2. Reacher Báo Thù

hồi vào bụng thôi, nhưng nó lại có giá

hồi vào bụng thôi, nhưng nó lại có giá

hồi vào bụng thôi, nhưng nó lại có giá trị với người trồng. Hoặc với người sở hữu. Ở đây người ta sở hữu đất không ? Hay các tập đoàn khổng lồ ? Tôi chẳng biết. Thời gian chạy xe vào thị trấn khá ngắn. Chiếc xe rì rì lướt trên lớp nhựa phẳng lì. Sau khoảng nửa dặm tôi trông thấy hai tòa nhà gọn gàng, cả hai đều mới, đều có khung cảnh xung quanh sạch sẽ. Đồn cảnh sát và đồn cứu hỏa. Chúng cùng nhau đứng độc lập, sau bãi cỏ rộng đặt một bức tượng, nằm ở rìa Bắc thị trấn. Công trình kiến trúc đầy hấp dẫn của hạt xây dựng bằng nguồn ngân sách dồi dào. Những con đường trải nhựa phẳng lì, vỉa hè lát gạch đỏ. Cách chừng ba trăm mét về phía Nam, tôi trông thấy tháp nhà thờ trắng lóa phía sau vài tòa nhà. Tôi có thể trông thấy những cột cờ, mái hiên, lớp sơn tươi mới, những bãi cỏ xanh. Mọi thứ đều được cơn mưa to làm tươi mới lại. Giờ thì đang bốc hơi và phần nào đó căng ra dưới cái nóng. Một cộng đồng thịnh vượng. Tôi cho là được xây dựng dựa trên nguồn thu nhập khá giả nhờ canh tác và mức thuế cao đánh vào những người hằng ngày từ đây đi làm tận Atlanta. Stevenson vẫn chằm chằm nhìn tôi khi chiếc xe giảm tốc độ để cua vào đồn. Lối chạy xe rộng rãi lượn theo hình bán nguyệt. Tôi đọc một tấm biển thấp làm bằng đá: Trụ sở cảnh sát Margrove. Tôi nghĩ: mình có nên lo lắng không ? Mình đã bị bắt giữ. Ở một thị trấn trước đây mình chưa bao giờ đặt chân tới. Rõ ràng vì tội giết người. Nhưng tôi biết hai điều. Thứ nhất là họ không thể chứng minh rằng chuyện gì đó đã diễn ra nếu như nó đã không

diễn ra. Và thứ hai, tôi không giết người nào cả. Không phải trong thị trấn của họ và dù sao đi nữa thì từ lâu rồi tôi cũng không làm việc ấy.

