1 Kẻ Thù

phần lớn giai đoạn quân đội Hoa Kỳ đối

phần lớn giai đoạn quân đội Hoa Kỳ đối

phần lớn giai đoạn quân đội Hoa Kỳ đối đầu với vấn nạn ma túy. Tôi bỏ lỡ những năm tháng mà cơn bão cần sa Khói Tím gây sóng gió lòng người. Nhưng tôi kịp hưởng thụ giai đoạn lụi tàn, ổn định hơn của nó. Như các anh lính khác tôi thi thoảng có hút chút cần sa, có lẽ vừa đủ để nhận biết sự khác biệt giữa các loại và nguồn khác nhau, nhưng không đủ để bị đưa vào danh sách theo dõi những cá nhân tiêu thụ dài hạn. Tôi chỉ là dân chơi bán thời gian mà thôi. Tôi là người mua, chứ không phải phường bán. Nhưng khi nhận công tác Quân cảnh, tôi đã thấy rất nhiều phường bán. Tôi chứng kiến không ít vụ giao dịch. Nhiều vụ trót lọt, nhiều vụ hỏng. Chuyện này tôi tường lắm. Nhưng một điều tôi luôn biết chắc đó là những cuộc giao dịch bất thành mà có người bỏ mạng thì túi của xác chết không bao giờ Có gì. Không tiền, không hàng. Không bao giờ. Làm sao mà có những thứ ấy chứ? Nếu kẻ chết là thằng mua, thì thằng bán giữ lại hàng của mình và cuỗm luôn tiền thằng mua cao chạy xa bay. Nếu kẻ chết là thằng bán, thì thằng mua thó cả lô hàng miễn phí. Tiền

thằng bạn cũng vào túi thằng mua nốt. Đằng nào đi nữa cũng sẽ có một bên ôm mở hơi to mà chỉ tốn vài viên đạn và chút thời gian lục lọi. “Tào lao hết, Sanchez ạ”, tôi bảo. “Bằng chứng giả đấy”. “Chứ còn gì nữa. Tôi biết thừa mà”. “Cậu có nêu ý kiến không?” “Có cần phải làm thế không? Dù họ là cảnh sát dân sự, nhưng đâu phải bọn gà mờ”. “Vậy sao bọn họ lại hớn hở quá vậy?” “Vì bọn họ có một cái cớ ngon lành. Nếu không điều tra được, thì họ bỏ vụ án luôn. Làm vậy thì người xấu mặt sẽ là Brubaker, chứ không phải họ”. “Họ tìm thấy nhân chứng nào chưa?” “Không một ai”. “Có nổ súng mà”, tôi bảo. “Phải có ai nghe thấy gì đó chứ”. “Theo lời đám cảnh sát đó thì không”. “Lão Willard sẽ hóa rồ cho xem”, tôi nói. “Nhìn tổng thể thì đó là vấn đề quá xá nhỏ”. “Cậu có chứng cứ ngoại phạm không?” “Tôi á? Tôi cần sao?” “Vì lão Willard sẽ tìm cách nắm thóp cậu. Lão sẽ sử dụng bất cứ gì mà lão có thể bịa ra để ép cậu vào nếp”. Sanchez không trả lời ngay. Tiếng mạch điện hay gì đó trong đường dây điện thoại kêu lách tách làm át đi sự im lặng từ hai đầu dây. Rồi anh ta cất giọng chèn lên tiếng đó. “Tôi nghĩ là mình bất khả xâm phạm ở đây”, anh ta đáp. “Sở Cảnh sát Columbia tự đưa ra kết luận, chứ đâu phải tôi”. “Cứ cẩn thận giùm tôi”, tôi bảo. “Hẳn rồi”, anh ta nói. Tôi dập máy. Summer đang suy nghĩ. Mặt cô căng thẳng lắm và mi mắt dưới đang hấp háy liên tục. “Sao vậy?” tôi hỏi. “Sếp chắc đó là bằng chứng giả không?” Cô hỏi. “Thì phải là giả thôi”, tôi đáp. “OK”, cô bảo. “Tốt”. Cô vẫn đang đứng bên cạnh bản đồ. Cô lại đặt tay lên nó. Ngón út chỉ trại Bird, ngón trỏ chỉ thành phố Columbia. “Ta đồng ý đó là bằng chứng giả. Ta cứ chắc chắn vậy đi. Vậy bây giờ ta có một đặc điểm chung giữa hai vụ án. Ma túy và tiền

