hồi chuông thứ hai. “Tôi cần gặp Franz”, tôi bảo. Bên kia vang lên tiếng tách, rồi im lặng, và tôi đợi một lúc lâu mới nghe thấy tiếng Franz. “Tôi cần nhờ cậu làm một việc”, tôi bảo. “Việc gì?” “Ở chỗ cậu đang có một thằng cha tên là Marshall thuộc Quân đoàn XII. Cậu biết hắn không?” “Không”. “Tôi cần hắn ở yên đó cho đến khi tôi tới nơi. Việc hệ trọng”. “Tôi đâu có lưu người ta ở trong trại được, trừ phi bắt giữ họ”. “Cứ bảo hắn rằng có tôi gọi từ Berlin. Chỉ vậy là đủ. Chỉ cần hắn nghĩ tôi vẫn đang ở Đức, hắn sẽ ở yên tại California”. “Vì sao?”
“Bởi vì cấp trên yêu cầu hắn làm vậy”. “Hắn có biết cậu không?” “Không biết trực tiếp”. “Thế thì tôi biết nói quái gì với hắn đây. Chẳng lẽ tôi cứ xông tới chỗ một tay mình chưa bao giờ gặp rồi bảo, Này, tin nóng hổi đây, một thằng cha mà chính anh cũng chưa từng gặp, tên là Reacher, muốn anh biết rằng hắn ta đang kẹt lại ở Berlin à”. “Vậy thì nói kheo khéo vào”, tôi bảo. “Bảo là tôi nhờ anh hỏi hắn một câu, vì chẳng cách nào tôi tự đến đó được cả”. “Câu gì?” “Hỏi hắn về hôm đám tang Kramer. Lúc ấy hắn có đang ở Arlington không? Hắn làm gì cả ngày sau đó? Tại sao hắn không lái xe chở sếp mình tới Bắc Carolina? Sếp hắn dặn những gì khi bọn họ muốn tự lái xe tới đó?” “Bốn câu rồi đấy”. “Sao cũng được, miễn là nghe như cậu đang hỏi giùm tôi vì tôi không định bay tới California”. “Tôi gọi lại cho cậu bằng cách nào đây?” Tôi nhìn xuống điện thoại, rồi đọc số của khách sạn George V. “Đây là số Pháp”, anh ta bảo. “Chứ đâu phải Đức”. “Marshall không cần biết điều này”, tôi bảo. “Tôi sẽ trở lại đây sau”. “Khi nào cậu mới tới California?” “Trong vòng bốn mươi tám tiếng tới, hy vọng vậy”. “OK”, anh ta nói. “Còn gì nữa không?”
“Có”, tôi bảo. “Gọi trại Bird giùm tôi, và nhờ trung sĩ của tôi tìm ngay hồ sơ lý lịch của chuẩn tướng Vassell và đại tả Coomer. Đặc biệt, tôi muốn biết một trong hai người đó có liên quan gì đến một nơi tên là Sperryville ở Virginia không. Sinh ra ở đó, lớn lên ở đó, có người thân, hay bất cứ mối quan hệ nào chứng minh rằng họ rành rõi các cửa tiệm bán lẻ ở đấy. Bảo cô ấy giữ kín câu trả lời cho đến khi tôi gọi”. “OK”, anh ta nhắc lại. “Vậy thôi phải không?” “Không” tôi bảo. “Đồng thời dặn cô ấy gọi cho thanh tra Clark ở Green Valley, và yêu cầu anh ta fax giùm kết quả dò hỏi của vụ đêm Giao thừa. Cô ấy sẽ hiểu ý tôi”. “Tôi mừng là có người hiểu”, Franz nói. Anh ta ngừng. Vì bận ghi chép lại. “Chỉ có vậy thôi phải không?” anh ta bảo. “Tạm thời là thế”, tôi nói. Tôi cúp máy rồi xuống sảnh, sau Summer năm phút. Cô đã đợi sẵn ở đó. Cô nhanh hơn tôi. Nhưng, cũng vì cô đâu phải cạo râu, và tôi đoán cô đâu phải gọi điện cho ai hay uống một hai tách cà phê đâu. Giống tôi, cô đã mặc lại bộ đồng phục dã chiến. Bằng cách nào đó, cô đã kịp lau chùi đôi bốt của mình, hoặc nhờ người lau chùi. Nhìn chúng bóng loáng. Chúng tôi không đủ tiền đi taxi ra sân bay. Nên chúng tôi đi bộ dưới màn đêm trước bình minh, tới quảng trường Place de l'Opéra đón xe buýt. Nó