2 Chúng tôi dừng ở cửa của tòa nhà thấp, dài. Baker ra khỏi xe rồi quét ánh mắt vài lần dọc theo mặt tiền tòa nhà. Hai viên cảnh sát hỗ trợ sẵn sàng hành động. Stevenson bước vòng ra phía sau xe chúng tôi ngồi. Chiếm lĩnh một vị trí đối diện với Baker. Chĩa khẩu súng trường vào tôi. Đây là một đội ăn ý. Baker mở cánh cửa xe phía tôi ngồi. "Được rồi, đi thôi, đi," ông ta nói. Gần như thầm thì. Viên cảnh sát này nhún nhảy trên hai gót chân, mắt quét hết khu vực. Tôi chầm chậm xoay người và vặn mình bước ra khỏi xe. Chiếc còng không giúp ích được gì. Bây giờ thậm chí còn nóng hơn. Tôi bước về phía trước đợi. Hai người trong nhóm hỗ trợ bước theo sau. Phía trước mặt tôi là lối vào đồn. Có một tấm rầm đỡ bằng đá cẩm thạch khắc chữ nét: Trụ sở cảnh sát thị trấn Margrave. Phía dưới là những cánh cửa kính dày. Baker kéo một cánh. Nó mở ra dù lớp doăng cao su mút lại. Hai cảnh sát hỗ trợ đẩy tôi vào. Cánh cửa níu sập lại phía sau lưng. Bên trong lại mát. Mọi thứ đều màu trắng và mạ sáng bóng. Đèn huỳnh quang. Trông giống như một ngân hàng hay văn phòng bảo hiểm. Có thảm. Một viên thượng sĩ làm văn phòng đứng sau quầy tiếp tân dài. Nếu nhìn vào cách bài trí của nơi này, lẽ ra ông ta nên nói: thưa ngài, tôi có thể giúp gì cho ngài ? Nhưng viên thượng sĩ chẳng nói gì. Chỉ nhìn tôi. Phía sau ông ta là khoảng không gian thoáng rất rộng. Một phụ nữ tóc sẫm mặc sắc phục ngồi sau chiếc bàn thấp, rộng. Cô đang gõ bàn phím để soạn thảo hồ sơ gì đó. Giờ thì cô nhìn tôi. Tôi đứng đó, mỗi sĩ quan giữ một khuỷu tay. Stevenson đứng tựa lưng vào quầy tiếp tân. Khẩu súng trường của ông ta chĩa vào tôi. Tôi nhìn lại họ. Rồi tôi được giải về phía trái. Họ cho tôi dừng lại trước một cánh cửa. Baker mở cửa ra, tôi bị đẩy vào một căn phòng. Đó là phòng thẩm vấn. Không có cửa sổ. Một chiếc bàn trắng và ba chiếc ghế. Thảm. Camera treo trên một góc phòng. Nhiệt độ trong phòng được đặt ở mức rất lạnh. Người tôi vẫn ướt vì mưa. Tôi đứng yên để Baker thọc tay vào mọi túi. Những món đồ của tôi được xếp thành một đống nhỏ trên bàn. Một nắm tiền giấy. Vài đồng xu. Hóa đơn, vé, các mẩu giấy. Baker xem tờ báo rồi để lại vào túi tôi. Liếc chiếc

đồng hồ rồi để lại trên cổ tay tôi. Ông ta không quan tâm tới những thứ này. Mọi thứ khác được gạt vào một chiếc túi có khóa kéo. Một chiếc túi dành cho những người đút nhiều đồ trong túi quần túi áo hơn tôi. Trên chiếc túi có in một bảng màu trắng. Stevenson viết một dạng số gì đó lên bảng ấy. Baker bảo tôi ngồi xuống. Rồi tất cả bọn họ rời khỏi phòng. Stevenson cầm chiếc túi đựng đồ của tôi. Họ ra ngoài, đóng cửa lại và tôi nghe thấy tiếng khóa xoay. Nó phát ra âm thanh nặng, có vẻ được bôi dầu mỡ cẩn thận. Âm thanh của sự chính xác. Âm thanh của một ổ khóa thép lớn. Nghe có vẻ là tiếng của một ổ khóa sẽ buộc tôi phải ở trong này. *** Tôi cho là họ sẽ bỏ tôi một mình một thời gian. Mọi chuyện hay diễn ra kiểu ấy. Sự biệt lập khiến người ta rất muốn nói chuyện. Việc rất muốn nói chuyện có thể trở thanh sự thôi thúc muốn thú nhận. Một vụ bắt giữ hung bạo và sau đó là một giờ biệt lập là chiến thuật rất tốt. Nhưng tôi đã đoán sai. Họ đã không lên kế hoạch cho tôi biệt lập một tiếng. Có lẽ lỗi chiến thuật nhỏ thứ hai. Baker mở khóa cửa bước vào. Ông ta cầm một chiếc cốc nhựa đựng cà phê. Rồi viên cảnh sát này ra hiệu cho người phụ nữ mặc sắc phục vào phòng. Người tôi đã trông thấy khi ngồi ở bàn ngoài kia. Tiếng khóa cửa nặng nề kêu tách phía sau lưng cô. Cô cầm một chiếc cặp kim loại đặt lên bàn. Cô mở cặp lấy ra một thanh dài màu đen có gắn các con số bằng nhựa trắng. Nữ cảnh sát đưa thứ đó cho tôi với vẻ thông cảm hàm chứa lời xin lỗi thoáng qua rất nhanh mà các y tá nha khoa hay sử dụng. Tôi dùng hai bàn tay bị còng nhận lấy. Nheo mắt nhìn xuống để chắc chắn rằng nó được dựng đúng chiều và đặt dưới cằm mình. Nữ cảnh sát lấy một chiếc máy ảnh xấu xí từ trong cặp ra đặt đối diện với tôi. Cô tì hai khuỷu tay lên bàn để nắm chắc lấy nó. Ngồi ngả về phía trước. Bầu ngực cô tì lên cạnh bàn. Đây là một phụ nữ đẹp. Mái tóc sẫm màu, đôi mắt tuyệt vời. Tôi chằm chằm nhìn cô và mỉm cười. Máy ảnh kêu tách rồi chớp đèn. Trước khi viên cảnh sát nữ yêu cầu thì tôi đã xoay sang một bên để chụp nghiêng, cầm thanh số dài sát vào vai và nhìn thẳng vào tường. Máy ảnh một lần nữa kêu tách rồi chớp đèn. Tôi xoay lại chìa tay đưa thanh số ra. Đưa bằng cả hai tay, vì bị còng. Nữ cảnh sát nhận lấy kèm theo một nụ cười mím môi như muốn nói: đúng rồi, thế này chẳng thoải mái gì nhưng cần thiết. Như y tá nha khoa vậy. Rồi cô lấy ra bộ dụng cụ lấy dấu vân tay. Một tấm bảng mười ô gọn

gàng, đã đánh số sẵn. Hai ô lấy vân ngón cái luôn quá nhỏ. Mặt bên kia có hai ô vuông để lấy dấu lòng bàn tay. Chiếc còng tay khiến công việc trở nên khó khăn. Baker không đề nghị bỏ còng ra. Nữ cảnh sát chấm các ngón tay tôi vào mực. Ngón tay cô êm và mát. Không đeo nhẫn cưới. Sau đó cô đưa tôi một miếng khăn giấy. Mực dễ dàng được lau sạch. Loại mực mới nào đó tôi chưa bao giờ thấy. Nữ cảnh sát lấy phim trong máy ảnh ra, đặt cuộn phim cùng tấm bảng in dấu vân tay lên bàn. Cô cho máy ảnh vào chỗ cũ trong cặp. Baker vỗ vào cửa. Khóa lại kêu tách lần nữa. Người phụ nữ cầm các thứ đồ của mình lên. Chẳng ai nói lời nào. Rồi cô rời khỏi phòng. Baker ở lại cùng tôi. Ông ta đóng cửa, nó lại kêu tách cùng âm thanh của ổ khóa được tra dầu mỡ cẩn thận. Rồi ông ta tựa vào cửa nhìn tôi. "Sếp tôi đang tới," ông ta nói. "Ông sẽ phải nói chuyện với ông ấy. Ở đây chúng tôi có một vụ việc. Phải làm rõ." Tôi không đáp gì. Nói chuyện với tôi sẽ chẳng làm rõ vụ việc cho ai cả. Nhưng tay này đang hành xử một cách có văn hóa. Có sự tôn trọng. Vậy nên tôi muốn thử ông ta. Chìa hai bàn tay về phía ông ta. Một đề nghị mở còng nhưng không phát thành lời. Baker đứng yên một lát rồi lấy chìa khóa ra mở còng. Móc nó trở lại thắt lưng. Rồi nhìn tôi. Tôi nhìn lại và buồng tay xuống. Không thở phào vẻ biết ơn. Không rầu rĩ xoa hai cổ tay. Tôi không muốn thiết lập quan hệ với tay này. Nhưng tôi vẫn cất tiếng. "Được rồi' tôi nói. "Ta hãy đi gặp sếp của ông." Đây là lần đầu tiên tôi mở miệng kể từ lúc gọi đồ ăn sáng. Giờ thì Baker là người trông có vẻ biết ơn. Ông ta vỗi vào cửa hai lần và bên ngoài có người mở khóa. Baker mở cửa rồi ra hiệu cho tôi bước ra. Stevenson đang đứng đọi, lưng quay về khoảng không gian thoáng. Khẩu súng trường không còn. Đội hỗ trợ đã đi khỏi. Mọi thứ đang lắng xuống. Hai người tiến lại, mỗi người một bên. Baker khẽ nắm lấy khuỷu tay tôi. Chúng tôi bước theo lề của khoảng không gian thoáng tới một cánh cửa ở phía sau tòa nhà. Stevenson đẩy cửa mở, ba người bước qua cửa vào một phòng lớn. Khắp nơi có rất nhiều đồ bằng gỗ hồng sắc. Một lão béo ngồi ở chiếc bàn lớn bằng gỗ hồng sắc. Phía sau là vài lá cờ lớn. Bên trái có một lá cờ Sao và Sọc tua vàng, tôi đoán bên phải là cờ của bang Georgia. Trên phần tường giữa hai lá cờ là một chiếc đồng hồ. Đây là chiếc đống hồ tròn cổ loại lớn có khung làm bằng gỗ gụ. Trông như thể lớp mạ bên ngoài đã được vài thập kỷ rồi. Tôi cho nó hẳn

