Hồi còn bé, chẳng bao giờ tôi vào quán bar, anh hiểu rồi đấy. Nếu vào thì tôi bị quất cho lằn mông. Anh nên nói chuyện với ông bạn tôi đây. Ông ấy già hơn tôi nhiều. Có thể ông ấy đã nghe Blake Mù chơi nhạc, có thể ông ấy chỉ không nhớ bởi bây giờ ông ấy không nhớ được nhiều. Thậm chí không nhớ đã ăn gì trong bữa sáng. Tôi nói đúng không ? Này, ông bạn già, sáng nay ông ăn gì ?" Ông già kia quay sang tựa vào bồn rửa bên cạnh bồn của tôi. Đây là một ông già xương xẩu cùng màu với chiếc đài gỗ gụ. "Tôi chẳng nhớ bữa sáng đã ăn gì," ông nói. "Thậm chí còn chẳng biết sáng tôi có ăn gì không nữa. Nhưng nghe này, có thể tôi già rồi nhưng sự thật là người già nhớ dai lắm. Không phải những chuyện mới đây, anh hiểu rồi đấy, mà là các sự kiện lâu rồi. Anh phải tưởng tượng trí nhớ của anh như một chiếc thùng cũ, anh biết chứ ? Một khi nó đã đổ đầy những thứ đồ cũ thì không có cách nào nhồi đồ mới vào. Không có cách nào hết, anh hiểu không ? Vậy nên tôi không nhớ chuyện mới nào bởi cái thùng cũ của tôi đã đổ đầy những sự kiện cũ xảy ra từ hồi trước. Anh hiểu điều tôi đang nói không ?" "Chắc chắn là cháu hiểu rồi," tôi nói. "Vậy hồi đó ông đã nghe ông ấy chơi nhạc chứ ?" "Ai kia ?" ông già hỏi lại.
Tôi nhìn hết người này tới người kia. Không biết đây có phải là chuyện thường xảy ra không. "Blake Mù ấy," tôi nói. "Ông đã bao giờ nghe ông ấy chơi chưa ?" "Chưa, tôi chưa bao giờ nghe ông ấy chơi cả," ông già đáp. "Nhưng chị tôi thì có. Tôi có bà chị tầm ngoài chín mươi, vẫn còn sống. Hồi đó bà ấy cũng hát hò chút, bà ấy đã hát nhiều lần cùng Blake Mù." "Thế hả ?" tôi nói. "Bà ấy hát cùng ông ta à ?" "Chắc chắn thế rồi", ông già xương xẩu đáp. "Bà ấy hát với bất kỳ ai đi ngang qua. Anh phải nhớ rằng thị trấn cổ này nằm ngay trên đường lớn dẫn tới Atlanta. Cái tỉnh lộ ngoài kia ngày trước còn chạy qua đây về Florida ở phía Nam cơ. Nó là tuyến đường duy nhất xuyên qua Georgia theo hướng Bắc - Nam. Tất nhiên bây giờ anh có quốc lộ chạy qua mà không phải dừng lại, các anh có máy bay, có mọi phương tiện. Giờ Margrave không còn quan trọng, chẳng ai đi qua đây nữa." "Thế nên Blake Mù đã dừng lại ở đây sao ?" tôi nhắc ông già. "Và chị gái ông đã hát cùng ông ấy à ?" "Ngày trước mọi người thường dừng chân ở đây," ông nói. "Mạn Bắc thị trấn đầy các quán bar và nhà trọ dành cho khách qua đường. Toàn bộ mảnh vườn đắt đỏ nằm giữa chỗ này và đồn chữa cháy trước đây toàn là quán bar và nhà trọ. Giờ thì tất cả đã bị phá đi, nếu không thì tự chúng cũng sụp đổ rồi. Từ lâu rồi nơi đây không còn là khu vực