2. Reacher Báo Thù

phần có

phần có

phần có một loại màu hóa chất rất tinh vi, tạo nên màu kem rất độc đáo. Và nó có những sợi polyme ngẫu nhiên màu đỏ và xanh nước biển mỏng như tơ. Giấy để in tiền là giấy tuyệt vời. Bền, tồn tại được nhiều năm, không tan trong nước dù nóng hay lạnh. Độ thấm hút tuyệt đối chính xác, có khả năng tiếp nhận những hình khắc mảnh nhất mà các nhà sản xuất bản kim loại có thể tạo ra." "Vậy là khó bắt chước giấy sản xuất tiền à ?" tôi hỏi. "Gần như không thể. Ở góc độ nào đó, giấy này khó bắt chước đến mức ngay cả nhà phân phối chính thức cho chính phủ cũng không thể bắt chước được. Chỉ giữ cho chất lượng ổn định từng mẻ đã là việc rất khó khăn với họ, và cho đến nay họ là nhà sản xuất giấy tinh vi nhất thế giới." Tôi điểm lại tất cả trong đầu. Máy in, bản kim loại, giấy, mực. "Như vậy nguồn cung cấp giấy thực sự là chìa khóa cho toàn bộ quy trình à ?" tôi hỏi. Kelstein rầu rĩ gật đầu. "Đó là kết luận của chúng tôi," ông nói. "Chúng tôi nhất trí rằng nguồn cung cấp giấy là vấn đề sống còn, và chúng tôi đều không biết chúng xoay xở việc này thế nào. Đó là lý do tôi không thể thực sự giúp gì ông. Tôi đã không thể giúp được Joe, và tôi không thể giúp ông. Tôi vô cùng lấy làm tiếc". Tôi nhìn giáo sư già. "Chúng có một nhà kho chứa đầy thứ gì đó," tôi nói. "Đó có thể là giấy không ?" Kelstein xì mũi vẻ chế nhạo. "Ông không nghe tôi nói à ?" ông hỏi. "Giấy sản xuất tiền không thể kiếm được. Tuyệt đối không kiếm được. Ông chẳng thể kiểm nổi bốn chục tờ giấy sản xuất tiền chứ nói gì tới bốn mươi triệu tờ. Toàn bộ chuyện này là điều hoàn toàn bí ẩn. Joe, Walter và tôi đã nghĩ nát óc suốt cả năm nhưng không suy ra được gì." "Tôi nghĩ rằng Bartholomew đã phát hiện ra gì đó." Kelstein buồn bã gật đầu. Ông chầm chậm nâng người lên khỏi ghế bước tới bàn làm việc. Bấm nút chạy lại trên máy trả lời điện thoại. Căn phòng vang lên tiếng bíp rồi tới tiếng nói của một người đã chết. "Kelstein à ?" giọng ấy nói. "Bartholomew đây. Bây giờ là đêm thứ Năm, khuya rồi.

Sáng mai tôi sẽ gọi cho ông và sẽ cho ông biết câu trả lời. Tôi biết là tôi đã tới đích trước ông. Chúc ngủ ngon, ông bạn già." Trong giọng nói có sự phấn khích. Kelstein đứng đó chăm chú nhìn vào khoảng không như thể hồn của Bartholomew vẫn lơ lửng trên đó. Trông ông buồn. Tôi không thể biết lý do bởi là đồng nghiệp già của ông đã mất hay người đồng nghiệp đó đã tìm ra câu trả lời trước ông. "Tội nghiệp Walter," ông nói. "Tôi đã quen ông ấy năm mươi sáu năm." Tôi ngồi yên lặng một lúc. Rồi tôi cũng đứng lên. "Tôi sẽ tìm ra," tôi nói. Kelstein nghiêng đầu về một bên nhìn tôi sắc lẹm. "Ông thực sự nghĩ là ông sẽ tìm ra à ?" vị giáo sư hỏi. 'Trong khi Joe không thể làm việc đó ?" Tôi nhún vai với ông. "Có lẽ Joe đã tìm ra. Chúng tôi không biết anh ấy đã phát hiện ra chuyện gì trước khi chúng tóm được anh ấy. Dù gì thì ngay bây giờ tôi sẽ quay về Georgia. Tiếp tục tìm kiếm". Kelstein gật đầu thở dài. Ông trông căng thẳng. "Chúc may mắn, ông Reacher", giáo sư nói với tôi. "Tôi hy vọng ông sẽ hoàn thành công việc của anh trai mình. Có lẽ ông sẽ làm được. Joe thường nói tới ông. Ông ấy quý ông, ông biết đấy." "Anh ấy nói về tôi à ?" "Thường xuyên," ông già nói. "Joe rất quý ông. Ông ấy tiếc là nghề nghiệp của ông khiến ông phải ở xa." Trong chốc lát tôi chẳng thể nói nên lời. Tôi cảm thấy mình tội lỗi không thể chịu nổi. Năm tháng qua đi, tôi không nghĩ về Joe. Nhưng anh nghĩ gì về tôi ? "Ông ấy lớn tuổi hơn nhưng ông lại lo lắng cho ông ấy," Kelstein tiếp. "Đó là điều Joe kể với tôi. Ông ấy nói rằng ông rất dữ. Rất rắn. Tôi đoán là nếu Joe cần ai đó để lo vụ nhà Kliner, ông ấy sẽ đề cử ông." "Tôi đi đây," tôi nói. Tôi bắt bàn tay mỏng manh của vị giáo sư già và để ông lại cùng các cảnh sát trong phòng an ninh. *** Tôi đang cố gắng tìm hiểu xem Kliner lấy loại giấy in hoàn hảo ở đâu,

