng lại cách con đường mòn mười yard rồi xuống xe. Tôi trèo lên ca pô và ngồi trên nóc xe ngay khung kính chắn gió. Nhìn về hướng Tây Bắc, rồi xoay qua về hướng Đông Nam. Trời vẫn lạnh. Có ngọn gió vừa thổi qua. Khung cảnh trông thật rộng lớn và vương một màu nâu ảm đạm. Tia nắng bình minh yếu ớt và mờ nhạt ở đằng xa. “Thủ phạm đã đi hướng nào?” tôi hỏi xuống Summer. “Hướng Đông Bắc”, Summer đáp lại. Cô có vẻ rất quả quyết. “Vì sao?” tôi hỏi. Cô trèo lên nắp xe ngồi cạnh tôi. “Vì hắn đi xe”, Cô đáp. “Vì sao?” “Vì ta không tìm thấy chiếc xe nào ở đây, và tôi không tin họ cuốc bộ”. “Vì sao?” “Vì nếu đi bộ, nơi xảy ra án mạng sẽ gần điểm họ khởi hành hơn. Phải mất chừng ba mươi phút đi bộ mới đến đây được dù từ nơi nào tới chăng nữa. Tôi không nghĩ hung thủ có thể giấu được tuýp sắt hay xà beng suốt ba mươi phút đó, mà còn đi bên cạnh nạn nhân như vậy. Nếu giấu dưới áo khoác, thì cử động của hắn sẽ cứng nhắc không tự nhiên. Carbone hẳn sẽ cảnh giác. Nên họ phải đi bằng xe. Bằng chiếc xe của chính hung thủ. Hắn giấu hung khí dưới chiếc áo khoác hay gì đó ở băng
ghế sau. Có thể cả con dao lẫn hũ sữa chua nữa”. “Bọn họ khởi hành từ điểm nào?” “Ở đâu chả được. Việc ta cần quan tâm nhất là hung thủ đã biến đi đâu sau vụ việc. Và nếu đi xe, thì hắn chẳng thể lái nó tới hàng rào biên được. Ta cứ cho là hàng rào không có lỗ rách nào to bằng cả chiếc xe. Lỗ hổng ấy có thể người chui lọt, hoặc hươu nai chui lọt, nhưng một chiếc xe bán tải hay thậm chí xe thường thì không thể”. “OK”, tôi đáp. “Nên hắn quay về doanh trại. Hắn còn đi đâu được nữa. Làm sao lái một chiếc xe như vậy đi lung tung được. Hắn men theo vết bánh xe trở về và trả xe vào bãi rồi tiếp tục làm việc như thường”. Tôi gật đầu. Rồi nhìn đường chân trời hướng Tây phía trước mình. Quay qua hướng Đông Bắc, theo đường mòn. Quay về hướng doanh trại. Quãng đường một dặm rưỡi. Tôi tính nhẩm lực bay của hũ sữa chua rỗng. Vỏ bằng nhựa nhẹ, dạng như cái ly, với mẩu nắp bằng lá nhôm bay phần phật như chiếc phanh hơi. Tôi tưởng tượng mình vừa ném một cái hũ như vậy, bằng hết sức lực. Nó sẽ bay lượn và chao đảo giữa không trung. Nó sẽ bay được chừng mười feet là xa nhất. Quãng đường một dặm rưỡi, mười feet từ vai hung thủ, về bên trái, từ ghế tài xế. Hàng triệu khả năng rút lại còn hàng ngàn. Nhưng chợt chúng lại bùng ra thành hàng tỷ. “Có tin tốt và tin xấu đây”, tôi nói. “Tôi nghĩ cô nói đúng, cô vừa giúp tôi rút gọn chín mươi chín phần trăm diện tích ta cần tìm. Có khi còn hơn. Thế là tốt”. “Nhưng?” “Nếu hung thủ dùng