phần chữ không còn. Mảnh giấy trắng hoàn toàn. Nước trong bể bơi đã tẩy hết chữ. Chỉ có những vệt nhòe lờ mờ nhưng tôi không thể luận ra các từ. Tôi nhún vai. Tôi đã đọc đi đọc lại cả trăm lần. Tôi sẽ dựa vào trí nhớ về nội dung của nó. Điểm dừng tiếp theo là tầng hầm. Tôi loay hoay với máy sưởi cho tới khi làm cho nó hoạt động được. Rồi tôi bỏ hết quần áo nhét toàn bộ vào máy sấy điện của Charlie. Đặt chạy nhiệt độ thấp trong vòng một giờ. Tôi không biết mình đang làm gì. Trong quân đội, một công ty nào đó làm việc giặt đồ cho tôi. Mang đi, mang lại khi đã sạch sẽ và gấp gọn. Kể từ đó tới giờ tôi luôn mua đồ rẻ tiền rồi bỏ đi. Tôi lên gác trong tình trạng không quần áo vào phòng tắm của Hubble. Tắm nước nóng một lúc lâu rồi tẩy mascara trên mặt đi. Đứng một lúc lâu dưới nước nóng. Quấn người bằng một chiếc khăn và xuống dưới uống cà phê. Đêm nay tôi không thể đi Atlanta. Có lẽ tôi không thể tới đó trước 3 giờ 30 sáng. Đó là thời điểm không thích hợp để chắc chắn xin vào được. Tôi không có giấy tờ tùy thân để xuất trình, không có vị thế phù hợp. Một chuyến viếng thăm giữa đêm có thể trở thành một vấn đề. Trước hết tôi phải để việc đó tới ngày mai. Không có lựa chọn nào. Thế nên tôi nghĩ đến chuyện ngủ. Tôi tắt đài trong bếp rồi bước vào phòng làm việc riêng của Hubble. Tắt ti vi. Nhìn quanh. Đây là phòng tối, kín đáo. Ốp nhiều gỗ và có nhiều ghế da lớn. Bên cạnh ti vi là bộ dàn âm thanh nổi. Đồ của Nhật. Những hàng đĩa CD và các băng từ. Chủ yếu là nhạc Beatles. Hubble đã nói rằng anh ta thích John Lennon. Anh ta đã tới Dakota ở thành phố New York và tới Liverpool ở Anh. Anh ta hầu như có mọi thứ. Tất cả các album, vài đĩa lậu, bộ sưu tập các đĩa
đơn ghi trong CD người ta bán trong hộp gỗ. Phía trên bàn làm việc là giá sách. Các chồng tạp chí chuyên ngành xuất bản định kỳ và một dãy sách dày, nặng. Các tạp chí nghiệp vụ ngân hàng và các báo cáo. Các tạp chí chuyên ngành xuất bản định kỳ chiếm mất cả mét giá sách. Chúng trông rất nhạt nhẽo. Vài số ngẫu nhiên có tên Tạp chí Ngân hàng. Vài số tạp chí ra liền nhau có tên Quản trị Ngân hàng. Một loại tên Người làm Ngân hàng. Báo Người làm Ngân hàng, Nguyệt san Người làm Ngân hàng, Tạp chí Kinh doanh, Tuần báo Kinh doanh, Thông tin quản lý Tiền mặt, Kinh tế học, Tạp chí Tài chính. Tất cả được sắp xếp theo thứ tự trong bảng chữ cái, tất cả theo trình tự thời gian gọn ghẽ. Chỉ có vài số ngẫu nhiên xuất bản trong vài năm trở lại đây. Không có bộ nào hoàn chỉnh. Ở cuối hàng là một số thông cáo của Bộ Tài chính Mỹ và vài số tạp chí mang tên Thế giới Ngân hàng. Một bộ sưu tập gây tò mò. Dường như được lựa chọn rất kỹ. Có lẽ chúng là các số đặc biệt khó tiếp thu. Có lẽ Hubble đã đọc hết chúng khi anh ta không ngủ được. Tôi thì sẽ không gặp vấn đề nào với chuyện ngủ. Đang ra khỏi phòng làm việc tìm một chiếc giường để ngả lưng thì một ý nghĩ chợt đến. Tôi quay lại bàn làm việc xem giá sách thêm một lần. Vuốt ngón tay theo hàng báo