mặt trong túi Brubaker cũng giống như cành cây cắm vào hậu môn Carbone và mấy giọt sữa chua trên lưng anh ta vậy. Một thủ đoạn đánh lạc hướng tinh vi. Để che giấu động cơ thực sự. Đây chính là cách thức gây án của hung thủ. Không phải đoán nữa đâu sếp. Hai vụ này rõ ràng cùng một thủ phạm. Hắn giết Carbone ở đây rồi lái xe tới thành phố Columbia kia để giết luôn Brubaker. Rõ ràng là theo trình tự. Mọi mảnh ghép đều vừa vặn. Từ thời gian tới khoảng cách, lẫn tư duy của thủ phạm”. Tôi nhìn cô đứng đó. Bàn tay nhỏ nhắn màu nâu của cô Xòe ra như con sao biển. Móng tay Cô son bóng trong suốt. Mắt cô sáng rực. “Sao hắn lại vứt thanh xà beng đi?” tôi hỏi. “Sau khi thanh toán Carbone và trước khi hạ thủ Brubaker?” “Vì hắn ưa dùng súng hơn”, cô đáp. “Người bình thường ai chả thế. Nhưng hắn biết ở nơi đây khó dùng súng được. Ồn ào quá. Ví như có tiếng súng nổ cách trụ sở doanh trại một dặm, vào buổi chiều muộn, kiểu gì ta chả ùa tới. Nhưng tại một khu xóm bất ổn của thành phố, thì sẽ chẳng ai lấy làm lạ. Mà đúng vậy thật mà”. “Hắn làm sao biết chắc được chuyện đó chứ?” “Không hề”, Cô đáp. “Không chắc chắn hoàn toàn. Hắn lên lịch hẹn gặp, nên rõ nơi mình sẽ đến. Nhưng không chắc được nơi đó cụ thể ra làm sao. Nên tôi đoán hắn cũng muốn có vũ khí xơ cua bên mình. Nhưng thanh xà beng kia đã vấy máu lẫn tóc của Carbone rồi. Mà hắn không có thời gian lau chùi. Hắn đang vội. Mặt đất thì đông cứng. Không có bãi cỏ mềm nào để chùi qua. Nên làm sao hắn dám để nó trong xe. Có lẽ hắn lo bị cảnh sát giao thông chặn lại kiểm tra trên đường xuống phía Nam. Nên hắn vứt nó đi luôn”. Tôi gật đầu. Dù sao chăng nữa, thanh xà beng là vật bỏ được. Một khẩu súng mới là thứ vũ khí đáng tin cậy để đối đầu với một đối thủ khỏe mạnh và luôn đề phòng xung quanh. Đặc biệt là một nơi chật hẹp như ngõ hẻm trong thành phố, đối nghịch với khu vực rộng rãi tối hù nơi hắn đã hạ Carbone. Tôi ngáp. Nhắm mắt lại. Từ khu vực rộng rãi tối hà nơi hắn đã hạ Carbone. Tôi mở mắt ra. “Hắn giết Carbone ở đây”, tôi lặp lại. “Rồi lái xe tới Columbia và giết Brubaker ở kia”. “Phải”, Summer đáp. “Nhưng cô đoán hắn đang sẵn có xe”, tôi nói. “Phải”, cô nhắc lại. “Tôi đoán vậy”.