xe, liệu hắn có ném hũ sữa chua đi thật không?” Summer im lặng. “Hắn chỉ cần vứt nó xuống sàn xe”, tôi nói. “Hoặc quẳng ra ghế sau”. “Nếu hắn dùng xe trong bãi thì không làm vậy được”. “Có ai cấm hắn vứt nó vào thùng rác trên vỉa hè, sau khi trả xe đâu. Hoặc đem luôn về phòng mình là xong”. “Có thể. Đây là tình huống năm mươi-năm mươi rồi”. “Bảy mươi-ba mươi thì đúng hơn”, tôi nói. “Ta vẫn cứ nên tìm sếp ạ”. Tôi gật đầu. Tôi chống tay lên khung kính chắn gió lấy đà nhảy xuống đất. * * *
Vào tháng Giêng, thời tiết khá thoải mái. Tháng Hai có lẽ sẽ thuận lợi hơn. Với khí hậu Bắc bán cầu này, thực vật thường tàn vào tháng Hai. Cây cối sẽ thưa thớt hơn bây giờ. Nhưng tháng Giêng này vẫn không hề gì. Cây bụi mọc khá thấp trên mặt đất bằng phẳng màu nâu. Đó là màu lá cành mục ruỗng. Tuyết không rơi. Khung cảnh tự nhiên và lành tính. Thật là một bối cảnh thuận lợi. Tôi đoán hũ đựng sữa chua kia phải có màu trắng sáng. Hoặc màu kem. Hoặc màu hồng, để thể hiện vị dâu hay mâm xôi. Dù sao đi nữa, nó sẽ mang màu dễ nhận thấy. Không phải màu đen, chẳng hạn. Có ai bán hũ sữa chua màu đen bao giờ. Nếu nó thực sự nằm đâu đây và nếu đến đủ gần, chúng tôi sẽ thấy ngay. Chúng tôi rà soát một vòng bán kính mười feet xung quanh vành đai hiện trường. Không tìm thấy gì. Nên cả hai quay trở lại con đường mòn và đi theo hướng Đông Nam. Summer đi cách mép đường bên trái năm feet, còn tôi cách về bên trái cô năm feet nữa. Như vậy chúng tôi sẽ kiểm tra được một phạm vi mười lăm feet, với bốn con mắt quan sát khu vực năm feet giữa hai người, mà theo tôi ước tính chính là vị trí hũ sữa chua kia đáp xuống. Cả hai di chuyển chậm, với tốc độ bằng nửa bình thường. Tôi đi từng bước ngắn và xoay đầu ừ bên này qua bên kia theo mỗi bước chân. Tôi tự thấy điệu bộ ấy hơi lố bịch. Chẳng khác một con chim cánh cụt. Nhưng cách ấy hiệu quả. Chân tới tự động bước đi trên mặt đất đang mờ dán trước mắt. Tôi không còn nhìn rõ từng mẩu lá hay cành cây hay ngọn cỏ nữa. Tôi đang lờ đi những thứ bình thường phải có trên mặt đất. Tôi cảm giác nếu có một vật lạ lạc lõng nó sẽ đập vào mắt mình ngay. Chúng tôi đi suốt mười phút mà chẳng tìm thấy gì. “Ta đổi bên nhé sếp?" Summer nói. Chúng tôi đổi chỗ cho nhau rồi tiếp tục. Chẳng có gì trên đường ngoài hàng triệu những mẩu vụn thường thấy nơi rừng cáy. Doanh trại quân đội thường được giữ gìn vô cùng sạch sẽ. Việc dọn vệ sinh mỗi tuần trở thành một nghi thức tôn giáo. Bên ngoài hàng rào biên có khi anh tìm thấy đủ loại rác rưởi. Nhưng trong đây thì tuyệt đối không. Sạch