vắng hơn đợt trước, nhưng vẫn chẳng thoải mái gì. Chúng tôi ngắm nhìn thoáng qua cảnh thành phố im lìm trong giấc ngủ, rồi đi vào đại lộ vành đai Periphérique, và chậm rãi trườn qua chốn ngoại ô ảm đạm ra ngoài thành phố. * * * Chúng tôi tới sân bay Roissy-Chirles de Gaulle trước sáu giờ sáng. Ở đó đã rất nhộn nhịp. Tôi nghĩ các sân bay hoạt động, theo một khung giờ riêng nào đó. Sáu giờ sáng nơi đây còn đông đúc hơn cả lúc giữa buổi chiều, ở đâu cũng đầy người , xe cộ, xe buýt các loại tới đón khách, thá khách, du khách
mắt đỏ ngầu đi ra đi vào, vật lộn với đống hành lý của mình, Trông như thể cả thế giới này đang dịch chuyển vậy. Tấm bảng điện thông báo rằng chuyến bay của Joe đã đáp. Chúng tôi đi tới cửa ra chỗ quầy hải quan. Đứng chung với nhóm người tiễn và đón người thân. Tôi đoán Joe sẽ là một trong những hành khách ra đầu tiên. Anh sẽ xuống máy bay rất nhanh, và cũng chẳng ký gửi kiện hành lý nào. Máy bay cũng không bị trễ giờ. Chúng tôi thấy vài người lảo đảo bước ra từ chuyến bay trước. Đa số là những gia đình bị đám trẻ con làm chậm lại, hoặc khách đi riêng phải đứng chờ hành lý quá tải. Người trong đám đông háo hức xoay ra nhìn họ, rồi lại quay đi khí nhận ra không phải người quen. Tôi đứng quan sát cho qua thì giờ. Đúng là một trạng thái kỳ khôi của đám đông. Chỉ qua một cử động nhỏ mà ta thấy được sự quan tâm, và sau đó là hoàn toàn hờ hững. Chào đón, rồi làm lơ. Hơi xoay trước, rồi lại quay ngoắt đi. Nhiều khi còn chẳng có gì ngoài một thoáng chuyển động cơ thể, đổi chân trụ từ bên này sang bên kia. Những hành khách cuối cùng hòa vào đoàn người từ chuyến bay của Joe. Có những vị thương gia di chuyển rất nhanh, tay xách nách mang những va li và túi đựng áo vét. Có những phụ nữ mang giày cao gót và đeo kính đen, ăn mặc đắt tiền. Người mẫu? Diễn viên? Hay gái gọi? Có những công chức, Pháp lẫn Mỹ. Tôi chỉ cần nhìn qua cách họ ăn mặc là biết. Rất chỉn chu và nghiêm túc, đeo kính, nhưng giày, áo vét và áo khoác đều là hàng tầm tầm. Chắc là quan chức ngoại giao cấp thấp. Chuyến bay cũng khởi hành từ Thủ đô mà. Joe là người thứ mười hai trong đoàn bước ra. Anh vẫn mặc chiếc áo khoác ngoài tôi thấy lúc trước, nhưng áo vét và cà vạt khác. Trông anh bảnh tỏn lắm. Anh đi rất nhanh và tay xách theo chiếc túi đựng đồ cá nhân màu đen bằng da. Anh cao hơn mọi người xung quanh cả cái đầu. Anh bước ra khỏi cửa, đứng khựng lại, rồi đảo mắt nhìn quanh. “Trông hệt như anh”, Summer bảo. “Nhưng anh dễ thương hơn”, tôi nói. Anh nhận ra tôi ngay, vì tôi cũng cao hơn mọi người cả cái đầu. Tôi chỉ tay