và tạp chí. Xem ngày in trên gáy của chúng, phía dưới các tít đầy phô trương. Vài số được xuất bản gần đây. Trình tự ngẫu nhiên tiếp tục cho tới số mới nhất trong đó. Hơn chục số xuất bản trong năm nay. Đúng một phần ba được xuất bản sau khi Hubble đã nghỉ việc ở ngân hàng. Sau khi anh ta đã được người ta để ra đi. Những cuốn này được xuất bản phục vụ những người làm ngân hàng, nhưng đến khi ấy Hubble không còn là giám đốc ngân hàng nữa. Nhưng anh ta vẫn đặt những tạp chí chuyên ngành khó nhằn này. Vẫn đọc toàn bộ tài liệu rắc rối này. Tại sao ? Tôi lôi vài tạp chí định kỳ ra. Xem bìa ngoài. Đây là những tạp chí dày, bóng. Tôi dùng các ngón tay giữ phần trên cùng và dưới cùng gáy tạp chí. Chúng mở ra các trang Hubble đã tham khảo. Tôi xem các trang này. Lôi thêm vài số. Để chúng mở ra. Tôi ngồi xuống chiếc ghế da của Hubble. Ngồi đọc với chiếc khăn của anh ta quấn quanh người. Tôi đọc hết cả giá. Từ trái qua phải, từ đầu đến cuối. Tất cả tạp chí định kỳ. Mất một giờ đồng hồ. Rồi tôi bắt đầu với các cuốn sách. Tôi vuốt ngón tay theo hàng sách bám bụi. Dừng lại và hơi choáng khi nhận ra vài cái tên tôi biết. Kelstein và Bartholomew. Một cuốn sách cũ khá to. Bọc da màu đỏ. Báo cáo của họ gửi tiểu ban của Thượng viện. Tôi lôi ra và bắt đầu lướt qua. Đây là một ấn bản
tuyệt vời. Kelstein đã khiêm tốn mô tả nó là cẩm nang của những người chống tiền giả. Và đúng như thế. Vị giáo sư già đã quá khiêm tốn. Nó cực kỳ chi tiết và kỹ lưỡng. Nó cần mẫn ghi lại lịch sử của mọi kỹ thuật làm tiền giả người ta từng công bố. Các mẫu sao chép và ví dụ được lấy từ mọi mánh lới từng bị bóc trần. Tôi nâng cuốn sách nặng lên lòng. Đọc thêm một giờ nữa. Ban đầu tôi tập trung vào các vấn đề liên quan đến giấy. Kelstein đã nói rằng giấy là vấn đề mấu chốt. Ông và Bartholomew cung cấp một phụ lục dài về giấy. Nó mở rộng hơn vấn đề ông đã trực tiếp giải thích cho tôi. Các sợi bông và lanh, màu có thành phần hóa chất, việc tạo ra các sợi polyme màu đỏ và xanh nước biển. Giấy được một công ty có tên Crane and Company sản xuất ở Dalton, Massachusens. Tôi gật đầu. Tôi đã nghe nói về họ. Hình như tôi đã mua một số thiếp Giáng sinh do họ sản xuất. Tôi nhớ tấm thiếp dày nặng và phong bì răng cưa màu kem. Tôi thích chúng. Công ty Crane and Company đã sản xuất giấy in tiền cho Bộ Tài chính từ năm 1879. Qua hơn một thế kỷ, giấy được chở xuống Washington bằng xe bọc thép được bảo vệ cẩn mật. Chưa có chút giấy nào bị đánh cắp. Dù chỉ một tờ. Rồi từ phụ lục, tôi lật sách ngược lại bắt đầu xem nội dung chính. Tôi xếp thư viện nhỏ của Hubble lên mặt bàn của anh ta. Lại đọc hết một lượt. Có những chỗ tôi đọc hai, ba lần. Tôi liên tục lao vào những bài viết và báo cáo kín đặc chữ. Kiểm tra, đối chiếu, cố gắng hiểu ngôn ngữ chuyên ngành. Tôi liên tục trở lại với bản báo cáo lớn màu đỏ gửi Thượng viện. Có ba đoạn tôi đọc đi đọc lại. Đoạn đầu viết về đường dây làm tiền giả ngày trước ở Bogota, Colombia. Đoạn thứ hai viết về hoạt động ở Libăng, còn diễn ra trước đó. Lực lượng du kích Thiên Chúa giáo ở Libăng đã tập hợp với một số chuyên gia chạm khắc người Armenia trong cuộc nội chiến. Đoạn thứ ba là một số nội dung cơ bản về hóa học. Rất nhiều công thức rối rắm nhưng có vài từ tôi nhận ra. Tôi đọc đi đọc lại ba đoạn. Tôi bước vào bếp, cầm bản danh sách trắng của Joe lên. Chăm chăm nhìn nó một lúc. Bước trở lại phòng làm việc riêng tối và yên tĩnh rồi ngồi vào một quầng sáng, suy nghĩ và đọc đến gần hết đêm. Việc ấy không khiến tôi buồn ngủ. Chính xác là gây tác động ngược lại. Khiến tôi tỉnh táo. Khiến đầu óc tôi ong ong. Khiến tôi run lên vì choáng ngợp và phấn khích. Bởi đến khi đọc xong, tôi biết chính xác cách chúng kiếm ra giấy. Tôi biết chính xác nơi chúng lấy giấy. Tôi biết những gì nằm trong các thùng chuyên chở máy điều hòa nhiệt độ hồi năm ngoái. Tôi không
cần đến Atlanta để xem. Tôi đã biết. Tôi đã biết Kliner đang tích trữ gì trong kho của hắn. Tôi biết tất cả những xe tải kia chở gì đến hằng ngày. Tôi đã biết tiêu đề của Joe ý nghĩa thế nào. E Unum Pluribus. Tôi biết tại sao anh đã chọn khẩu hiệu ngược đó. Tôi biết mọi điều, khi vẫn còn hai mươi bốn giờ nữa. Toàn bộ mọi chuyện, từ đầu đến cuối. Từ trên xuống dưới. Từ trong ra ngoài. Và đó là một hoạt động được tổ chức đầy khôn ngoan. Giáo sư già Kelstein đã nói rằng không thể kiếm được giấy in tiền. Nhưng Kliner đã chứng minh rằng ông sai. Kliner đã có cách kiếm được giấy. Một cách rất đơn giản. Tôi đứng phắt dậy chạy xuống tầng hầm. Vặn cửa máy sấy lôi quần áo ra. Vừa mặc vừa chạy đi trên sàn bê tông. Bỏ mặc chiếc khăn chỗ nó rơi xuống. Chạy trở lại bếp, để cánh cửa bị phá đung đưa. Chạy trên lớp sỏi tới chỗ chiếc Bentley. Nổ máy lùi theo lối chạy xe. Phóng vụt theo phố Beckman rồi ngoắt trái vào Phố Chính. Lao xuyên thị trấn yên tĩnh, qua tiệm ăn. Quặt trái một lần nữa vào đường đi Warburton và cho chiếc xe cũ đồ sộ chạy nhanh hết mức tôi dám chạy Đèn pha của chiếc xe bị mờ. Thiết kế cách đây hai mươi năm. Trời đêm loang lổ. Vài giờ nữa mới bình minh còn những đám mây sót lại của cơn giông đang vật vờ trôi ngang mặt trăng. Con đường chưa bao giờ thật sự phẳng. Chỗ vồng lên chỗ lõm xuống. Và trơn vì nước mưa. Chiếc xe cũ cứ trượt và chực văng đi. Thế nên tôi giảm tốc độ chạy đều đều. Cho rằng thà mất thêm mười phút vẫn hơn trượt khỏi đường lao xuống cánh đồng. Tôi không muốn theo chân Joe. Tôi không muốn thành một Reacher khác biết rằng thế sẽ chết mà vẫn không thoát chết. Tôi chạy qua lùm cây. Nó chỉ là một vệt tối thẫm hơn in trên nền trời tối. Phía trước vài dặm tôi có thể trông thấy những ngọn đèn ở rìa ngoài của nhà tù. Chúng sáng rực trên cảnh trời đêm. Tôi chạy qua. Rồi vài dặm nữa tôi có thể thấy những ngọn đèn ấy trong gương, phía sau lưng. Rồi tôi chạy qua chiếc cầu, qua Franklin, rời bang Georgia, vào Alabama. Tôi phóng vụt qua quán cổ mà Roscoe với tôi đã tới. The Pond. Quán đã đóng cửa, tối om. Một dặm nữa tôi có mặt ở motel. Tôi vẫn để máy nổ và thò đầu vào phòng để đánh thức người trực đêm. "Ở đây các anh có khách nào tên Finlay không ?" tôi hỏi. Người trực dụi mắt nhìn bảng đăng ký. "Mười một," anh ta đáp. Toàn bộ nơi này trông vẫn đang chìm trong giấc ngủ. Tĩnh tại, im lặng