phải là chiếc đồng hồ từ trụ sở đồn cũ mà họ đã ủi đi để xây dựng tòa nhà mới này. Tôi nghĩ viên kiến trúc sư dùng nó để mang lại cảm giác cổ kính cho tòa nhà mới. Đồng hồ chỉ gần 12 giờ 30. Lão béo ở chiếc bàn lớn nhìn tôi khi tôi bị đẩy về phía lão. Tôi thấy lão nhìn vẻ đờ đẫn, như thể đang cố gắng nhớ ra tôi. Lão này nhìn lần nữa, kỹ hơn. Rồi lão khinh bỉ nhìn tôi và nói bằng giọng hổn hển khò khè mà nếu không bị hai lá phổi ốm yếu bóp nghẹt lại thì sẽ tạo thành tiếng hét "Đặt mông xuống cái ghế kia và câm cái mồm bẩn thỉu lại," lão nói. Lão béo này quả khiến người ta phải ngạc nhiên. Lão trông như một tên khốn kiếp thực sự. Trái ngược với những gì tôi đã trông thấy cho tới giờ. Baker và đội thi hành lệnh bắt giữ của ông ta quả đúng chất nghề. Chuyên nghiệp và hiệu quả. Người phụ nữ lấy dấu vân tay thật tử tế. Nhưng lão đồn trưởng béo ị này gây lãng phí không gian. Mái tóc mỏng bẩn thỉu, vẫn đổ mồ hôi dù không khí lạnh buốt. Lớp da đỏ và xám lốm đốm trên một cơ thể nhẽo nhợt vượt quá mức cân nặng thông thường. Huyết áp cao vọt. Các mao mạch xơ cứng. Lão trông chẳng có vẻ gì là người có năng lực. 'Tao là Morrison," lão khò khè. Cứ như tôi quan tâm lắm ấy. 'Tao là trưởng đồn cảnh sát Margrave này. Còn mày là một thằng sát nhân khốn kiếp từ nơi khác tới. Mày đã đến thị trấn này của tao, mày đã làm chuyện mất dạy ngay trên đất riêng của ông Kliner. Thế nên bây giờ mày sẽ phải thú nhận toàn bộ trước đội trưởng đội thám tử của tao." Lão ngừng lại và ngước nhìn tôi. Như vẫn đang cố gắng nhớ ra tôi. Hoặc như đang chờ đợi phản ứng. Morrison chẳng nhận được gì. Thế nên tay đồn trưởng chỉ thẳng một ngón tay mập mạp vào tôi. "Rồi mày sẽ vào tù," lão nói. "Và rồi mày sẽ lên ghế điện. Và rồi tao sẽ đổ rác lên cái mồ nhỏ bẩn thỉu của mày được xây bằng tiền cứu tế." Lão béo chật vật lôi tấm thân nặng nề khỏi ghế rồi rời mắt khỏi tôi. "Tao sẽ tự xử lý việc này," lão nói. "Nhưng tao là người bận rộn." Rồi từ sau bàn, Morrison lạch bạch bước ra. Tôi đứng giữa chiếc bàn của lão và cửa chính. Khi lê bước ngang qua tôi, tay đồn trưởng dừng lại. Cái mũi to của lão ngang với cúc giữa áo khoác của tôi. Lão vẫn ngước nhìn tôi như đang không hiểu được điều gì đó. "Tao từng trông thấy mày rồi," lão nói. "Ở đâu nhỉ ?" Lão liếc Baker rồi tới Stevenson. Kiểu như tay này mong họ ghi nhớ lão đang nói gì và nói khi nào. "Trước đây tôi từng trông thấy thằng này rồi", lão bảo họ.