cũng cố tìm hiểu liệu khẩn trương thì mình có thể kịp chuyến bay lúc sáu giờ để trở lại Atlanta không, và tôi cố gắng lờ đi điều Kelstein đã kể rằng Joe nói tốt về tôi. Phố xá đầy người, tôi bận nghĩ về những chuyện kia và tìm một chiếc taxi không có khách, đó là lý do tôi không nhận ra hai gã gốc Tây Ban Nha đang bước về phía mình. Nhưng thứ tôi nhận ra là khẩu súng mà tay đi đầu hé ra cho tôi thấy. Đó là một khẩu tự động loại nhỏ nắm trong bàn tay nhỏ, giấu dưới áo choàng ka ki mà người thành phố hay cầm trên tay trong tháng Chín. Gã cho tôi thấy vũ khí còn tên đồng bọn ra hiệu cho một chiếc xe đang chờ ở rìa đường cách chúng tôi hai mươi mét. Chiếc xe chồm tới, tên đồng bọn đứng sẵn sàng mở cửa như những anh chàng đội mũ chóp vẫn làm bên ngoài các căn hộ đắt tiền ở đây. Tôi nhìn khẩu súng rồi nhìn chiếc xe tính toán những lựa chọn. "Vào xe," tên cầm súng nói khẽ. "Không tao bắn". Tôi đứng yên, tất cả những gì lướt qua suy nghĩ là tôi có thể lỡ một chuyến bay. Tôi cố gắng nhớ xem chuyến bay thẳng tiếp theo cất cánh lúc nào. Tôi nghĩ là lúc bảy giờ. "Vào xe," gã đàn ông nhắc lại. Tôi chắc chắn rằng gã sẽ không nổ súng trên phố. Đó là một khẩu súng nhỏ song không gắn thiết bị giảm thanh. Nó sẽ gây tiếng động lớn, mà phố lại đông người. Hai tay gã còn lại không có gì. Có thể hắn đút súng trong túi. Trong xe chỉ có tài xế. Có lẽ trên ghế ngồi cạnh hắn có một khẩu súng. Tôi thì không có vũ khí. Chiếc áo khoác của tôi cùng cây dùi cui, con dao và khẩu Desert Eagle lại nằm cách xa tám trăm dặm, ở Atlanta. Phải lựa chọn. Tôi chọn cách không vào xe. Tôi chỉ đứng yên trên phố, lấy tính mạng mình ra đánh cược rằng gã đàn ông sẽ không nổ súng trước mặt bao nhiêu người. Hắn đứng đó, cầm chiếc áo mưa giơ về phía tôi. Chiếc xe dừng lại cạnh chúng tôi. Tên đồng bọn đứng phía bên kia xe. Hai tên này thuộc loại nhỏ con. Cả hai tên này cộng lại cũng không to bằng tôi. Chiếc xe vẫn nổ máy chờ bên rìa đường. Chẳng ai cử động. Chúng tôi chỉ đứng sững như hàng trưng bày ở quầy kính cửa hàng. Như các loại đồ mốt mới cho mùa thu, đồ dã chiến cũ của quân đội kết hợp với áo mưa hãng Burberry. Việc này gây ra vấn đề lớn cho hai gã đàn ông. Trong tình huống như thế, chỉ có cơ hội dài một phần nhỏ giây để thực hiện lời đe dọa. Nếu ta nói ta sẽ bắn, ta phải bắn. Nếu không, sức mạnh của ta đã hết. Ta bị lừa. Nếu không bắn, ta chẳng là gì cả. Và gã đàn ông đã không siết cò. Gã chỉ đứng đó, người vặn vẹo vì do dự. Trên vỉa hè nhộn nhạo, người ta xoáy quanh chúng tôi. Xe