kinh doanh phục vụ khách qua đường nữa. Nhưng hồi ấy thị trấn đâu có như bây giờ. Lúc nào cũng có những dòng người đến và đi. Công nhân, người làm nghề thu hái, các tay trống, binh sĩ, người vô gia cư, lái xe tải, nhạc sĩ. Tất cả thường dừng lại chơi nhạc, và bà chị gái già của tôi lại có mặt ở đó hát cùng tất cả bọn họ." "Và bà ấy nhớ Blake Mù chứ ?" tôi hỏi. "Chắc chắn là nhớ rồi", ông già đáp. "Hồi ông ấy còn sống, bà cụ cho rằng ông ấy là thực thể sống vĩ đại nhất. Bảo rằng ông ấy luôn chơi thật tuyệt vời. Thực sự rất tuyệt vời." "Chuyện gì đã xảy ra với ông ấy ?" tôi hỏi. "Ông biết không ?" Ông già suy nghĩ lung lắm. Trở lại quá khứ qua ký ức đang nhạt nhòa dần của mình. Ông lắc mái đầu bạc vài lần. Rồi ông lấy khăn ướt từ chiếc hộp nóng và đặt lên mặt tôi. Bắt đầu cắt tóc cho tôi. Rốt cuộc lắc đầu dứt khoát. "Không thể nói chính xác được," ông đáp. "Ông ấy thỉnh thoảng lại đi qua đây. Tôi nhớ điều ấy khá rõ. Sau ba bốn năm gì đó thì ông ấy biến mất. Tôi ở Atlanta một thời gian, không ở đây nên không biết. Nghe nói có kẻ nào
đó giết ông ấy, có thể ở ngay Margrave này, có thể không phải. Có rắc rối lớn gì đó, khiến ông ấy bị giết chết tươi." Tôi ngồi lắng nghe chiếc đài cổ của hai ông già một lúc. Rồi lấy tờ hai mươi đô trong cuộn tiền trả họ và vội vã bước ra Phố Chính. Sải bước về hướng Bắc. Đã gần trưa, trời nắng như rang. Nóng so với tháng Chín. Chẳng thấy ai khác đi bộ. Con đường đen táp hơi nóng vào mặt tôi. Blake Mù đã cuốc bộ trên con đường này, có lẽ trong cái nóng buổi trưa. Hồi hai ông già cắt tóc còn là trẻ con, nơi đây còn là huyết mạch theo mạn Bắc đưa tới Atlanta, Chicago, công việc, hy vọng, tiền bạc. Cái nóng buổi trưa sẽ không ngăn nổi người ta đến nơi họ đang đến. Nhưng bây giờ con đường chỉ là một nhánh màu đen nhẵn nhụi chẳng dẫn tới nơi nào cả. *** Đi bộ mấy phút trong cái nóng thì tôi tới đồn cảnh sát. Tôi băng ngang bãi cỏ xanh mơn mởn, qua một bức tượng đồng khác và kéo mở cánh cửa kính nặng nề ở lối vào. Bước vào cái lạnh bên trong. Roscoe đang tựa vào quầy tiếp tân đợi tôi. Phía sau cô, trong phòng họp, Stevenson đang nói chuyện điện thoại vẻ khá gấp gáp. Roscoe mặt mũi tái nhợt và trông rất lo lắng. "Chúng tôi đã tìm thấy một thi thể nữa", cô nói. "Ở đâu ? tôi hỏi. "Lại trên khu nhà kho", nữ cảnh sát đáp. "Lần này ở phía bên kia đường, dưới giao lộ, chỗ giao lộ vồng lên", "Ai là người tìm thấy ?" tôi nói. "Finlay", cô đáp. "Sáng nay ông ấy lên đó, lần mò xung quanh, tìm kiếm thứ gì đó có thể hỗ trợ cho chúng tôi điều tra về thi thể đầu