*** Lão béo đóng sầm cửa phòng, tôi bị bỏ lại cùng hai cảnh sát chờ cho tới khi đội trưởng đội thám tử bước vào. Một người da đen cao lớn, tuy không già nhưng tóc đang chuyển màu và hói dần. Thế đã đủ tạo cho ông ta nét quý tộc. Nhanh nhẹn và tự tin. Ăn mặc nghiêm chỉnh, một bộ com lê đã lỗi mốt may bằng vải tuýt. Áo gi lê giả da. Giày đánh bóng. Người này có dáng vẻ nên có ở một người chỉ huy. Ông ta ra hiệu cho Baker và Stevenson rời khỏi phòng. Đóng cửa lại sau khi đi ra. Ngồi xuống bàn và vẫy tay ra hiệu cho tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Đội trưởng thám tử lạch cạch mở ngăn kéo lấy ra một chiếc đài ghi băng. Nâng nó lên cao, cách người hẳn một tầm tay để kéo đám dây ra, cắm điện nguồn và micro. Cho băng vào. Bấm nút ghi rồi dùng móng tay gõ vào chiếc micro. Dừng băng rồi tua lại. Bấm nút chạy. Nghe tiếng vang mà móng tay mình tạo ra. Gật đầu. Tua lại lần nữa và bấm nút ghi. Tôi ngồi quan sát ông ta. Trong một lúc, chỉ có sự yên lặng. Chỉ có tiếng rì rì như mơ hồ, bầu không khí, những bóng đèn, chiếc máy tính. Hoặc chiếc đài chầm chậm chạy. Tôi có thể nghe thấy tiếng tích tắc khoan thai của chiếc đồng hồ cổ. Nó tạo nên một âm thanh kiên nhẫn, cứ như nó sẽ tích tắc mãi mãi, cho dù tôi chọn làm gì đi nữa. Rồi người đàn ông ngồi thẳng lại trên ghế và chăm chăm nhìn tôi. Chụm các đầu ngón tay lại với nhau như những người dáng cao và lịch thiệp có thể làm. "Được rồi !", ông ta nói. "Chúng ta có một vài câu hỏi, phải không ?" Chất giọng trầm. Nghe như tiếng ầm ầm. Không phải giọng miền Nam. Người đàn ông này có dáng vẻ và chất giọng như một chủ ngân hàng ở Boston, trừ một điều ông ta là người da đen. "Tôi là Finlay," ông ta nói. "Cấp bậc đại úy. Tôi là người đứng đầu đội thám tử của đồn này. Tôi biết ông đã được thông báo về các quyền của mình. Ông vẫn chưa xác nhận rằng ông đã hiểu các quyền đó. Trước khi tiếp tục, ta phải thực hiện điều sơ đẳng ấy đã." Chẳng phải một tay chủ ngân hàng ở Boston. Giống một tay tốt nghiệp Harvard hơn. "Tôi hiểu các quyền của mình", tôi lên tiếng. Finlay gật đầu.