“Cô đoán hắn chở Carbone ra con đường mòn kia, nên vỡ đầu anh ta, dàn dựng hiện trường, rồi quay trở lại doanh trại. Lý luận của cô khá ổn. Và nơi ta tìm thấy thanh xà beng cũng phần nào xác nhận giả thuyết đó”. “Cảm ơn sếp”, cô nói. “Và ta đoán hắn trả xe về bãi rồi tiếp tục làm việc như thường”. “Đúng thế”, cô đáp. “Nhưng làm sao hắn trả xe rồi làm việc như thường được. Bởi vì ta đang cho rằng hắn phải lái thẳng tới Columbia, Nam Carolina ngay sau khi gây án. Để gặp Brubaker. Chặng đường ba tiếng đồng hồ. Hắn đang vội. Đâu thể phí phạm thời gian”. “Đúng thế”, cô lặp lại. “Vậy nên hắn đâu thể trả xe”, tôi bảo: “Hắn còn không động đến chân thắng nữa là khác. Thay vào đó hắn lại thẳng ra cổng chính. Đâu còn đường nào khác ra khỏi doanh trại. Hắn chạy xe ra khỏi cổng chính đó, Summer, ngay sau khi giết Carbone, vào khoảng chín hay mười giờ gì đó”. “Sếp kiểm tra sổ ra vào trại đi”, cô nói, “Có bản sao cho sếp trên bàn kìa”. * * * Chúng tôi cùng nhau kiểm tra sổ ra vào trại. Vì Chiến dịch Chính nghĩa tại Panama mà các cơ sở nội địa phải siết chặt an ninh và do đó những doanh trại kín cổng cao tường phải ghi chép lượt người ra người vào thật chi tiết bằng sổ da dày có in sẵn số trang ở góc trên bên phải. Chúng tôi có một bản sao tương đối rõ ràng cho mồng bốn tháng Giêng. Tôi tin những con số này là thực. Tôi tin chúng không bỏ sót ai. Và tôi tin rằng chúng chính xác. Quân cảnh còn nhiều khiếm khuyết, nhưng việc lộn xộn thông tin giấy tờ thì không nằm trong số đó. Summer lấy trang giấy từ tay tôi rồi dán lên tường bên cạnh tấm bản đồ. Chúng tôi cùng đứng nhìn nó. Tờ giấy đượC chia làm sáu cột. Ghi ngày, giờ vào, giờ ra, biển số xe, người lái và lý do. “Mật độ ra vào có vẻ thưa sếp nhỉ”, Summer nói. Tôi không đáp. Tôi chẳng có cơ sở nào để nói mười chín xe ra vào trại là thưa thớt. Tôi vẫn chưa quen trại Bird và cũng khá lâu rồi không nhận nhiệm vụ gác cổng ở bất cứ trại nào khác. Nhưng rõ ràng trang giấy này thưa hơn những trang tôi thấy vào hôm Giao thừa. “Toàn quân nhân từ nhà trở về trại mà thôi”, Summer nói tiếp. Tôi gật đầu. Có tới mười bốn cái tên ghi trong cột Giờ vào mà để trống

cột Giờ ra. Nghĩa là mười bốn người tới và ở lại trại. Họ trở về tiếp tục công tác, sau khi nghỉ lễ. Hay sau khi rời trại vì lý do nào khác. Tôi cũng có tên trong số đó: 4-1-90. 2302, ThT. J. Reacher, TVT. Nghĩa là Mồng bốn tháng Giêng, năm 1990, mười một giờ hai phút tối, thiếu tá J. Reacher, trở về trại. Từ Paris về, sau khi ghé qua văn phòng cũ của Garber tại Rock Creek. Biển số xe của tôi được ghi là: Đi bộ. Cô trung sĩ của tôi cũng có tên, từ nhà đến trại trực ca đêm. Cô tới nơi vào chín giờ rưỡi, đi xe gì đó mang biển số Bắc Carolina. Mười bốn xe tới, và ở lại trại. Chỉ có năm xe ra. Ba trong số năm xe đó chuyên chở lương thực. Xe tải lớn, chắc vậy. Doanh trại quân đội ngốn nhiều thức ăn lắm. Ở đây đầy những cái mồm phải cho ăn. Tôi thấy ghi ba xe tải một ngày có vẻ chính xác. Mỗi xe nhập trại vào khoảng đầu giờ chiều rồi xuất trại chừng một tiếng đồng hồ sau. Xe cuối cùng rời đi trước ba giờ chiều. Sau đó là một khoảng trống bảy tiếng đồng hồ. Xe gần cuối là của chính Vassell và Coomer, sau khi dùng xong bữa tối trong phòng ăn sĩ quan. Họ rời cổng chính vào lúc 2201. Giờ vào của họ là 1845. Lúc đó viên bảo vệ đã ghi đầy đủ biển số xe được Bộ Quốc phòng cấp cho lẫn tên và cấp bậc của hai người họ. Lý do được điền vào là: Viếng thăm thông thường. Năm xe ra. Bốn xe ngoại phạm. Còn một xe thôi. Người cuối cùng rời trại Bird mồng bốn tháng Giêng được ghi như sau: 1-4-90, 2211, TS. S. Trifonov. Ở bên cạnh chép dòng biển số xe chở khách của bang Bắc Carolina. Không lưu giờ vào trại. Cột Lý do để trống. Vậy nên một tay trung sĩ nào đó tên Trifonov đã nán lại doanh trại này cả ngày hay cả tuần rồi xuất trại vào mười giờ mười một phút đêm. Cột Lý do để trống bởi quân nhân rời trại không bắt buộc phải nêu lý do. Họ sẽ cho rằng anh ra ngoài đi ăn uống hay đi chơi đâu đó. Thường gác cổng doanh trại sẽ chất vấn Lý do người nào đó muốn vào trại, chứ không phải khi họ muốn ra ngoài. Chúng tôi kiểm tra lại một lần nữa, cho chắc ăn. Nhưng không thấy gì khác. Ngoài chiếc xe Mercury Grand Marquis mà tướng Vassell và đại tá Coomer tự lái, và loại xe dân sự nào đó của trung sĩ Trifonov kia, thì chẳng có ai ra khỏi cổng trại bằng xe hoặc đi bộ trong ngày mồng bốn tháng Giêng, ngoài ba chiếc xe tải chở lương thực đã rời đi trước buổi chiều hôm đó.