tới một điểm cách xa đám đông. Anh len lỏi giữa dòng người tới chỗ đó. Chúng tôi đi vòng qua và gặp anh. “Trung úy Summer”, anh lên tiếng. “Rất vui được gặp cô”. Tôi còn không thấy anh nhìn qua bảng tên trên áo cô, nơi ghi dòng chữ Summer, Lục quân Hoa Kỳ. Hay thấy anh để ý vạch trung úy trên cổ áo của cô nữa. Chắc anh nhớ tên và cấp bậc của cô từ đợt chúng tôi nói chuyện hồi trước. “Anh ổn chứ?” tôi hỏi anh. “Anh mệt lắm”, anh đáp. “Ăn sáng không anh?” “Ta vào phố hẵng”. Dòng người đợi taxi dài cả dặm, và di chuyển rất chậm chạp. Chúng tôi bỏ qua. Tới thẳng trạm xe buýt navette kia. Chúng tôi lỡ mất một chuyến, thành ra đứng đầu hàng chờ chuyến sau. Xe tới trong khoảng mười phút. Joe tranh thủ thời gian đợi, hỏi han Summer về chuyến tham quan Paris này. Cô kể anh nghe vài chương, vài dòng, nhưng không kể về chuyện xảy ra sau nửa đêm. Tôi đứng trên vỉa hè quay lưng về đường chính, nhìn bầu trời phía Đông trên mái nhà ga. Bình minh đang lên nhanh. Sẽ lại là một ngày nắng rạng rỡ. Hôm ấy là mồng mười tháng Giêng, và đó là tiết trời đẹp nhất mà tôi từng thấy kể từ khi thập kỷ mới này bắt đầu. Chúng tôi lên xe buýt, rồi ngồi ở ba ghế liền nhau, đối diện kệ đựng hành lý. Summer ngồi giữa. Joe ngồi phía trước cô, còn tôi ngồi sau lưng. Những chiếc ghế vừa nhỏ, vừa khó ngồi. Nhựa cứng. Không có chỗ duỗi chân. Joe phải ngồi ép đầu gối lên tới tai, còn đầu thì ngả hết qua trái lại qua phải khi xe chạy. Trông anh xanh xao lắm. Tôi đoán tiếp đón anh bằng cách ném lên một chiếc xe buýt như thế này chẳng phải nồng hậu gì, nhất là sau một chuyến bay vượt Đại Tây Dương. Tôi cũng cảm thấy chút có lỗi. Nhưng dù sao, người tôi cũng to ngang anh. Tôi cũng có rắc rối với chỗ ngồi của mình. Và tôi cũng chẳng được ngủ đủ giấc. Vả lại, tôi đang rỗng túi. Mà tôi nghĩ
được di chuyển cũng đỡ hơn bắt anh phải xếp hàng đứng chờ taxi suốt cả tiếng. Mặt anh khởi sắc hơn khi chúng tôi tiến vào đại lộ vành đai Periphérique, tới khu đô thị huy hoàng được Haussmann quy hoạch. Mặt trời đã ló dạng, và thành phố lóng lánh dưới ánh nắng vàng mật ong. Các tiệm cà phê đã đông đúc, còn đường phố đã chật người đi đường, nhịp điệu ung dung, tay cầm những ổ bánh mì và báo mới. Người dân thành phố Paris không được làm việc quá ba mươi lăm tiếng một tuần, nên họ thong thả dành một trăm ba mươi ba giờ đồng hồ còn lại để không làm gì cả. Chỉ nhìn ngắm họ thôi cũng thấy thoải mái rồi. Chúng tôi lại xuống xe ở trạm quen thuộc tại quảng trường Place de l'Opéra. Sau đó đi về hướng Nam mà tuần trước chúng tôi vừa đi, qua sông trên cầu Pont de la Concorde, quẹo về hướng Tây đi dọc đường Quai d’Orsay, rồi quẹo hướng Nam đường Rapp. Chúng tôi đi tới tận đường Rue de Université, nơi có thể nhìn thấy được tháp Eiffel, thì đột nhiên Summer đứng sững lại. “Em muốn đi xem tòa tháp”, cô bảo. “Hai anh em cứ đi thăm mẹ đi”. Joe nhìn tôi. Cô ấy có biết không? Tôi gật đầu. Cô ấy biết rồi. “Cảm ơm Trung úy”, anh bảo. “Anh em tôi sẽ xem tình trạng bà ra sao. Nếu bà có sức, chắc hẹn gặp cô ở bữa trưa nhé”. “Hãy gọi em bằng số khách sạn”, cô dặn. “Em biết đường về đó chứ?” tôi hỏi. Cô quay lại rồi chỉ về hướng Bắc xuôi theo con đường. “Qua cầu rồi lên đồi, bên tay trái. Một đường thẳng”. Tôi mỉm cười. Cô cũng khá tinh đường. Joe có vẻ thấy khó hiểu. Anh nhìn theo hướng cô chỉ, và biết có gì ở nơi đó. “Khách sạn George V cơ à?” anh hỏi. “Sao lại không?” tôi đáp.