"Tốt !" ông ta nói. "Tôi vui về điều đó. Luật sư của ông đâu ?" "Tôi không cần luật sư," tôi đáp. "Ông bị cáo buộc giết người", viên cảnh sát nói. "Ông cần luật sư. Ông biết là chúng tôi sẽ bố trí cho một luật sư. Không phải trả tiền. Ông muốn chúng tôi cung cấp luật sư miễn phí không ?" "Không, tôi không cần luật sư", tôi trả lời. Đội trưởng thám tử mang tên Finlay chăm chăm nhìn tôi qua các kẽ ngón tay một lúc lâu. "Được rồi !", ông ta nói. "Nhưng ông sẽ phải ký vào một bản tuyên bố. Ông biết đấy, tuyên bố rằng ông đã được khuyến cáo là ông được quyền có luật sư, chúng tôi sẽ cung cấp một luật sư mà ông không phải chịu chi phí nào, nhưng ông tuyệt đối không cần luật sư." "Được," tôi nói. Finlay lấy một mẫu khai ở ngăn kéo khác, xem đồng hồ đeo tay để điền ngày giờ. Ông ta đẩy mẫu ấy qua bàn cho tôi. Một dấu cộng lớn in ở dòng tôi cần ký. Rồi đẩy cho tôi một cây bút. Tôi ký và đẩy tờ giấy lại. Đội trưởng thám tử xem rồi bỏ vào một kẹp hồ sơ làm bằng da mềm. "Tôi không đọc được chữ ký này", ông ta bảo. "Thế nên để có thể ghi âm, chúng ta sẽ bắt đầu với tên, địa chỉ và ngày, tháng, năm sinh của ông." Lại im lặng. Tôi nhìn viên cảnh sát. Đây là một tay ương bướng. Có lẽ chừng bốn mươi lăm tuổi. Nếu bốn mươi lăm tuổi và là người da đen thì sẽ không làm đội trưởng thám tử ở bang Georgia, trừ trường hợp đó là kẻ ương bướng. Không có cơ hội nào lay chuyển được tay này. Tôi hít một hơi. "Tôi là Jack Reacher" tôi nói. "Không có tên đệm. Không địa chỉ." Viên cảnh sát ghi lại. Không có nhiều để ghi. Tôi đọc cho ông ta ngày tháng năm sinh của mình. "Được rồi, ông Reacher," Finlay nói. "Như tôi đã nói, chúng tôi có rất nhiều câu hỏi. Tôi đã xem qua tư trang của ông. Ông không mang theo thứ giấy tờ tùy thân nào. Không bằng lái xe, không thẻ tín dụng, không gì hết. Ông đã nói rằng ông không có địa chỉ. Thế nên tôi tự hỏi tay này là kẻ thế nào đây ?" Đội trưởng thám tử chẳng chờ được bất kỳ bình luận nào từ tôi về những lời đó, dù là kiểu gì. "Ai là người cạo trọc đầu ?" Finlay hỏi tôi. Tôi không trả lời. Tôi đang nhìn chiếc đồng hồ lớn, chờ kim phút dịch chuyển.

"Hãy nói cho tôi nghe những điều đã xảy ra," ông ta nói. Tôi không biết những gì đã xảy ra. Không biết gì cả. Chuyện gì đó đã xảy ra với ai đó, nhưng không phải với tôi. Tôi ngồi yên. Không trả lời. "Pluribus là gì ?" Finlay hỏi. Tôi nhìn ông ta và nhún vai. "Khẩu hiệu của nước Mỹ à ?" tôi nói. "E Pluribus Unum ấy ? Được Quốc hội lục địa lần thứ hai thông qua năm 1776, đúng không ?" (Cuộc họp gồm đại diện của 13 thuộc địa Bắc Mỹ, quyết định nhiều vấn đề tiến tới tuyên bố độc lập và thành lập liên bang Hoa Kỳ). Finlay chỉ hầm hừ với tôi. Tôi cứ nhìn thẳng vào ông ta. Tôi cho rằng đây là kiểu người có thể trả lời câu hỏi. "Chuyện này là thế nào ?" tôi hỏi. Lại im lặng. Đến lượt ông ta nhìn tôi. Tôi có thể thấy ông ta đang nghĩ có trả lời hay không, nếu có thì trả lời thế nào. "Chuyện này là thế nào ?" tôi hỏi Finlay lần nữa. Ông ta ngồi thẳng lên và chụm các đầu ngón tay vào nhau. "Ông biết chuyện này thế nào", viên cảnh sát cất tiếng. "Án mạng. Với một số tình tiết rất kinh khủng. Sáng nay người ta phát hiện ra nạn nhân ở khu nhà kho của ông Kliner. Phía Bắc tỉnh lộ, ở mạn giao với quốc lộ. Nhân chứng khai nhìn thấy một người đàn ông từ nơi đó bỏ đi. Sau tám giờ sáng nay một chút. Mô tả đó là người da trắng, rất cao, mặc áo choàng dài màu đen, tóc sáng màu, không đội mũ, không mang hành lý." Lại im lặng. Tôi là đàn ông da trắng. Tôi rất cao. Tóc tôi sáng màu. Tôi đang ngồi đây, mặc một chiếc áo choàng dài màu đen. Tôi không có mũ hay túi gì. Tôi đã cuốc bộ trên tỉnh lộ gần bốn tiếng đồng hồ sáng nay. Từ lúc tám giờ đến tầm 11 giờ 45. "Tỉnh lộ dài bao nhiêu ?" tôi hỏi. "Từ đường quốc lộ tới tận đây ấy ?" Finlay nghĩ một chút. "Tôi nghĩ có lẽ chừng mười bốn dặm", ông ta đáp. "Được rồi," tôi nói. 'Tôi đã đi bộ suốt quãng đường dẫn từ quốc lộ vào thị trấn. Có lẽ chừng mười bốn dặm. Chắc chắn rất nhiều người đã trông thấy tôi. Thế không có nghĩa là tôi đã làm điều gì đó với ai đó." Đội trưởng thám tử không có phản ứng gì. Tôi đâm ra tò mò về vụ này. "Đó đúng là khu vực của ông không ?" tôi hỏi. "Khu ở tận trên chỗ quốc lộ ấy ?" "Đúng đấy !", ông ta đáp. "Vấn đề khu vực có thẩm quyền thì rõ rồi.