“OK”, Summer nói. “Trung sĩ Trifonov. Không biết là ai nhưng hắn chính là hung thủ”. “Phải là vậy”, tôi đáp. Tôi điện cho cổng chính. Gặp người lúc trước tôi nói chuyện, khi hỏi dò về Vassell và Coomer. Tôi nhận ra giọng anh ta. Tôi nhờ anh ta dò giúp sổ sách của mình, bắt đầu từ trang ngay kế tiếp trang mà chúng tôi đang xem xét. Nhờ anh ta kiểm tra chính xác xem một trung sĩ tên Trifonov đã trở về trại Bird vào giờ nào. Tôi nhắn anh ta xem thử khung giờ sau bốn rưỡi sáng mồng năm tháng Giêng ấy. Bên kia im lặng một hồi. Tôi nghe tiếng anh ta lật từng trang giấy dày cứng trong sổ. Anh ta làm thật chậm, rất tập trung. “Báo cáo, chính xác là năm giờ sáng ạ”, anh ta nói. “Mồng năm tháng Giêng, 0500, trung sĩ Trifonov, trở về trại”. Tôi nghe thêm một trang nữa được lật qua. “Anh ta rời trại vào lúc 2211 đêm hôm trước”. “Anh có nhớ gì về cậu ta không?” “Báo cáo, anh ta rời trại chừng mười phút sau hai vị Thiết giáp mà sếp hỏi ấy. Anh ta vội lắm, theo tôi nhớ là vậy. Còn không chờ thanh ba rê kéo hết lên nữa mà. Lao đi ngay sát bên dưới nó”. “Loại xe gì vậy?” “Báo cáo, xe Corvette ạ, tôi nghĩ vậy. Không mới. Nhưng trông cũng ổn lắm”. “Lúc cậu ta quay về thì anh còn trực không?” “Báo cáo, có ạ”. “Lúc đó thì sao?” “Báo cáo, không có gì đáng lưu ý. Tôi đương nhiên phải nói chuyện với anh ta. Anh ta phát âm như người ngoại quốc vậy”. “Cậu ta mặc đồ gì?” “Báo cáo, đồ thường phục. Áo khoác da, tôi nhớ vậy. Tôi nghĩ anh ta được nghỉ phép”. “Cậu ta có đang ở trại này không?” Tôi nghe tiếng lật trang lần nữa. Tôi tưởng tượng một ngón tay, lần thật chậm theo từng dòng ghi sau 0500 sáng mồng năm. “Báo cáo, chúng tôi vẫn chưa ghi giờ ra của anh ta”, anh ta nói. “Đến giờ vẫn chưa có. Nên chắc anh ta đang có mặt ở trại ạ”. “OK”, tôi bảo. “Cảm ơn anh”. Tôi dập máy. Summer nhìn tôi. “Hắn trở lại vào 0500”, tôi nói. “Ba tiếng rưỡi sau khi đồng hồ tay của

