chương làm bằng vàng. Tôi lật nó lại. Phía sau là dòng chữ được khắc khéo léo: Josephine Moutier. Tên mẹ. “Bà chưa bao giờ kể anh à?” Summer bảo. Tôi lắc đầu. “Một chữ cũng không. Chưa bao giờ, dù chỉ một chữ”. Rồi tôi nhìn lại trong hộp. Vậy cái đồ cắt phô mai kia là để làm quái gì? “Gọi cho anh Joe”, tôi bảo. “Báo anh ấy là chúng ta đang qua. Nhờ anh ấy dẫn ông Lamonnier trở lại”. * * * Chừng mười lăm phút sau chúng tôi quay lại căn hộ. Ông Lamonnier đã ở sẵn đó. Có khi ông chưa bao giờ rời đi. Tôi đưa chiếc hộp cho Joe rồi bảo anh
xem qua. Anh nhanh hơn tôi, vì anh thấy huân chương trước tiên. Cái tên phía sau giúp anh nhận ra. Anh lướt qua cuốn sách, rồi nhìn ông Lamonnier khi nhận ra ông trong tấm hình. Rồi anh lướt qua dòng chữ. Nhìn các tấm hình. Rồi nhìn tôi. “Mẹ có kể với em không?” anh hỏi. “Không hề. Còn anh?” “Chưa bao giờ”, anh đáp. Tôi nhìn ông Lamonnier. “Đồ cắt phô mai để làm chi vậy ạ?" Lamonnier im lặng. “Kể chúng tôi nghe đi”, tôi bảo. “Bà ấy bị phát hiện”, ông nói. “Bởi một nam sinh ở trường. Một cậu trai cùng tuổi. Một thằng nhóc khó ưa, con trai của một kẻ cộng tác với Phát xít. Nó hăm dọa và đay nghiến bà ấy”. “Thế nó làm gì?” “Lúc đầu thì chẳng làm gì cả. Điều đó làm mẹ cậu bất an vô cùng. Rồi nó đòi giở trò đồi bại với bà ấy, để đổi lại sự im lặng. Tất nhiên là mẹ cậu từ chối. Nó dọa sẽ tố giác bà ấy. Nên bà ấy giả vờ xuống nước. Bà ấy hẹn gặp nó dưới gầm cầu Pont des Invalides vào một đêm muộn. Bà ấy phải trốn khỏi nhà đêm đó, Nhưng trước đấy, bà ấy đem theo đồ cắt phô mai của mẹ mình. Bà ấy thay dây bằng một sợi dây đàn từ cây piano của bố bà ấy. Nốt G dướiC giữa thì phải. Nhiều năm sau này, cây đàn đó vẫn mất một nốt ấy. Bà ấy gặp thằng bé kia, rồi siết cổ nó”. “Mẹ tôi làm gì cơ?” Joe hỏi. “Bà ấy siết cổ nó”. “Mẹ tôi lúc ấy mới mười ba tuổi”. Lamonnier gật đầu. “Tuổi ấy, giữa con trai và con gái không có mấy sự chênh lệch đáng kể về sức mạnh”.
“Mẹ tôi đã giết người khi mới mười ba tuổi sao?” “Đó là những năm tháng dữ dội lắm”. “Chính xác thì chuyện gì đã xảy ra?” tôi hỏi. “Bà ấy dùng cái đồ cắt phô mai đó. Như kế hoạch định sẵn. Một thứ hung khí dễ dùng. Bà ấy chỉ cần một tinh thần thép và sự quyết tâm. Rồi bà ấy gắn một vật nặng vào cuộn dây cắt phô mai ban đầu, rồi buộc nó vào thắt lưng của thằng kia. Bà ấy thả nó xuống sông Seine. Thằng nhóc biến mất, còn bà ấy được an toàn. Đường ray Nhân loại được bảo toàn”. Joe lườm ông. “Ông để bà ấy làm vậy sao?” Ông Lamonnier nhún vai. Một cái nhún vai cương quyết, đặc chất người Gaulois, hệt như mẹ vậy. “Tôi không hề biết gì về điều này”, ông bảo. “Mãi sau này bà ấy mới kể cho tôi. Có lẽ phản ứng đầu tiên của tôi sẽ là ngăn cấm bà ấy làm điều đó. Nhưng chính tôi cũng chẳng dám tự tay xử lý. Tôi không có chân. Tôi đâu thể trèo xuống dưới gầm cầu, và cũng chẳng đủ vững chãi để đánh nhau. Tôi quen một người có thể được gọi là sát thủ, nhưng anh ta đang bận bịu đâu đó. Ở Bỉ, thì phải. Tôi đâu thể đợi anh ta trở về. Nên nhìn chung, có lẽ tôi vẫn