Thế nên không có cửa thoát cho ông đâu, ông Reacher. Địa phận của thị trấn kéo dài mười bốn dặm, lên tận tới quốc lộ. Khu nhà kho ấy thuộc phạm vi thẩm quyền của tôi, không có gì phải nghi ngờ chuyện ấy." Viên cảnh sát chờ đợi. Tôi gật đầu. Ông ta tiếp tục. "Kliner đã xây dựng khu đó cách đây năm năm", ông ta nói. "Ông có nghe nói về ông ta chứ ?" Tôi lắc đầu. "Làm thế nào mà tôi nghe nói về ông ta được ?" tôi đáp. 'Trước đây tôi chưa từng tới nơi này". "Ông ấy là nhân vật quan trọng ở đây", Finlay nói. "Hoạt động của ông ấy ở đây mang lại cho chúng tôi nhiều khoản thu thuế, đem lại cho chúng tôi nhiều điều tốt đẹp. Rất nhiều ngân sách và rất nhiều lợi ích cho thị trấn mà chẳng có chút lộn xộn gì, bởi khu nhà kho cách khá xa, phải không ? Thế nên chúng tôi cố gắng quan tâm tới nó giúp ông ấy. Nhưng giờ thì nó đã trở thành hiện trường án mạng, và ông phải giải thích." Tay này đang thực hiện công việc của mình nhưng ông ta lại đang làm lãng phí thời gian của tôi. "Được rồi, ông Finlay", tôi nói. 'Tôi sẽ tường trình mọi việc nhỏ nhặt nhất mình đã làm kể từ khi đặt chân vào ranh giới cái thị trấn chết bầm của ông cho tới khi tôi bị lôi tới đây trong lúc đang ăn bữa sáng chết tiệt của tôi. Nếu ông có thể khai thác được bất kỳ điều gì từ đó, tôi sẽ thết ông một bữa ra trò. Bởi vì tất cả những gì tôi đã làm là đưa chân nọ lên trước chân kia suốt gần bốn tiếng đồng hồ trong con mưa như trút suốt quãng đường mười bốn dặm quý giá của các ông." Đó là bài nói dài nhất tôi thực hiện trong sáu tháng qua. Finlay ngồi nhìn tôi. Tôi quan sát ông ta đánh vật với tình thế tiến thoái lưỡng nan rất căn bản mà bất kỳ thám tử nào cũng gặp phải. Ông đội trưởng thám tử đang nghĩ bụng có lẽ tôi không phải kẻ ông đang truy tìm. Nhưng tôi lại đang ngồi đây, ngay trước mặt Finlay. Vậy một thám tử nên làm gì ? Tôi để cho ông ta cân nhắc, cố gắng xác định đúng thời điểm với một bước đi đúng hướng. Tôi định nói đại loại như trong lúc Finlay đang phí thời gian ở đây với tôi thì ngoài kia thủ phạm thật vẫn đang lượn lờ. Điều ấy sẽ khiến Finlay không yên tâm. Nhưng ông ta hành động trước. Một nước đi sai lầm. "Không cần tường trình gì cả," viển thám tử nói. 'Tôi sẽ đặt câu hỏi và ông trả lời. Ông là Jack-không-tên-đệm-Reacher. Không địa chỉ. Không giấy