Brubaker ngừng”. “Chạy xe ba tiếng”, cô bảo. “Và đang ở đây”. “Hắn là ai?” Tôi điện về trụ sở chỉ huy trại. Hỏi đúng câu đó. Và họ trả lời. Tôi đặt điện thoại xuống rồi nhìn Summer. “Hắn là lính Delta”, tôi nói. “Một tay đào ngũ từ Bulgaria. Bên họ nhận hắn vào làm huấn luyện viên. Hắn tường nhiều thứ quân ta không rõ”. * * * Tôi đứng dậy khỏi bàn làm việc rồi bước tới tấm bản đồ trên tường. Tự đặt ngón tay lên cây đinh đánh dấu. Ngón út lên trại Bird, ngón trỏ lên thành phố Columbia. Cứ như tôi đang chứng minh giả thuyết của mình bằng xúc giác vậy. Chặng đường một trăm năm mươi dặm. Ba tiếng mười hai phút đi tới, rồi ba tiếng ba mươi bảy phút trở về. Tôi nhẩm tính trong đầu. Tốc độ trung bình khi đi phải là bốn mươi bảy dặm một giờ, và bốn mươi một dặm một giờ khi về. Vào đêm, đường vắng, trên chiếc xe Chevrolet Corvette. Hắn thong thả đi vẫn kịp. “Ta Có nên vời hắn đến không?” Summer hỏi, “Không” tôi nói. “Để tôi tự đi. Tôi sẽ ghé bên đó”. “Vậy có khôn ngoan không sếp?” “Chắc là không. Nhưng tôi không muốn bọn họ nghĩ rằng đã đe được tôi”. “Vậy tôi đi cùng sếp nhé”, cô nói. “OK”, tôi đáp. * * * Khi ấy là năm giờ chiều, cách thời điểm tay Trifonov kia trở về trại chính xác ba mươi sáu tiếng đồng hồ. Trời xám xịt và lạnh lẽo. Chúng tôi mang theo vũ khí phòng thân, còng tay và túi đựng vật chứng. Chúng tôi đi tới bãi xe Quân cảnh chọn một chiếc Humvee có lắp song sắt bảo vệ người ngồi băng ghế trước mà không gắn tay mở cửa xe ở hàng ghế sau. Summer lái. Cô dừng xe trước cánh cổng của trụ sở đội Delta nơi từng là trại giam. Tay gác cổng cho phép chúng tôi đi bộ vào trong. Chúng tôi đi một vòng quanh tòa nhà chính cho đến khi tôi thấy cửa dẫn vào phòng ăn sĩ quan của bọn họ. Tôi ngưng buỚC, và Summer dừng lại bên cạnh tôi. “Sếp tính vào trong đó?” cô hỏi. “Vào chút thôi”.

“Một mình sao?” Tôi gật đầu. “Rồi ta ghé qua kho vũ khí của bọn họ”. “Thế là dại lắm đó”, cô nói. “Để tôi đi cùng sếp”. “Để làm gì?” Cô ngập ngừng. “Chắc để làm chứng”. “Làm chứng việc gì?” “Bất cứ việc gì họ định làm với sếp”. Tôi cười vắn. “Hết sẩy”, tôi đáp. Tôi đẩy cửa vào trong. Nơi này chật cứng người. Đèn phòng mờ mờ và không khí đầy mùi khói thuốc. Quá sức ồn ào. Nhưng rồi họ im bặt khi nhìn thấy tôi. Tôi tiến tới. Mọi người đứng yên một chỗ. Không nhúc nhích một li. Rồi họ quay ra đối mặt với tôi. Tôi đẩy bọn họ từng người một qua một bên. Cứ thế xuyên qua đám đông bên trong phòng. Không ai nhường đường. Họ tông vai vào người tôi, hết bên trái đến bên phải. Tôi lặng lẽ tông ngược lại. Tôi cao một mét chín làm và nặng một trăm lẻ bốn cân. Gì chứ thi xô đẩy thì tôi chẳng ngán ai cả. Tôi qua được tiền sảnh thì tới quầy bar. Vẫn tình huống cũ. Mọi sự nhốn nháo tắt bật ngay lập tức. Người ta quay về phía tôi. Nhìn tôi chòng chọc. Tôi tiếp tục xô đẩy xuyên qua căn phòng. Xung quanh chẳng còn thứ âm thanh nào ngoài tiếng thở gằn và tiếng chân sột soạt trên sàn và tiếng vai thụi vào nhau. Tôi dán mắt vào bức tường đằng xa. Tay đặc nhiệm trẻ tuổi mặt râu da rám nắng nọ chợt ngáng đường tôi. Trên tay anh ta là một cốc bia. Tôi sấn tới thì anh ta ngả người về bên phải khiến hai tôi va vào nhau, làm cốc bia kia đổ hết một nửa xuống mặt sàn nhà lót vải som. “Mày làm đổ bia của tao”, anh ta nói. Tôi dừng lại. Nhìn xuống sàn. Rồi nhìn thẳng vào mắt anh ta. “Anh đi mà liếm”, tôi đáp. Chúng tôi đối mặt nhau một hồi. Rồi tôi dạt anh ta qua một bên. Sau lưng tôi chợt nóng hổi. Tôi biết anh ta đang trừng mắt nhìn theo tôi. Nhưng còn lâu tôi mới quay lại nhìn. Không đời nào. Trừ phi có tiếng ai đập chai thủy tinh vào cạnh bàn sau lưng tôi. Nhưng không có tiếng ấy. Tôi tới được bức tường ở đằng xa kia. Tôi đặt tay lên nó như vận động viên bơi lội vừa hoàn thành một vòng đua. Rồi quay ra đi ngược lại hướng vừa rồi. Chặng đường trở về cũng không khác mấy. Căn phòng vẫn im bặt. Tôi bước nhanh chân hơn một chút.