“Tiền quân đội trả chứ hả?” “Ít nhiều là vậy”, tôi bảo. “Tuyệt hảo”. Summer rướn người hôn lên má tôi, rồi bắt tay anh Joe. Chúng tôi đợi đó dưới ánh nắng nhẹ nhàng mơn trên vai, nhìn cô bước đi về hướng chân tòa tháp. Có một dòng nho nhỏ khách tham quan cũng đi theo hướng đó. Chúng tôi còn thấy cả các tiệm bán đồ lưu niệm bắt đầu bày hàng. Chúng tôi đứng đó, và ngắm nhìn họ từ xa. Nhìn Summer hóa nhỏ dần, nhỏ dần, rồi mất dạng. “Cũng dễ thương đấy”, Joe nói. “Chú đào đâu ra cô ấy vậy?” “Cô ấy cũng ở trại Bird”. “Chú đã biết chuyện gì đang xảy ra chưa?” “Gần biết rồi anh”. “Anh cũng mong chú chóng biết. Chú ở đó gần hai tuần rồi còn gì”. “Anh còn nhớ thằng cha mà em hỏi lúc trước không? Lão Willard ấy? Chắc lão phải quen biết với bên Thiết giáp chứ nhỉ?” Joe gật đầu”.Anh chắc chắn lão phải báo cáo trực tiếp với họ. Tất tần tật những thông tin lão tìm ra dâng cho bên tình báo của họ”. “Anh có nhớ được cái tên nào không?” “Bên Thiết giáp á? Không hẳn. Anh có bao giờ để ý lão Willard đâu. Việc lão làm lúc ấy hiếm người hiểu lắm. Kiểu như việc ngoài lề thôi ấy”. “Vậy anh có nghe thấy cái tên Marshall bao giờ chưa?” “Không nhớ”, Joe đáp. Tôi không nói gì. Joe quay đi và nhìn về hướng Nam con đường. Rồi quấn
chặt áo khoác và ngâng lên nhìn trời. “Đi thôi”, anh bảo. “Lần gần nhất anh gọi cho mẹ là bao giờ?” “Ngày hôm kia. Sau đến lượt chú đấy”. Chúng tôi đi xuôi con đường, bên cạnh nhau, hòa cùng nhịp ung dung của những người xung quanh. “Anh ăn sáng không?” tôi hỏi. “Ta không nên làm mẹ thức giấc”. “Cô y tá sẽ cho ta vào mà”. Có một chiếc xe leo lên vỉa hè bị bỏ lại. Có vẻ là tai nạn gì đó. Thanh cản sốc đã bẹp rúm cùng một bánh xe bị xịt. Chúng tôi bước ra lòng đường đi vòng qua nó. Rồi thấy một chiếc xe màu đen lớn, đậu chiếm chỗ trên đường cách chúng tôi chừng bốn chục yard. Chúng tôi trân mắt nhìn nó. “Un corbillard”, Joe nói. Xe tang. Chúng tôi dán mắt vào nó. Cố đoán xem nó đang đợi phía tòa nhà nào. Cố đoán khoảng cách. Đứng trực diện thế này khó mà đoán được. Tôi ngước lên viền mái nhà. Thấy một mặt tiền bằng đá vôi theo phong cách Belle Époque trước tiên, cao bảy tầng. Rồi hụp xuống tòa nhà sáu tầng giản dị hơn của mẹ tôi. Tôi đưa mắt dọc từ trên mái xuống cổng trước. Tới mặt đường. Tới chiếc xe tang. Nó đang đợi trước cửa nhà mẹ tôi. Chúng tôi vùng chạy. Có một người đàn ông đội mũ lụa đen đang đứng đợi bên vỉa hè. Cánh cổng ngoài hướng vào tòa nhà của mẹ tôi đang mở toang. Chúng tôi nhìn người đàn ông đội mũ đó, rồi bước qua cửa vào sân trong. Nhân viên lễ tân đứng