tiên. Có chút hữu ích, đúng không ? Tất cả những gì ông ấy tìm thấy là một thi thể khác." "Cô biết người này là ai không ?" tôi hỏi. Roscoe lắc đầu. "Chưa xác định được danh tính", cô nói. "Cũng như người đầu tiên". "Giờ Finlay ở đâu ?" tôi hỏi. "Đi gặp Hubble rồi", nữ cảnh sát đáp. "Ông ấy nghĩ rằng có lẽ Hubble biết gì đó về chuyện này", Tôi gật đầu. "Xác chết này nằm đó được bao lâu rồi ?" tôi hỏi. "Có lẽ hai hoặc ba ngày", Roscoe đáp. "Finlay bảo rằng có thể đêm thứ
Năm đã diễn ra án mạng làm hai người chết." Tôi gật đầu lần nữa. Hubble đã biết điều gì đó về vụ này. Nạn nhân thứ hai này là người Hubble đã cử tới gặp nhân viên điều tra đầu trọc. Hubble không thể hiểu tại sao người này lại chạy thoát được. Nhưng anh ta đã không thoát. Tôi nghe tiếng xe trong bãi đậu bên ngoài và tiếng cánh cửa kính lớn kéo mở ra. Finlay thò đầu vào. "Đến nhà xác, Roscoe," ông nói. "Cả ông nữa, Reacher." Chúng tôi theo ông trở ra với cái nóng. Tất cả vào chiếc xe không sơn phù hiệu của Roscoe. Để xe Finlay chỗ ông đã đỗ. Roscoe lái xe. Tôi ngồi băng ghế sau. Finlay ngồi ở ghế phụ phía trước, xoay người sang để có thể đồng thời nói chuyện với cả hai chúng tôi. Roscoe lướt khỏi khu đậu xe của đồn hướng về phía Nam. "Tôi không thể tìm thấy Hubble," Finlay nói. Nhìn tôi. "Ở nhà anh ta chẳng có ai. Anh ta có nói gì với ông về chuyện đi đâu đó không ?" "Không," tôi đáp. "Chẳng một từ nào. Chúng tôi hầu như không nói chuyện gì suốt hai ngày cuối tuần." Finlay hầm hừ với tôi. "Tôi cần tìm hiểu xem anh ta đã biết gì về toàn bộ chuyện này", ông bảo. "Đây là vụ nghiêm trọng và chắc chắn anh ta biết điều gì đó. Anh ta đã nói với ông điều gì về chuyện này, Reacher ?" Tôi không trả lời. Tôi không hoàn toàn chắc chắn mình đang đứng về phía nào. Có lẽ là phía Finlay, nhưng nếu Finlay bắt đầu dò la về mối liên quan của Hubble dù đó là gì, Hubble và gia đình anh ta sẽ nhận kết cục là cái chết. Chẳng có gì nghi ngờ về chuyện đó. Thế nên tôi cho là mình chỉ nên đứng trung lập và rồi chuồn khỏi đây càng sớm càng tốt. Tôi không muốn dính líu vào chuyện này. "Ông đã thử gọi vào số di động của Hubble chưa ?" tôi hỏi. Finlay ậm ừ rồi lắc đầu. "Tắt máy," ông ta đáp. "Máy tự động thông báo thế " "Anh ta có tới lấy đồng hồ chứ ?" tôi hỏi. "Lấy cái gì cơ ?" Finlay hỏi lại. "Đồng hồ đeo tay của anh ta ấy," tôi nói. "Hôm thứ Sáu anh ta để lại chiếc Rolex trị giá mười ngàn đô cho Baker. Khi Baker còng tay chúng tôi để chuyển tới Warburton. Anh ta đã quay lại lấy chứ ?" "Không," Finlay bảo. "Chẳng thấy ai nói gì cả."