Len qua đám đông nhanh hơn chút. Và xô đẩy mạnh bạo hơn trước. Có đà thì việc này dễ hơn hẳn. Khi chỉ còn mười bước nữa là ra tới tiền sảnh thì bọn họ bắt đầu nhường đường cho tôi. Họ né ra một chút. Tôi thấy hai bên đã hiểu ý nhau. Nên ở tiền sảnh tôi bước luồn lách một chút thay vì cứ cắm đầu đi thẳng. Bọn họ cũng đáp lễ. Cuối cùng tôi cũng tới được cửa chính như một người văn minh đi qua đám đông. Tôi dừng lại trước cửa. Quay lại. Nhìn lướt qua những gương mặt trong phòng, thật chậm rãi, từng nhóm người một, đếm thầm một giây, hai giây, ba giây, bốn giây. Rồi quay lưng và bước ra trời lạnh. Summer đã biến đi đâu mất. Tôi nhìn quanh một hồi rồi thấy cô trườn ra từ cửa phục vụ cách đó mười bước. Từ lối đó cô đi thẳng vào sau quầy bar được. Tôi nhận ra cô đã trông chừng cho tôi nãy giờ. Cô nhìn tôi. “Giờ sếp hiểu cảm giác đó rồi nhé”, cô nói. “Cảm giác gì?” “Cảm giác của anh lính da đen đầu tiên. Và của nữ quân nhân đầu tiên”. * * * Cô dẫn tôi tới tòa nhà chứa máy bay cũ nay là kho vũ khí của bọn họ. Chúng tôi đi khoảng hai mươi bước qua khoảng sân xi măng lau chùi sạch sẽ rồi vào cửa phụ đặt bên cạnh. Hóa ra cô không phóng đại việc họ thừa khả năng trang bị vũ khí cho đội quân của một tay độc tài châu Phi nào đó. Ánh đèn hồ quang chói lòa lắp trên trần nhà rọi xuống một đoàn xe quân dụng và hằng hà sa số các loại vũ khí cầm tay trên đời. Có vẻ tay David Brubaker này thuyết phục các quan lớn ở Lầu Năm Góc khá thành công đó chứ. “Ở đây này sếp”, Summer nói. Cô dẫn tôi tới một chiếc lồng thép. Nó chừng mười lăm feet vuông. Có ba mặt và một nóc lắp loại rào chống bão gì đó. Hệt như cái cũi chó vậy. Cánh cửa thép của chiếc lồng để mở toang mà vẫn còn treo ổ khóa móc đó. Đằng sau cửa là chiếc bàn làm việc đứng. Sau chiếc bàn là một quân nhân mặc bộ dã chiến. Anh ta không giơ tay chào. Không buồn động nghiêm. Nhưng cũng không quay mặt đi nơi khác. Anh ta chỉ đứng trơ đó thờ ơ nhìn tôi, ấy vậy là đã quá lịch thiệp đối với một tay lính Delta rồi. “Cần gì đây?” anh ta hỏi, như nhân viên cửa tiệm đang hỏi người khách mua là tôi vậy. Đằng sau anh ta là giá vũ khí treo đủ loại súng đã qua sử