ngay cửa. Cô đang cầm một chiếc khăn tay, mắt ngấn lệ. Cô không để ý tới chúng tôi. Chúng tôi chạy tới thang máy. Đi lên lầu năm. Thang máy chạy chậm kinh khủng. Cánh cửa vào căn hộ mở toang. Tôi thấy những người đàn ông mặc áo choàng đen đứng bên trong. Có ba người cả thảy. Chúng tôi bước vào. Những người áo đen lùi lại. Họ không nói gì. Cô gái với cặp mắt long lanh bước ra từ nhà bếp. Trông cô xanh xao lắm. Cô khựng lại khi thấy chúng tôi. Rồi cô quay người, chậm rãi bước qua phòng đón chúng tôi. “Sao vậy?” anh Joe hỏi. Cô không trả lời. “Khi nào?” tôi hỏi. “Đêm qua ạ”, Cô đáp. “Bà ra đi thanh thản lắm”. Những người áo đen nhận ra chúng tôi là ai liền rục rịch ra ngoài hành lang. Họ rất lặng lẽ. Không một âm thanh nào cả. Joe lảo đảo bước tới một bước rồi ngồi xuống sofa. Tôi đứng yên. Tôi đứng yên giữa căn phòng. “Từ khi nào?” tôi hỏi lại. “Nửa đêm ạ”, Cô gái đáp. “Khi bà đang ngủ”. Tôi nhắm mắt. Một phút sau mở ra. Cô gái vẫn ở đó. Mắt cô chạm mắt tôi. “Lúc ấy cô có ở đây không?” tôi hỏi. Cô gật đầu. “Không lúc nào rời ạ”, cô đáp. “Lúc ấy có bác sĩ nào không?” “Bà đuổi ông ấy đi ạ”. “Vậy chuyện là sao?” “Bà bảo mình thấy rất ổn. Bà lên giường lúc mười một giờ. Bà ngủ một tiếng,
rồi không thở nữa”. Tôi nhìn lên trần nhà. “Bà có đau không?” “Phút cuối thì không ạ”. “Nhưng bà nói mình ổn mà”. “Đã đến lúc của bà rồi ạ. Em đã thấy nhiều người như vậy”. Tôi nhìn cô, rồi quay đi. “Hai anh có muốn gặp bà không?” cô gái hỏi. “Joe?” tôi hỏi. Anh lắc đầu. Ngồi yên trên ghế. Tôi bước vào phòng ngủ. Bên cạnh giường đã có một chiếc quan tài bằng gỗ gụ đặt trên giá đỡ lót nệm nhung. Trong quan lót lớp lụa trắng và trống rỗng. Mẹ vẫn đang nằm trên giường. Chăn gối đã được xếp gọn xung quanh. Đầu mẹ ngả êm ái trên gối, và tay để ngoài chăn đặt chéo trên ngực. Mắt mę nhắm nghiền. Khó mà nhận ra được mẹ lúc ấy. Summer từng hỏi tôi: Nhìn thấy người chết sếp có khó chịu không? Không, tôi trả lời. Sao lại không? cô hỏi tôi. Tôi không biết, tôi đáp. Tôi chưa từng thấy xác bố. Lúc bố chết tôi còn đang ở tận đâu. Bệnh tim. Một bệnh viện nào đó dành cho cựu binh đã làm hết sức có thể, nhưng ngay từ đầu đã vô vọng rồi. Tôi đã bay tới vào buổi sáng hôm đám tang rồi bay đi cùng ngày. Đám tang, tôi nghĩ thầm. Để Joe lo liệu. Tôi nán lại phòng ngủ của mẹ suốt năm phút đằng đẵng, hai mắt mở to, ráo
hoảnh. Rồi tôi bước ra phòng khách. Ngoài ấy lại chật người. Nhóm croquesmort đã trở lại. Những người hộ tang. Và ngồi bên cạnh Joe, trên sofa, là một người đàn ông cao tuổi. Ông ngồi cứng người ra đó. Bên cạnh là hai thanh gậy chống. Tóc ông mỏng, màu xám, ông mặc bộ vét đen với một cái huân chương nhỏ trên ve áo. Đỏ, trắng và xanh, chắc là Huân