tờ tùy thân. Ông là ai, một kẻ vô gia cư ?" Tôi thở dài. Hôm nay là thứ Sáu. Chiếc đồng hồ cổ lớn cho biết đã hơn nửa ngày trôi qua. Tay Finlay này sắp thực hiện hết mọi quy trình cho vụ này. Tôi sẽ phải trải qua kỳ nghỉ cuối tuần trong buồng giam. Có lẽ thứ Hai được thả ra. 'Tôi không phải người vô gia cư, ông Finlay," tôi nói. "Tôi là người du lịch không nhà cửa. Khác nhau nhiều." Viên cảnh sát lắc đầu, một cách từ từ. "Đừng có tỏ ra khôn ngoan với tôi, Reacher," ông ta nói. "Ông đang gặp rắc rối to. Những điều kinh khủng đã xảy ra ở đó. Nhân chứng của chúng tôi đã trông thấy ông rời khỏi hiện trường. Ông là một người lạ không có giấy tờ tùy thân và không có gì chứng minh vô can. Thế nên đừng có tỏ ra khôn ngoan với tôi." Finlay vẫn đang thực hiện công việc của mình, nhưng ông ta vẫn đang làm lãng phí thời gian của tôi. "Khi ấy tôi không rời khỏi hiện trường xảy ra án mạng," tôi nói. 'Tôi đang đi bộ dọc theo một con đường chết tiệt. Có sự khác biệt, phải không ? Những người rời khỏi hiện trường xảy ra án mạng thường chạy và lẩn trốn. Chúng không phơi mặt cuốc bộ trên đường. Đi bộ trên một con đường có gì sai chứ ? Lúc nào chẳng có người đi bộ trên đường, phải không ?" Finlay cúi người và lắc đầu. "Không," ông ta đáp. "Kể từ khi phát minh ra ô tô, chẳng ai đi bộ hết quãng đường dài ấy. Vậy nên tại sao ông không có địa chỉ ? Ông từ đâu tới ? Hãy trả lời đi. Ta hãy làm xong việc này". "Được rồi, ông Finlay, ta hãy làm cho xong," tôi nói. "Tôi không có địa chỉ bởi tôi chẳng định cư ở đâu cả. Có thể một ngày tôi sẽ định cư ở đâu đó và rồi tôi sẽ có địa chỉ, tôi sẽ gửi cho ông một tấm bưu ảnh và ông có thể kẹp nó vào cuốn sổ địa chỉ khốn kiếp của ông, bởi có vẻ ông quan tâm ghê gớm đến chuyện ấy." Finlay chăm chú nhìn tôi và xem xét xem nên xử trí kiểu gì. Chọn đi theo lối kiên nhẫn. Kiên nhẫn nhưng ương bướng. Kiểu như ông ta là người không thể làm chùn bước. "Ông từ đâu tới ?" Finlay hỏi. "Địa chỉ mới nhất của ông là gì ?" "Chính xác thì ý ông là gì khi ông hỏi tôi từ đâu tới ?" Môi viên thám tử mím chặt lại. Tôi cũng đang làm cho ông ta khó kiềm chế. Nhưng Finlay vẫn kiên nhẫn. Đan vào sự kiên nhẫn là lời mỉa mai lạnh

băng. "Được rồi," ông ta nói. "Ông không hiểu câu hỏi của tôi, vậy thì để tôi cố gắng làm rõ nó vậy. Ý tôi là đâu là nơi ông sinh ra hoặc nơi ông đã sống trong

Đầu truyệnChương Sau

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 2

Đang tải bình luận...