dụng. Tôi đếm được tới năm loại súng tiểu liên. Vài khẩu M16, A1 và A2. Vài khẩu súng ngắn. Có khẩu mới tinh, có khẩu đã cũ. Tất thảy đều được trưng bày gọn gàng và ngăn nắp, nhưng chẳng được nâng niu. Đối với họ chúng chỉ là công cụ mà thôi, không hơn, không kém. Trước mặt gã đứng sau bàn làm việc đặt một cuốn sổ. “Anh đây ghi chép đầy đủ số vũ khí được lấy ra lẫn hoàn trả chứ?” tôi hỏi. “Không sót một khẩu”, tay đó nói. “Quy định của doanh trại là không được mang theo vũ khí cá nhân vào nơi sinh hoạt chung mà”. Anh ta nhìn Summer. Có lẽ anh ta đã trả lời hệt những câu trên, khi cô tới đây tìm khẩu súng P7 mới của Carbone. “Trung sĩ Trifonov dùng loại súng ngắn nào?” tôi hỏi. “Trifonov à? Cậu ta ưa khẩu Steyr GB đó”. “Cho tôi xem với”. Anh ta quay đi tìm trên giá treo súng ngắn rồi trở lại cùng một khẩu Steyr GB sơn đen. Anh ta cầm khẩu súng ở phía đầu nòng. Trông có vẻ được tra dầu đầy đủ và giữ gìn cẩn thận. Tôi chuẩn bị túi đựng vật chứng rồi để anh ta bỏ nó luôn vào trong. Tôi miết khóa lại rồi nhìn khẩu súng đang nằm bên trong chiếc túi nhựa. “Đạn chín li”, Summer nói. Tôi gật đầu. Một khẩu súng tuyệt vời, nhưng đen đủ đường. Nhà chế tạo súng Steyr-Daimler-Puch kia đã thiết kế nó và suýt được quân đội Áo đặt một đơn hàng lớn, nhưng chợt bị hãng đối thủ tên Glock nhảy vào xí mất phần. Khẩu GB lúc đó chẳng khác nào đứa con rơi bị ghẻ lạnh, như Lọ Lem vậy. Và nó giống Cô Lọ Lem ở chỗ nhiều phẩm chất ưu tú. Ổ đạn của súng chứa được mười tám viên, khá nhiều, nhưng khi không có đạn thì chỉ nặng một cân, khá nhẹ. Anh có thể tháo rời nó rồi lặp lại trong vòng mười hai giây, quá nhanh. Nhưng ăn tiền chính là cơ chế xử lý khí nổ thông minh của nó. Bất cứ loại vũ khí tự động nào cũng lợi dụng khí nổ trong họng súng để tuần hoàn quá trình hất vỏ đạn cũ ra khỏi nòng và lên đạn mới. Nhưng trong thực tế thì nhiều viên đạn đã cũ hoặc yếu hoặc được lắp ráp cẩu thả. Không phải viên đạn nào cũng nổ đúng lực. Súng lắp băng đạn lỗi thời và yếu quá có khả năng không lên đạn nổi. Lắp đạn hạng nặng quá, có khi chính khẩu súng nổ tung trong tay anh. Nhưng khẩu Steyr thiết kế Tôi bấm vào nút nhả đạn trên báng súng qua lớp túi nhựa và lắc cho đến khi băng đạn rời ra. Bằng đạn vốn chứa mười tám viên, nhưng khẩu này