bóng rác. Bọn tôi đi tiếp mười phút, thêm ba trăm yard, rồi dừng lại và đổi chỗ lần nữa. Đi lề mề giữa trời lạnh thật không thoải mái chút nào. Tôi cứ chăm chăm nhìn xuống đất như hóa rồ. Nhưng đây có thể là phương án khả thi nhất. Một dặm rưỡi là 2.640 yard. Tôi nghĩ mấy trăm yard đầu lẫn cuối đều không phải vị trí tìm kiếm tốt. Phản ứng ban đầu của hung thủ là muốn tẩu thoát thật nhanh. Khi tới gần các tòa nhà hắn biết mình
cần bình tĩnh lại và phải thủ tiêu vật chứng. Vậy nên chặng đường giữa sẽ là nơi hắn làm việc đó. Người nào có chút trí khôn trong tình huống đó sẽ đứng lại, hít thở, suy xét tình huống Hắn sẽ hạ cửa sổ xe để gió đêm phả lên mặt “Hung thủ có dính máu trên người không?” tôi hỏi, “Có một chút, chắc vậy”. Summer cất tiếng đáp, từ bên phải tôi. Tôi không nhìn cô. Mắt vẫn dán xuống đất. “Dính trên găng tay”, cô nói. “Có thể trên giày”. “Chắc ít hơn hắn tưởng”. tôi bảo. “Phải rành y khoa mới biết nạn nhân sẽ không chảy máu nhiều”. “Thì sao?” “Thì hắn sẽ không lấy xe trong bãi. Hắn tưởng sẽ vấy máu nhiều nên không muốn mạo hiểm dùng thứ phương tiện mà ai đó có thể sử dụng vào ngày hôm sau”. “Vậy như sếp nói ban nãy, nếu hắn đi xe riêng, thì đã ném hũ sữa chua vào băng ghế sau luôn rồi. Ngoài này đâu còn gì để ta tìm nữa”. Tôi gật đầu. Không đáp. Và đi tiếp. * * * Chúng tôi rà soát hết chặng đường giữa mà không có kết quả. Suốt hai ngàn yard chỉ tìm thấy những mẩu vụn lá cành mà tuyệt nhiên không hề có dấu ấn của con người. Dù có là mẩu thuốc lá, mẩu giấy, hay chai lọ gì đó chăng nữa. Nỗ lực của sĩ quan chỉ huy doanh trại thật đáng khen. Nhưng trong trường hợp này thì chán thay. Chúng tôi dừng lại khi trụ sở doanh trại hiện ra trước mắt, cách đó ba trăm yard. “Tôi muốn lần ngược trở lại”, tôi nói. “Bắt đầu ở khoảng giữa đường lần nữa”. “OK”, cô đáp. “Đằng sau, quay”. Cô quay lại rồi đổi bên cho tôi. Lần này chúng tôi quyết định đảo vị trí rà soát từng đoạn ba trăm yard. Khi trước tôi đi vùng trong, bây giờ tôi sẽ đảm nhiệm vùng ngoài, và ngược lại. Cũng chẳng có lý do gì cao siêu, chỉ là góc nhìn của chúng tôi khác nhau nên mới làm vậy. Tôi cao hơn cô cả mấy chục phân, vì thế tầm nhìn của tôi cũng xa hơn cô cả mấy chục phân. Cô ở gần mặt đất hơn tôi và cũng tự nhận mình rất tinh mắt. Hai chúng tôi đi ngược lại, cất bước thật chậm và từ tốn. Khu vực đầu tiên không có gì khả nghi. Chúng tôi đổi vị trí. Tôi đứng cách con đường mòn mười feet. Nhìn từ trái sang phải. Gió phả vào mặt chúng tôi, và mắt tôi cay sè vì hơi lạnh. Tôi đút tay vào túi quần.