và ngủ sâu. Tôi tìm thấy phòng của Finlay. Số mười một. Chiếc Chevy do cảnh sát trang bị của ông đậu phía ngoài. Tôi đập cửa phòng rất mạnh. Phải đập một lúc. Rồi tôi nghe tiếng rên rỉ khó chịu. Không nghe được từ nào. Tôi đập thêm vài cái. "Nào, Finlay", tôi gọi. "Ai đấy ?" tôi nghe tiếng viên thám tử quát. "Reacher đây", tôi đáp. "Mở cửa đi nào", Dừng một lát. Rồi cửa mở. Finlay đang đứng đó. Tôi đã đánh thức ông. Ông mặc một chiếc áo len xám và quần đùi ống rộng. Tôi ngạc nhiên. Tôi nhận ra rằng mình đã nghĩ sẽ thấy ông ngủ khi vẫn mặc bộ com lê vải tuýt. Với chiếc áo vét bằng vải giả da. "Ông muốn cái quái gì thế ?" Finlay hỏi tôi. "Có thứ cho ông xem." Đội trưởng thám tử đứng ngáp và chớp chớp mắt. "Bây giờ là mấy giờ ?" ông hỏi. "Tôi không biết. Năm giờ, có khi sáu giờ. Mặc quần áo vào đi. Chúng ta sẽ tới một nơi". "Đi đâu ?" "Atlanta. Tôi có thứ cho ông xem." "Thứ ấy là gì chứ ? Bảo tôi luôn không được à ?" "Mặc quần áo vào đi Finlay," tôi nhắc lại. "Phải đi rồi." Viên thám tử hầm hừ nhưng cũng mặc đồ vào. Mất một lúc. Có lẽ mất mười lăm phút. Ông biến vào phòng tắm. Vào đó như một người bình thường vừa mới tỉnh dậy. Bước ra trông như Finlay. Com lê vải tuýt và đủ thứ. "Được rồi," ông nói. "Thứ ấy nên là thứ hay đấy, Reacher." Chúng tôi ra ngoài bóng tối. Tôi bước về phía xe trong khi Finlay khóa cửa. Rồi ông bước kịp theo tôi. "Ông lái xe hả ?" viên thám tử hỏi. "Tại sao không ?" tôi nói. "Ông thấy chuyện đó không ổn à ?" Finlay trông khó chịu ghê gớm. Chằm chằm nhìn chiếc Bentley bóng lộn. "Đừng có lái xe như tôi," ông bảo. "Ông muốn để cho tôi lái không ?" "Tôi chẳng quan tâm ai lái. Ông chỉ cần vào xe, được chứ ?" Viên thám tử ngồi vào sau tay lái và tôi đưa cho ông chùm chìa khóa. Tôi vui khi làm thế. Tôi rất mệt. Finlay mở máy chiếc Bentley lùi ra khỏi bãi. Ngoặt về phía Đông. Ngồi yên để chạy xe. Ông chạy nhanh. Nhanh hơn tôi
đã chạy. Ông là một lái xe rất cừ. *** "Thế đang có chuyện gì ?" Finlay hỏi tôi. Tôi nhìn sang bên. Tôi có thể thấy hai mắt ông sáng lên dưới ánh đèn của bảng điều khiển. “Tôi đã nghĩ ra," tôi nói. "Tôi hiểu ra tất cả chuyện này rồi”. Viên thám tử nhìn lại tôi. "Vậy ông sẽ nói cho tôi chứ ?" "Ông đã gọi cho Princeton chưa ?" tôi hỏi. Finlay ậm ừ vỗ vào tay lái vẻ khó chịu. "Tôi nói chuyện điện thoại suốt một giờ," ông nói. "Người đàn ông ấy biết rất nhiều, nhưng rốt cuộc anh ta chẳng biết gì." "Anh ta đã nói gì với ông ?" "Anh ta nói toàn bộ. Đó là một tay khôn lỏi. Thạc sĩ lịch sử, làm việc cho Bartholomew. Hóa ra Bartholomew và ông già kia, Kelstein ấy, là những tên tuổi lớn trong nghiên cứu về tiền giả. Joe đã sử dụng họ để cung cấp các thông tin