chỉ còn mười sáu viên. Tôi kéo thanh trượt và một viên từ trong buồng đạn rơi ra. Vậy là hắn đã mang theo mười chín viên đạn. Mười tám viên trong băng, và một viên trong buồng đạn. Hắn trở về trại với mười bảy viên. Mười sáu viên trong băng, và một viên trong buồng đạn. Suy ra hắn đã bắn hai viên đạn. “Anh có điện thoại không?” tôi hỏi. Tay đó hất hàm về một góc của nhà kho, cách chỗ đang đứng hai mươi feet. Tôi bước tới và điện cho nữ trung sĩ của mình. Nhưng cậu trai quê Louisiana lại đáp máy. Cái viên hạ sĩ ấy. Cô trực đêm kia chắc hãy còn ở căn nhà lưu động của mình, bận dỗ con đi ngủ, tắm rửa, chuẩn bị lên đường đi làm. “Gọi Sanchez ở trại Jackson giùm tôi”, tôi nói. Tôi đặt ống nghe lên tai và chờ. Một phút trôi qua. Hai phút. “Gì đó?” Sanchez cất tiếng. “Họ có tìm thấy vỏ đạn không?” tôi hỏi. “Không”, anh ta đáp. “Hung thủ đã dọn hiện trường sạch sẽ”. “Tiếc ghê. Sém nữa thì trúng số độc đắc”. “Cậu bắt được hung thủ rồi à?” “Tôi đang cầm khẩu súng của hắn trên tay đây này. Khẩu Steyr GB, đầy đặn, bắn mất hai viên”. “Hung thủ là ai vậy?” “Để tôi kể sau. Cứ cho đám cớm dân sự toát mồ hôi hột trước đã”. “Hung thủ là quân nhân giống chúng ta à?” “Đáng tiếc là như vậy”. Sanchez im lặng. “Họ có tìm thấy đầu đạn không?” tôi hỏi. “Không”, anh ta đáp. “Sao lại không? Vụ việc xảy ra trong con hẻm mà? Đầu đạn còn bay đi đâu được nữa? Có khi chúng găm vào mảng tường nào đó”. “Tìm được cũng chẳng ích gì đâu. Chúng dẹp lép rồi sao mà nhận ra được nữa”. “Đạn xuyên giáp mà”, tôi bảo. “Chúng không vỡ tung tóe đâu. Ít nhất thì ta đo được trọng lượng của chúng vậy”. “Họ chưa tìm thấy mà”. “Họ có đi tìm không?” “Tôi không biết”. “Vậy còn nhân chứng?”

“Không có”. “Xe của Brubaker thì sao?” “Không thấy”. “Sanchez ạ, chiếc xe phải có ở đó chứ. Ông ta tới điểm hẹn vào nửa đêm hay một giờ sáng gì đó, Trên một chiếc xe khá nổi bật. Bọn họ có đi tìm nó chưa?” “Bọn họ đang che giấu gì đó. Tôi cảm thấy vậy”. “Lão Willard tới chưa?” “Tôi đoán dăm ba phút nữa là xuất hiện thôi”. “Cậu nói với lão rằng vụ Brubaker xử lý xong xuôi rồi”. tôi bảo. “Rồi nói nghe đâu vụ kia không phải do tai nạn luyện tập gì. Lão sẽ vui cả ngày cho xem”. Rồi tôi dập máy. Trở lại lồng sắt. Summer đang đứng kề vai tay kiểm toán kho vũ khí đằng sau bàn làm việc đứng. Hai người đang cùng đọc lướt qua cuốn sổ ghi chép. “Sếp xem này”, cô bảo. Cô dùng hai ngón trỏ chỉ vào hai dòng ghi chép riêng biệt. Tay Trifonov kia đã đăng ký lấy khẩu súng Steyr GB chín li cá nhân kia vào bảy rưỡi tối mồng bốn tháng Giêng. Rồi trả lại kho vào lúc năm giờ bốn lăm sáng mồng năm. Nét chữ ký của hắn kềnh càng và thô kệch. Dân Bulgaria có khác. Tôi đoán hắn được dạy và sử dụng bảng chữ cái Kirin từ nhỏ và bây giờ mới tập làm quen với bảng chữ cái Latin. “Vì sao anh ta lại mượn súng vậy?” tôi hỏi. “Chúng tôi không chất vấn lý do”, tay kiểm toán đáp. “Chúng tôi chỉ lo thủ tục giấy tờ thôi”. * * * Chúng tôi rời nhà chứa máy bay để đi tới khu vực phòng riêng. Băng qua đầu một bãi xe để ngỏ. Có bốn hay năm chục xe gì đó đang đỗ. Toàn những dòng xe thông thường của quân nhân. Không nhiều xe ngoại. Có vài chiếc sedan tàn tạ sơn màu kem vani, nhưng

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 135

Đang tải bình luận...