chương Chiến công Chữ thập, hoặc là Huân chương Kháng chiến. Ông đặt một hộp các tông nhỏ trên hai đầu gối trơ xương. Nó được thắt một cái nơ đỏ phai màu. “Đây là Monsieur Lamonnier”, Joe bảo. “Bạn gia đình”. Người đàn ông cao tuổi kia nắm lấy gậy chống, rồi bắt đầu chật vật đứng dậy định bắt tay tôi, nhưng tôi phẩy tay mời ông ngồi xuống và bước tới gần. Nhìn ông có vẻ đã bảy lăm hay tám mươi gì rồi. Ông gầy, nhăn nheo và khá cao so với một người Pháp.
“Cậu là người bà ấy gọi là Reacher đây nhỉ”, ông nói. Tôi gật đầu. “Tôi đây, tôi bảo. “Nhưng tôi không nhớ ông là ai”. “Hai ta chưa gặp nhau bao giờ. Nhưng ta biết mẹ cậu từ lâu lắm rồi”. “Cảm ơn ông đã ghé qua”. “Cậu cũng vậy”, ông đáp. Được lắm, tôi nghĩ thầm. “Có gì trong hộp thế ạ?” tôi hỏi. “Những thứ bà ấy không chịu để ở đây”, ông nói. “Nhưng tôi lại thấy, trong giờ phút thế này, hai đứa con của bà ấy cần thấy chúng ở đây”. Ông đưa tôi chiếc hộp, như thể nó là một trọng trách linh thiêng. Tôi nhận nó rồi ôm dưới cánh tay. Nó không nhẹ cũng không nặng. Tôi đoán trong đó là một cuốn sách. Chắc là một quyển nhật ký bọc da. Và vài thứ khác nữa. “Joe”, tôi bảo. “Đi ăn sáng thôi nào”. * * * Chúng tôi đi nhanh mà không có chủ đích. Chúng tôi rẽ vào đường Rue St. Dominique, và đi qua hai quán cà phê ngay đầu đường Rue de l'Exposition mà không dừng lại mua gì. Chúng tôi không đợi đèn, băng qua đường Bosquet rồi tùy tiện rẽ vào đường Rue Jean Nicot. Anh Joe dừng lại ở một tiệm tabac để mua thuốc lá. Lúc ấy tôi đã cười nếu tâm trạng không chán chường đến vậy. Bởi vì con đường được đặt theo tên gã đã tìm ra nicotine. Chúng tôi cùng châm thuốc khi đi trên vỉa hè, rồi tạt ngay vào quán cà phê đầu tiên mình thấy. Chúng tôi đi bộ đủ rồi. Và đã sẵn sàng để nói chuyện với nhau. “Chú đợi anh làm gì chứ”, Joe bảo. “Đêm qua lẽ ra chú đã kịp gặp mẹ lần cuối rồi”. “Em cũng có linh cảm”, tôi nói. “Nửa đêm qua, tự nhiên em thấy lạ lắm”. “Chú đã có thể ở bên cạnh mẹ”. “Giờ thì muộn rồi”. “Nếu vậy thì anh đã yên lòng”. “Nhưng mẹ lại không thích vậy”. “Lẽ ra ta nên nán lại tuần trước”. “Mẹ đâu muốn mình nán lại đâu, Joe. Đó không phải ý mẹ. Mẹ là người chủ, có quyền riêng tư. Ngoài làm mẹ ra, mẹ cũng có cuộc đời riêng
chứ”. Anh im bặt. Bồi bàn mang cho chúng tôi cà phê, và một rổ rơm đựng bánh sừng trâu. Anh ta như đọc được tâm trạng của hai chúng tôi. Nên nhẹ nhàng đặt đồ xuống rồi quay đi. “Anh lo liệu đám tang nhé?” tôi hỏi. Joe gật đầu. “Bốn ngày tới anh sẽ tổ chức. Chú có nán lại được không?” “Không ạ”, tôi đáp. “Nhưng em sẽ quay lại”. “OK”, anh bảo. “Anh sẽ ở lại chừng một tuần. Chắc phải tìm di chúc của mẹ. Có khi phải bán nhà của mẹ luôn. Hay chú lấy nó mà ở?” Tôi lắc đầu. “Em không lấy đâu. Còn anh?” “Anh chưa nghĩ ra cách sử dụng căn nhà đó”. “Một mình đến gặp mẹ, em thấy không hay”, tôi bảo. Joe không đáp. “Cả hai anh em mình đều gặp mẹ tuần trước rồi”, tôi nói. “Ba mẹ con mình đã ngồi với nhau. Lúc ấy mọi người đều vui vé”. “Chú nghĩ thế à?” “Mọi người đều vui vẻ. Đấy mới là điều mẹ muốn. Thế nên mẹ mới gắng gượng vậy chứ. Thế nên mẹ mới rủ mình ra tiệm Polidor. Mẹ có ăn gì ở đó đâu”. Anh chỉ nhún vai. Chúng tôi uống cà phê trong im lặng. Tôi cắn thử một miếng bánh sừng trâu. Cũng không đến nỗi, nhưng lúc ấy tôi không có bụng ăn. Tôi đặt nó lại vào rổ bánh. “Đời”, Joe nói. “Thật là khó hiểu vô cùng. Một người sống sáu chục năm, làm đủ chuyện, biết đủ điều, cảm nhận đủ thứ, rồi chết. Như thể tất cả chưa từng xảy ra vậy”. “Ta sẽ luôn nhớ đến mẹ mà anh”. “Không, ta chỉ nhớ phần nào của mẹ thôi. Chỉ những