sẽ để bà ấy làm điều ấy. Đó là những năm tháng khói lửa, và việc chúng tôi làm vô cùng quan trọng”. “Việc này thực sự đã xảy ra sao?” Joe hỏi. “Theo tôi biết thì có”, ông Lamonnier nói. “Cá cắn rục thắt lưng của thằng bé. Nó nổi lên vài ngày sau, cách không xa lắm ở hạ lưu sông. Chúng tôi trải qua một tuần hồi hộp. Nhưng chẳng có động tĩnh gì sau đó”. “Mẹ làm việc cho ông trong bao lâu?” tôi hỏi. “Suốt năm 1943”, ông bảo. “Bà ấy rất được việc. Nhưng gương mặt bà ấy dần trở nên quen thuộc. Ban đầu diện mạo mới mẻ ấy chính là tấm khiên bảo vệ bà ấy. Trẻ trung và thánh thiện. Ai mà nghi ngờ một gương mặt như vậy chứ? Nhưng rồi nó trở thành một gánh nặng. Bọn Phát xít dần quen mặt bà
ấy. Vả lại, một cô gái trẻ có thể có tới bao nhiêu anh trai, anh họ hay chú bác được chứ? Nên tôi phải dừng công tác của bà ấy”. “Chính ông đã tuyển mẹ sao?” “Bà ấy xung phong ấy chứ. Bà ấy cứ quấy rầy tôi suốt, cho đến khi tôi đồng ý”. “Mẹ đã giải cứu bao nhiêu người?” “Tám mươi người, ông Lamonnier đáp. “Bà ấy chính là liên lạc viên xuất sắc nhất của tôi ở Paris. Bà ấy phi thường lắm. Hình phạt nếu bị tố giác khủng khiếp vô cùng. Bà ấy giấu nỗi sợ hãi kinh hoàng nhất thế gian trong ruột gan mình, và sống với nó cả năm trời, nhưng chưa bao giờ bà ấy làm tôi thất vọng”. Chúng tôi ngồi trong im lặng. “Còn ông bắt đầu ra sao?” tôi hỏi. “Tôi là một thương binh”, ông nói. “Một trong số nhiều người như vậy. Giữ chúng tôi làm con tin là một gánh nặng về y tế với bọn chúng. Chúng tôi cũng là những công nhân vô dụng. Nên chúng bỏ mặc chúng tôi ở Paris. Nhưng tôi muốn làm gì đó. Tôi không có khả năng chiến đấu. Nhưng tôi có tài thu xếp. Đó không phải kỹ năng đòi hỏi thể chất. Tôi biết phi công ném bom được đào tạo có giá như vàng. Nên tôi quyết định giúp họ về nhà”. “Tại sao mẹ sống cả đời mà không hề nhắc đến chuyện này?” Ông Lamonnier lại nhún vai. Mệt mỏi, băn khoăn, và vẫn hoang mang sau từng ấy năm trời. “Nhiều lý do chứ, tôi đoán vậy”, ông bảo. “Nước Pháp vốn là một quốc gia nhiễu nhương vào năm 1945. Nhiều người theo phe Kháng chiến, nhiều người hợp tác với quân địch, nhiều người chẳng làm gì cả. Đa số đều muốn giữ lý lịch mình trong sạch. Và bà ấy cũng thấy hổ thẹn vì đã giết thằng kia, tôi nghĩ vậy. Việc đó đè nặng lương tâm bà ấy. Tôi an ủi bà ấy rằng đó đâu phải cái ta có thể lựa chọn. Ta không chủ động làm điều đó. Tôi bảo bà ấy
rằng đó là điều đúng đắn mà ta phải làm. Nhưng bà ấy muốn quên hết mọi chuyện đi. Tôi phải năn nỉ bà ấy mới chịu nhận huân chương”. Joe, tôi và Summer không nói gì. Chúng tôi ngồi trong im lặng. “Tôi muốn hai người con trai của bà biết chuyện này”. ông Lamonnier nói. * * * Summer và tôi trở về khách sạn. Chúng tôi không nói chuyện với nhau. Tôi có cảm giác như một người vừa phát hiện mình là con nuôi vậy. Hóa ra sếp không phải người như tôi tưởng. Suốt cuộc đời, tôi đã ngộ nhận rằng mình trở thành con người hôm nay là nhờ bố, một sĩ quan thủy quân lục chiến. Giờ tôi lại thấy như một dòng máu khác đang cuộn lên.