Khu vực thứ hai cũng vậy. Chúng tôi lại đổi vị trí. Tôi đi cách con đường mòn năm feet, song song với mép đường. Khu vực thứ ba cũng vậy. Chúng tôi đổi chỗ lần nữa. Vừa đi tôi vừa tính nhẩm trong đầu. Đến giờ cả hai đã rà soát được 15 feet bề rộng trên một đoạn đường dài 2.340 yard. Vậy là 11.700 yard vuông, tức chỉ hơn hai phẩy tư mẫu vuông một chút. Chỉ gần hai mẫu vuông rưỡi, trên tổng số 100.000. Tỷ lệ là một trên bốn mươi ngàn. Vẫn đỡ hơn vào thị trấn bỏ một đô la mua xổ số. Nhưng cũng chẳng bao nhiêu. Chúng tôi đi tiếp. Gió trở mạnh và lạnh hơn trước. Cả hai vẫn chưa tìm được gì. Nhưng rồi tôi trông thấy nó. Nó nằm ở phía xa bên phải tôi. Có lẽ chừng hai mươi feet. Không phải hũ sữa chua. Thứ gì đó khác. Tôi suýt bỏ qua nó vì nó nằm xa hẳn ngoài phạm vi khả năng. Một vật làm bằng nhựa nhẹ không thể nào bay xa như vậy khi bị ném từ cửa sổ xe trên đường. Nên khi mắt tôi vừa lướt thấy nó thì não đã ngay lập tức suy luận và loại trừ luôn, hoàn toàn dựa theo cơ sở đã xác định sẵn. Nhưng rồi tôi khựng lại. Thuần túy do bản năng. Bởi vật ấy trông như một con rắn. Phần não bò sát của tôi thì thầm rắn kìa và trong tôi chợt nảy lên nỗi sợ nguyên thủy mà trước đây đã giúp tổ tiên tôi sinh tồn trong suốt cuộc tiến hóa. Nhưng nỗi sợ đó biến mất ngay tức khắc. Nó bị át đi ngay lập tức. Phần tri thức văn minh trong tội lên tiếng và bảo, Tháng Giêng lạnh thế này làm sao có rắn được hả ông. Tôi thở phào rồi tiến tới để nhìn cho rõ, hoàn toàn vì tò mò. Giữa mảng cỏ héo úa là một vật cong cong màu đen. Dây thắt lưng à? Hay vòi nước? Những vật làm bằng da hay vải hay cao su không thể nào rơi xuống mà lún sâu tít dưới bụi cây khô cứng như vậy được. Nó vướng tuốt trong hàng rễ cơ mà. Vậy thì nó phải là vật nặng. Phải nặng mới bay xa được như vậy nếu bị ném từ đường mòn. Vậy thì nó làm bằng kim loại. Thân đặc, chứ không rỗng. Vậy thì nó là vật thể lạ. Bởi đồ quân dụng ít có vật nào cong như vậy. Tôi bước tới. Đến sát bên. Rồi quỳ xuống. Đó là một thanh xà beng. Một thanh xà beng sơn đen, ở phần đầu dính bết lại những vệt tóc vấy máu. * * * Tôi ở lại canh tang vật còn Summer trở về lấy xe. Cô quay lại sớm hơn tôi tưởng và còn thở dốc nữa nên tôi đoán cô đã chạy nhanh hết sức có
thể. “Ta có đem theo túi đựng tang vật không?” “Đây đâu phải tang vật”, cô đáp. “Tai nạn luyện tập thì làm gì có tang vật”. “Tôi không định dùng thứ này làm chứng đau”, tôi bảo. “Tôi chỉ không muốn đụng tay vào nó, vậy thôi. Tôi không muốn vân tay của tôi dính lên đó. Biết đâu lão Willard lại bày ra gì nữa”. Cô kiểm tra sau xe. “Không có túi đựng rồi sếp ạ”, cô đáp. Tôi ngẫm nghĩ một lúc. Thông thường anh cần phải bảo quản chứng cứ hiện trường thật kỹ và cách ly chúng với những dị vật như vân tay hay tóc hay xơ vải của người khác, tránh ảnh hưởng tới quá trình điều tra. Nếu không thì anh sẽ gặp phiền phức với bên công tố. Nhưng trường hợp này phiền phức sẽ khác, bởi có dính líu tới lão Willard nữa. Tôi mà phạm sai sót nào, có khi phải ngồi tù. Cách thức, động cơ, thời điểm gây án, dấu vân tay của tôi trên hung khí. Quả là may mắn trời cho. Nếu vụ này vỡ lở, lão ta sẽ lôi tôi ra ngay lập tức. “Ta gọi chuyên viên xử lý hiện trường tới là được mà”, Summer bảo. Cô đứng ngay sau tôi. Tôi cảm thấy vậy. “Ta không thể kéo ai vào cuộc nữa”, tôi đáp. “Thậm chí tôi còn không muốn kéo cô vào nữa mà”. Cô vòng ra bên cạnh tôi rồi cúi xuống thấp. Cô lấy tay vẹt cỏ qua một bên, để nhìn cho rõ. “Đừng có đụng vào nó”, tôi nói. “Tôi có định vậy đâu sếp”, cô đáp. Cả hai cùng ngắm nghía tang vật, thật kỹ lưỡng. Một thanh xà beng đúc từ thép hình tám cạnh. Nhìn có vẻ là hàng chất lượng tốt. Trông còn mới lắm. Nó được phủ bằng thứ sơn đen mà người ta vẫn tô lên tàu thuyền hay xe cộ. Hình dáng na ná chiếc kèn saxophone. Phần thân dài chừng ba feet, hơi uốn theo hình chữ S, một đầu uốn cong hơn đầu kia, giống như chữ J vậy. Hai đầu được đập dẹp và khía thành móng để cạy đinh khỏi ván gỗ. Thiết kế của nó rất chuẩn xác, tân tiến, tối giản, và không kém phần tàn bạo. “Có vẻ ít được sử dụng”, Summer nói. “Chưa từng được sử dụng luôn”, tôi đáp. “Ít ra cũng không phải dùng trong xây dựng”. Tôi đứng dậy.