nền. Tôi nhìn sang Finlay. "Kelstein đã kể cho tôi toàn bộ chuyện đó," tôi nói. Đội trưởng thám tử lại liếc qua. Vẫn khó chịu. "Vậy tại sao ông còn hỏi tôi về điều đó ?" ông hỏi. "Tôi muốn nghe các kết luận của ông. Tôi muốn xem ông đã đi tới đâu", "Chúng ta chẳng đi tới đâu cả. Họ đã bàn bạc cả năm và quyết định rằng Kliner không có cách nào lấy được nhiều giấy tốt như thế." "Đó chính xác là điều Kelstein đã nói. Nhưng tôi đã tìm ra." Firday liếc sang tôi lần nữa. Gương mặt hiện vẻ ngạc nhiên. Phía xa, tôi có thể nhìn thấy quầng sáng phát ra từ những ngọn đèn của nhà tù ở Warburton. "Thế thì nói cho tôi nghe đi." "Hãy tỉnh dậy mà tự tìm ra đi, ông bạn Harvard ạ." Viên thám tử lại ậm ừ. Vẫn khó chịu. Chúng tôi tiếp tục chạy. Chúng tôi lao vào quầng sáng tỏa ra từ hàng rào nhà tù. Lướt qua lối dẫn vào nhà tù. Rồi ánh đèn vàng ghê gớm kia đã ở phía sau lưng. “Thế thì đầu tiên hãy cho tôi một manh mối, được không ?" Finlay đề
nghị. “Tôi sẽ cho ông hai đầu mối. Tiêu đề Joe đã dùng trong bản danh sách. E Unum Pluribus. Và rồi nghĩ về điều duy nhất có ở đồng tiền của Mỹ." Đội trưởng thám tử gật đầu. Suy nghĩ về điều ấy. Các ngón tay gõ lên tay lái. "E Unum Pluribus," ông nói. "Đó là câu đảo ngược khẩu hiệu của nước Mỹ. Thế nên chúng ta có thể nhận định rằng ý nghĩa của nó là từ một hình thành nhiều, đúng không ?" "Đúng. Và điều độc đáo của các tờ bạc Mỹ khi so sánh với bất kỳ nước nào khác trên thế giới là gì ?" Finlay lại suy nghĩ. Viên cảnh sát này đang nghĩ về điều gì đó quen thuộc mà ông không phát hiện ra. Xe chúng tôi vẫn chạy. Vọt qua lùm cây phía bên trái. Đằng trước lờ mờ ánh sáng bình minh ở hướng Đông. "Điều gì ?" Finlay hỏi. "Tôi từng sống khắp nơi trên thế giới", tôi nói. "Sáu châu lục, nếu ông tính cả một khoảng thời gian ngắn trong lều của lực lượng không quân ở châu Nam Cực. Vài chục nước. Trong túi tôi từng có nhiều loại tiền giấy khác nhau. Yên, vài loại đồng mark, nhiều loại đồng bảng, đồng lire, nhiều loại peso, won, đồng franc, shekel, nhiều loại rupee. Giờ thì tôi có các đồng đô la Mỹ. Tôi nhận thấy gì ?" Finlay nhún vai. "Gì vậy ?" ông hỏi. "Các đồng đô la Mỹ đều cùng kích thước. Mệnh giá năm mươi, một trăm, mười, hai mươi, năm, một. Tất cả đều cùng kích thước. Tôi chưa thấy điều đó ở nước nào cả. Ở bất kỳ nơi nào khác, các đồng bạc mệnh giá cao đều lớn hơn các đồng mệnh giá thấp. Có sự tăng tiến, đúng không ? Ở bất kỳ nơi nào khác, tờ mang số 1 là đồng nhỏ, đồng in số 5 sẽ lớn hơn, mang số 10 thì lớn hơn nữa, cứ thế tiếp diễn. Tờ có mệnh giá lớn nhất thường là tờ có kích thước lớn nhất. Nhưng các đồng đô la của Mỹ đều cùng kích thước. Tờ mệnh giá một trăm đô la cũng có kích thước bằng tờ một đô." 'Thế thì sao ?" "Thế thì chúng lấy giấy in tiền từ đâu ?" tôi hỏi. Tôi chờ đợi. Finlay liếc ra ngoài cửa sổ. Rời ánh mắt khỏi tôi. Ông không hiểu được và điều này đang làm ông khó chịu. "Chúng đi mua", tôi giải thích. "Chúng mua giấy với giá một đô la một tờ."