hơi bóp còi xua gã đàn ông dừng bên rìa đường. Chúng là những tay khôn ngoan. Đủ khôn ngoan để không bắn tôi trên một con phố bận rộn của New York. Đủ khôn ngoan để biết rằng tôi đã lừa chúng. Đủ khôn ngoan để không bao giờ lặp lại lời đe dọa mà chúng không thực hiện. Nhưng không đủ khôn ngoan để bỏ đi. Chúng chỉ đứng đó. Thế nên tôi lắc người về phía sau, như thể tôi sắp bước đi. Khẩu súng dưới chiếc áo mưa chọc lên phía tôi. Tôi để ý động tác này liền dùng bàn tay trái túm lấy cổ tay gã đàn ông nhỏ con, kéo cho khẩu súng vòng ra sau lưng tôi và dùng cánh tay phải quàng qua hai vai gã, ôm gã sát người mình. Trông chúng tôi như đang nhảy điệu van với nhau hay như những đôi yêu nhau ở ga tàu. Rồi tôi ngã người về phía trước ép gã vào chiếc xe. Tôi dùng hết sức bình sinh liên tục bóp mạnh cổ tay gã, các móng tay bấm sâu vào thịt. Dù dùng tay trái nhưng việc ấy cũng khiến đối thủ đau đớn. Trọng lượng của tôi đè lên khiến gã vất vả mới thở nổi. Tên đồng bọn vẫn đặt tay trên cửa xe. Mắt gã đảo qua đảo lại. Rồi bàn tay còn lại của gã lần xuống túi. Thế nên tôi bật người đứng thẳng lại, vặn bàn tay cầm súng của gã tôi đang ôm và ném hắn vào xe. Và rồi tôi chạy như ma đuổi. Sau năm sải chân tôi đã biến vào đám đông. Tôi lắt léo xô đẩy qua đám người dày đặc. Chui vào rồi lại chui ra các cửa, chạy băng ngang phố giữa dòng xe phanh rít bóp còi inh ỏi. Hai gã đàn ông đuổi theo tôi một lát nhưng rốt cuộc dòng xe cộ đã ngăn chúng lại. Chúng không dám mạo hiểm như tôi đang làm. Chạy hết tám khu nhà thì tôi bắt một chiếc taxi và kịp lên chuyến bay thẳng lúc sáu giờ, từ La Guardia về Atlanta. Vì lý do nào đó mà trở lại mất nhiều thời gian hơn. Tôi ngồi máy bay hai tiếng rưỡi đồng hồ. Suốt thời gian bay trên bầu trời Jersey, Maryland và Virginia tôi đều nghĩ về Joe. Trên bầu trời bang Carolina và bay vào bang Georgia, tôi nghĩ về Roscoe. Tôi muốn cô trở lại. Tôi nhớ Roscoe như điên. Chúng tôi hạ cánh xuyên qua những đám mây giông dày tới mười dặm. Bóng tối của Atlanta bị những đám mây biến thành màu đen như hắc ín. Như thể một hệ thời tiết khổng lồ đang từ đâu đó kéo tới. Khi chúng tôi rời máy bay, không khí trong hành lang dẫn ra dày và nặng, có mùi dông lẫn mùi dầu hỏa. Tôi lấy chìa khóa xe Bentley ở quầy thông tin của sảnh đến. Nó được đặt trong một chiếc phong bì cùng phiếu đậu xe. Tôi bước ra tìm chiếc Bentley. Cảm nhận được làn gió ấm thổi từ phía Bắc lại. Cơn giông sắp lớn dần lên. Tôi có thể cảm thấy điện đang tích tụ dần thành sét. Tôi thấy chiếc xe trong khu đỗ ngắn hạn. Các cửa sau đều đã sơn đen. Rốt cuộc tay thợ sửa

xe đã không sơn cửa bên hay kính chắn gió. Việc đó khiến chiếc xe trông như xe hoàng gia có thể dùng, có tài xế chạy. Áo khoác tôi đặt trong cốp. Tôi mặc vào và lại cảm thấy sức nặng của các món vũ khí trong túi khiến tôi vững dạ. Tôi ngồi vào tay lái, chạy ra khỏi bãi đỗ hướng về phía Nam, chạy trong bóng tối theo quốc lộ. Đã chín giờ tối thứ Sáu. Có lẽ còn khoảng ba mươi sáu giờ trước khi bọn chúng bắt đầu chuyển hàng đi vào ngày Chủ nhật. Tôi trở về Margrave lúc 10 giờ. Còn ba mươi lăm giờ nữa. Tôi đã dùng một giờ nghĩ về một số điều chúng tôi học được

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 36

Đang tải bình luận...