“Khỏi lấy dấu vân tay”, tôi bảo. “Chắc hung thủ đã đeo bao tay khi vung nó”. Summer đứng dậy bên cạnh tôi. “Khỏi kiểm tra mẫu máu luôn vậy”, cô nói. “Chắc là máu của Carbone rồi”. Tôi không đáp. “Ta cứ để nó ở đây được mà sếp”, Summer bảo. “Không” tôi đáp. “Ta không làm vậy được”. Tôi cúi xuống cởi giày chân phải. Tôi rút dây giày ra buộc hai đầu lại. Và thế là tôi có một thòng lọng với đường kính mười lăm inch. Tôi móc nó vào tay phải rồi rê đầu kia qua mớ cỏ úa móc vào một đầu thanh xà beng. Tôi nắm tay lại và cẩn thận nhấc thanh thép nặng kia lên khỏi đám cỏ. Tôi giơ nó lên, như một người câu cá đang khoe chiến tích vậy. “Đi thôi”, tôi bảo. Tôi đi cà nhắc từng bước ra ghế trước ngồi với thanh xà beng đung đưa trong tay và một bên giày sắp tuột. Tôi ngồi sát vào phía cần số và tựa thanh xà beng xuống sàn vừa đủ để nó khỏi va vào chân tôi khi xe chạy. “Đến đâu hả sếp?” Summer hỏi. “Nhà xác”, tôi đáp. * * * Tôi đinh ninh chuyên viên khám nghiệm và nhân viên của anh ta đã ra ngoài ăn sáng, nhưng hóa ra không phải. Bọn họ vẫn đang làm việc trong phòng. Chính chuyên viên khám nghiệm kia bắt gặp chúng tôi ngay tiền sảnh. Anh ta cầm tập hồ sơ toan đi đâu đó. Anh ta nhìn chúng tôi rồi chuyển qua vật lưu niệm mà tôi móc bằng dây giày trên tay. Mất nửa giây anh ta đã nhận ra đó là thứ gì, và nửa giây nữa để nhận ra chuyện này đẩy cả ba chúng tôi vào một tình thế khó xử. “Để lát bọn tôi quay lại”, tôi nói. Khi anh đi chỗ khác rồi ấy. “Không”, anh ta đáp. “Vào văn phòng tôi đi”. Anh ta dẫn đường. Tôi trông từ đằng sau. Anh ta nhỏ người, da ngăm, chân ngắn, nhanh nhẹn, có chuyên môn, lớn hơn tôi ít tuổi. Có vẻ là một người dễ ưa. Và chắc chắn không phải dạng khờ khạo rồi. Có tay bác sĩ quân y nào khờ đâu. Phải học đủ thứ chuyên môn phức tạp xong, anh ta mới lên được vị trí này. Và tôi đoán anh ta chẳng phải người không có nguyên tắc. Hiếm bác sĩ quân y nào không như vậy lắm, theo tôi biết. Về căn bản bọn họ vẫn là những nhà khoa học, mà nhà khoa học thì chỉ quan tâm đến chứng cứ và sự thật mà thôi. Hoặc ít nhất cũng có trí tò
mò bẩm sinh. Anh ta là dạng nào cũng được, vì trong tình huống này thái độ của anh ta đóng vai trò rất quan trọng. Hoặc anh ta nhường đường cho chúng tôi, hoặc bán đứng chúng tôi bằng một cú điện thoại. Văn phòng anh ta xây hình vuông, được bài trí đơn giản với vài chiếc bàn làm việc bằng thép và tủ đựng hồ sơ. Trên tường còn treo bằng cấp đóng khung. Vài kệ đầy