Đội trưởng thám tử thở dài nhìn tôi. "Bọn chúng không mua, vì Chúa", ông nói. "Bartholomew đã làm rõ điều ấy. Giấy được sản xuất ở Dalton và toàn bộ hoạt động được kiểm soát chặt đến mức kiến chẳng chui lọt. Trong một trăm hai mươi năm qua người ta chưa từng mất một tờ nào. Chẳng ai tuồn bán giấy ra ngoài đâu, Reacher." "Nhầm rồi, Finlay. Giấy không bán trên thị trường công khai". Viên thám tử lại hầm hừ. Xe chúng tôi vẫn chạy. Đến chỗ rẽ vào tỉnh lộ. Finlay giảm tốc độ và ngoặt trái. Chạy theo hướng Bắc về phía quốc lộ. Giờ thì ánh sáng của bình minh nằm bên phải chúng tôi. Ánh sáng ấy đang mạnh dần lên. "Bọn chúng đang rà khắp đất nước này để kiếm những tờ một đô la," tôi nói. "Đó là vai trò Hubble đảm nhiệm cách đây hơn một năm rưỡi. Đó từng là công việc của anh ta ở ngân hàng, quản lý tiền mặt. Anh ta biết cách có được tiền mặt. Vì thế tay này sắp xếp để thu được những tờ bạc một đô la từ các ngân hàng, trung tâm mua sắm, các chuỗi bán lẻ, siêu thị, trường đua, sòng bạc, bất kỳ nơi nào có thể thu. Đó là công việc quan trọng. Bọn chúng cần rất nhiều loại tiền đó. Chúng sử dụng séc ngân hàng, chuyển khoản, các đồng một trăm đô giả, chúng mua các tờ một đô la thật từ khắp nơi trên nước Mỹ. Mỗi tuần khoảng một tấn." Finlay chằm chằm nhìn sang tôi. Gật đầu. Ông đã bắt đầu hiểu ra. "Một tấn một tuần à ?" ông hỏi. "Chừng đó là bao nhiêu ?" "Một tấn tiền một đô la là một triệu đô. Mỗi năm chúng cần bốn mươi tấn. Bốn mươi triệu đô tiền mệnh giá một đô la." "Tiếp đi." "Các xe tải chở chúng xuống Margrave. Từ bất kỳ nơi nào Hubble huy động được. Chúng được đưa vào nhà kho." Đội trưởng thám tử gật đầu. Ông đang hiểu ra. Ông có thể thấy rõ. "Rồi số tiền đó lại được chuyển đi trong thùng bằng bìa cứng chứa máy điều hòa nhiệt độ", Finlay nói. "Chính xác. Cho tận tới một năm trước. Tận tới khi lực lượng Bảo vệ Bờ biển ngăn lại. Các thùng mới và đẹp, có lẽ theo đơn đặt hàng của một nhà máy sản xuất thùng bìa cứng nào đó cách xa hai ngàn dặm. Chúng đóng gói các thùng, dùng băng dính dán kín, chuyển đi. Nhưng trước tiên chúng đếm trước khi chuyển đi." Finlay lại gật đầu. "Để khớp với số liệu theo dõi," ông nói. "Nhưng làm thế quái nào mà
ông đếm được một tấn tiền đô la trong một tuần ?" "Bọn chúng cân lên. Lần nào nhét đầy một thùng chúng cũng cho lên cân. Với các đồng một đô la, một ounce là ba mươi đồng (ounce = 28,3g). Nửa cân tương đương bốn trăm tám mươi đồng. Đêm qua tôi đã đọc về điều này. Chúng cân lên, chúng tính toán giá trị, rồi chúng viết con số vào cạnh thùng." "Làm thế nào ông biết được ?" "Các số xê ri. Cho biết có bao nhiêu tiền trong thùng." Finlay nở nụ cười trầm tư. "OK," ông nói. "Rồi các thùng chuyển tới bãi biển Jacksonville, phải không ?" Tôi gật đầu. "Được đưa lên một con tàu. Và được chuyển tới Venezuela." Rồi chúng tôi im lặng. Chúng tôi đang tới gần khu nhà kho ở đầu tỉnh lộ cổ. Nó nổi lên phía tay trái chúng tôi như trung tâm vũ trụ.