"Được rồi", tôi nói. "Thế thì anh ta có công việc khẩn ở đâu đó. Một tay khốn như Hubble sẽ không đời nào quên chiếc đồng hồ trị giá mười ngàn đô, đúng không ?" "Việc khẩn gì ?" Finlay nói. "Anh ta đã kể gì cho ông về chuyện đó hả ?" "Anh ta không nói gì với tôi hết", tôi đáp. "Tôi đã bảo ông là chúng tôi hầu như không nói chuyện rồi còn gì." Finlay quắc mắt nhìn tôi từ ghế trước. "Đừng giở trò với tôi, Reacher," ông ta nói. "Cho tận tới khi tôi tóm được Hubble, tôi sẽ giữ ông và quay ông ra bã vì những điều anh ta đã nói cho ông. Và đừng có cố chứng tỏ rằng anh ta đã ngậm miệng suốt hai ngày cuối tuần, bởi những gã như anh ta không bao giờ làm thế. Tôi biết điều đó, ông cũng biết thế, vậy nên đừng giở trò với tôi, được chưa ?" Tôi chỉ nhún vai với đội trưởng thám tử. Ông ta sẽ không bắt giữ tôi lần nữa. Có lẽ tôi sẽ bắt xe buýt từ nhà xác, dù nó nằm ở đâu đi nữa. Tiếc là tôi không được ăn trưa với Roscoe. "Thế vụ này là thế nào ?" tôi hỏi Finlay. "Cũng hệt như trường hợp trước", ông ta đáp. "Trông như diễn ra đồng thời. Bị bắn chết, có lẽ cũng bằng thứ vũ khí kia. Người này không bị đá lăn khắp nơi sau khi chết nhưng có lẽ đây chỉ là một vụ." "Ông không biết người này là ai à ?" 'Tên anh ta là Sherman," Finlay đáp. "Ngoài thông tin đó thì không biết gì cả." "Nói cho tôi biết đi," tôi bảo. Tôi đang hành động trái với thói quen. Finlay ngẫm nghĩ một lúc. Tôi thấy ông quyết định trả lời. Như thể chúng tôi là đồng sự. "Đàn ông da trắng chưa xác định được danh tính," ông ta nói. "Cũng hệt như người đầu tiên, không giấy tờ tùy thân, không ví, không dấu vết nhận dạng. Nhưng người này đeo một chiếc đồng hồ bằng vàng, mặt sau khắc chữ: tặng Sherman, yêu anh, Judy. Có lẽ anh ta chừng ba mươi ba lăm gì đó. Khó nói chính xác bởi xác anh ta đã nằm đó ba đêm và bị lũ động vật nhỏ gặm mất tương đối, ông biết chứ ? Hai môi đã mất, mắt cũng thế, nhưng bàn tay phải vẫn ổn bởi nó gập lại dưới cơ thể, thế nên tôi có một số dấu vân tay tốt. Chúng tôi đã kiểm tra cách đây một giờ và sẽ có thể thu được thông tin gì đó, nếu chúng tôi gặp may." "Bị bắn bằng súng trường à ?" tôi hỏi.
Finlay gật đầu. "Trông có vẻ cùng một khẩu", ông nói. "Cỡ nòng nhỏ, đạn đầu mềm. Xem ra phát đầu tiên chỉ làm anh ta bị thương, anh ta có thể chạy. Anh ta dính thêm vài phát đạn nữa nhưng cũng cố ẩn được phía dưới quốc lộ. Anh ta ngã xuống và mất máu mà chết. Người này không bị đá lăn lộn bởi chúng không tìm thấy anh ta. Theo tôi thì chuyện diễn ra như thế !" Tôi suy nghĩ về điều này. Tôi đã cuốc bộ qua ngay chỗ ấy lúc tám giờ sáng thứ Sáu. Ngay giữa hai xác chết. "Và ông cho rằng anh ta tên là Sherman à ?" tôi hỏi. "Tên anh ta khắc trên đồng hồ đeo tay," Finlay nói. "Có thể không phải tên khắc trên đồng hồ của anh ta," tôi nói. "Có thể anh chàng đã đánh cắp đồng hồ của người khác. Có thể đã thừa kế, mua từ một hiệu đồ cũ, nhặt được trên phố". Finlay chỉ lần nữa ậm ừ. Chúng tôi phải đi được cách Margrave hơn mười dặm về phía Nam rồi. Roscoe vẫn giữ tốc độ cao theo tỉnh lộ cổ. Rồi cô giảm tốc rẽ theo một nhánh đường bên trái chạy thẳng về phía đường chân trời. 'Ta đang đi đến chỗ quái quỷ nào thế ?" tôi hỏi. "Bệnh viện hạt," Finlay nói. "Ở Yellow Springs. Thị trấn duy nhất ở phía Nam Margrave. Sắp tới rồi." Chúng tôi tiếp tục chạy xe. Yellow Springs dần hiện ra như một vết nhòe trong quầng không khí nóng phía chân trời. Ngay phía trong rìa thị trấn là bệnh viện hạt, gần như chỉ đứng một mình. Được xây dựng ở đây