những sách và sách hướng dẫn. Không có bình đựng mẫu vật. Không có chai lọ ngâm những thứ quái dị trong formol. Trông chẳng khác nào phòng một luật sư quân đội, chỉ khác ở chỗ những tấm bằng được cấp từ trường y, chứ không phải trường luật. Anh ta ngồi xuống chiếc ghế xoay. Tiện tay đặt tập hồ sơ lên bàn. Summer đóng cửa phòng lại rồi tựa người lên đó. Tôi đứng giữa phòng, trên tay vẫn đung đưa thanh xà beng. Sáu mắt nhìn nhau. Đợi xem ai chào hàng trước. “Vụ Carbone đơn thuần chỉ là tai nạn trong lúc tập luyện thôi”, tay bác sĩ mở lời, như thể vừa đẩy quân tốt lên hai ô để mở thế cờ. Tôi gật đầu. “Không phải bàn cãi rồi”, tôi đáp, như vừa đi quân tốt của mình lên. “Thật mừng vì hai ta đều đồng ý chuyện đó”, anh ta nói. Nhưng nghe giọng anh ta như muốn nói: Ai mà tin nổi cái chuyện nhảm nhí đó hả trời? Tôi nghe Summer thở phào, vì ta đã có đồng minh. Nhưng đồng minh này lại muốn tránh thật xa sự thật. Đồng minh này chỉ muốn trốn sau những thứ bình phong hào nhoáng này. Và tôi không trách anh ta. Anh ta đang trả nợ tiền học trường y của mình bằng những năm tháng phục vụ quân đội. Vậy nên anh ta cảnh giác là phải. Vậy nên chúng tôi cần tôn trọng ý muốn của vị đồng minh này. “Carbone bị ngã đập đầu”, tôi nói. “Hết chuyện. Tai nạn ngoài ý muốn đơn thuần, sự việc rất đáng tiếc”. “Nhưng?” Tôi giơ thanh xà beng lên cao một chút. “Tôi nghĩ anh ta đập đầu vào thứ này”, tôi đáp. “Những ba lần?” “Chắc đầu anh ta nẩy lên nẩy xuống. Có thể dưới lớp lá khô kia đầy những cành gãy, làm mặt đất đàn hồi, giống tấm bạt lò xo trẻ con hay chơi ấy”. Tay bác sĩ gật đầu. “Đến mùa này, đất đai dễ nẩy lắm”. “Chết người đấy”, tôi bảo.
Tôi hạ thanh xà beng xuống. Và đợi. “Sao anh lại đem nó tới đây?” tay bác sĩ hỏi. “Có thể là một vụ thiếu cẩn thận gây ra tai nạn”, tôi đáp. “Kẻ nào vứt thứ này lung tung để Carbone ngã đập đầu vào cần phải chịu phạt”. Tay bác sĩ gật đầu lần nữa. “Xả rác là một tội nghiêm trọng mà”. “Nhất là trong doanh trại này”, tôi đáp. “Anh muốn tôi làm gì?” “Chẳng làm gì hết”, tôi đáp. “Chúng tôi đến để giúp anh mà, chỉ vậy thôi. Vụ án cũng kết thúc rồi, bọn tôi nghĩ anh cũng chẳng muốn bày bừa văn phòng bằng mấy mẫu thạch cao mà anh đã đắp đâu. Mấy mẫu đắp đối chứng vết thương của nạn nhân ấy. Nên bọn tôi định ghé qua lấy chúng đặng vứt vào bãi rác giùm anh thôi”. Tay bác sĩ gật đầu lần thứ ba. “Bọn anh làm vậy cũng được”, anh ta đáp. “Đỡ mất công tôi đi lại”. Anh ta ngẫm nghĩ một