2. Reacher Báo Thù

phần dưới còn

phần dưới còn

phần dưới còn hơi xì ra ở phần trên. Hai đèn trước vỡ nát còn cản sốc trước đang tì xuống lốp xe. Nhưng Hubble vẫn thực hiện công việc. Anh ta đang phanh xe lại và nhấn mạnh ga. Đúng như tôi đã bảo anh ta làm. Tôi có thể thấy chiếc xe rung lên cưỡng lại phanh. Rồi nó vọt về phía trước, lao về phía Finlay ở buồng giam giữa. Đâm chéo vào các song ti tan khiến chúng tẽ ra như một chiếc rìu bổ xuống hàng cọc rào. Nắp ca pô xe bay lên còn kính chắn gió vỡ bung. Những mảnh kim loại bị long ra kêu loảng xoảng và rít lên. Hubble dừng xe cách chỗ Finlay đứng đúng một mét. Chiếc xe thương tật dừng hẳn lại với tiếng hơi nước xì ra rất to. Không khí dày đặc bụi. Tôi lao vào buồng giam kẹp kìm vào chiếc còng khóa tay Finlay với song sắt. Bóp mạnh gọng kìm cho tới khi còng bị cắt rời. Tôi đưa kìm cho Finlay rồi lôi ông ra khỏi buồng giam. Hubble đang leo ra khỏi cửa sổ xe Bentley. Lực va chạm đã làm cửa xe méo mó không mở ra được. Tôi kéo anh ta ra, nhoài người vào giật chìa khóa. Rồi cả ba chúng tôi chạy xuyên qua phòng họp đã bị phá, lạo xạo chạy trên những tấm kính vốn là nơi của những cánh cửa lớn. Chạy tới xe lao vào trong. Tôi nổ máy cho chiếc xe gầm lên lùi ra khỏi bãi đỗ. Vào số chạy về phía thị trấn. Finlay đã thoát ra. Chín mươi giây, từ đầu đến cuối.

32 Đến đầu Bắc của Phố Chính, tôi giảm tốc độ nhẹ nhàng chạy theo hướng Nam, xuyên qua thị trấn đang say giấc. Không ai nói gì. Hubble đang nằm trên băng ghế sau, người run lẩy bẩy. Finlay ngồi cạnh tôi ở ghế phụ. Chỉ ngồi yên, cứng đơ, chằm chằm nhìn qua kính. Cả ba chúng tôi đều thở dốc. Chúng tôi đang ở trạng thái yên lặng diễn ra sau tình huống nguy hiểm đầy căng thẳng. Đồng hồ trên bảng điều khiển báo một giờ sáng. Tôi muốn ẩn mình tới tận bốn giờ. Tôi có suy nghĩ hơi mê tín về thời điểm bốn giờ sáng. Chúng tôi thường gọi đó là giờ KGB. Chuyện là đây là thời điểm họ hay chọn để gõ cửa nhà các đối tượng. Lúc bốn giờ sáng. Chuyện là thời điểm ấy luôn rất tốt với họ. Vào giờ đó sự tỉnh táo của các nạn nhân ở mức thấp. Thực hiện công việc dễ dàng. Bản thân chúng tôi thi thoảng đã thử. Với tôi thì luôn tốt. Thế nên tôi muốn đợi tới bốn giờ, lần cuối cùng. Tôi đánh xe sang trái rồi lại sang phải, theo con ngõ phía sau dãy cửa hiệu cuối cùng. Tắt đèn pha rồi tấp vào khoảng tối phía sau tiệm cắt tóc. Tắt máy. Finlay liếc quanh nhún vai. Đến tiệm cắt tóc lúc một giờ sáng không điên rồ hơn lao chiếc Bentley trị giá một trăm ngàn đô vào một tòa nhà. Không điên rồ hơn việc bị một tên điên xích vào buồng giam mười tiếng đồng hồ. Sau hai chục năm ở Boston và sáu tháng ở Margrave, chẳng còn mấy chuyện khiến Finlay phải nhướng mắt. Hubble ngồi chúi người trên ghế sau. Anh ta thực sự sốc. Anh chàng đã chủ động đâm xe ba lần liền. Ba vụ va chạm khiến anh chàng này chấn động. Và kiệt sức. Phải mất rất nhiều sức mới có thể liên tục đạp ga, hướng tới hết mục tiêu vững chắc này tới mục tiêu khác. Nhưng Hubble đã làm được việc ấy. Không phải ai cũng làm được. Nhưng bây giờ anh ta đang phải chịu đựng. Tôi lách người khỏi ghế đứng trong ngõ. Ra hiệu cho Hubble ra khỏi xe. Anh ta ra đứng cùng tôi trong bóng tối. Đứng đó, không vững lắm. "Anh ổn chứ ?" tôi hỏi Hubble. Anh chàng nhún vai. 'Tôi cho là thế," anh ta đáp. "Tôi bị va đầu gối, cổ đau như gãy." "Đi đi lại lại đi," tôi bảo. "Đừng ngồi lì một chỗ", Tôi dìu Hubble đi đi lại lại ở con ngõ nhỏ. Bước chục bước rồi quay lại, làm vài lần. Khi bước, chân trái anh chàng hơi tập tễnh. Có lẽ cửa xe móp

vào đập phải đầu gối trái anh ta. Hubble xoay đầu vòng quanh, thả lỏng các cơ bị cứng ở cổ. "OK chứ ?" tôi hỏi. Anh ta mỉm cười. Nụ cười chuyển thành cái nhăn nhó khi một đường gân co lại. "Tôi sẽ sống thôi", anh ta đáp. Finlay ra khỏi xe, đến chỗ hai chúng tôi ở ngõ. Ông bước lại, vừa đi vừa duỗi người. Thấy phấn khích. Ông mỉm cười với tôi trong bóng tối. "Làm tốt đấy, Reacher," viên thám tử nói. "Khi ấy tôi đang băn khoăn anh sẽ làm thế quái nào để cứu tôi ra. Chuyện gì đã xảy ra với Picard thế ?" Tôi dùng ngón tay làm hình khẩu súng, như kiểu bắt chước của một đứa trẻ. Finlay dành cho tôi cái gật đầu với tư cách đồng sự. Quá dè dặt nên không thể tiến xa hơn. Tôi bắt tay ông. Có vẻ là việc làm đúng. Rồi tôi xoay người vỗ nhẹ lên cửa phụ ở phía sau tiệm cắt tóc. Cửa mở ngay lập tức. Ông già lớn tuổi hơn đứng đó như đang đợi chúng tôi gọi cửa. Ông giữ cánh cửa như một viên quản gia già. Ra hiệu cho chúng tôi vào. Chúng tôi bước theo hàng một dọc hành lang vào nhà kho. Đứng đợi bên cạnh những giá xếp đầy đồ phục vụ cho nghề cắt tóc. Ông già xương xẩu bước tới chỗ chúng tôi. "Chúng tôi cần sự giúp đỡ của các ông," tôi nói. Ông già nhún vai. Giơ lòng bàn tay màu nâu lên làm hiệu cho chúng tôi đợi. Chậm chạp bước ra phía trước và trở lại cùng người bạn. Ông già ít tuổi hơn. Họ thì thào bàn bạc với nhau về đề nghị của tôi. "Lên gác," ông ít tuổi hơn nói. Chúng tôi dồn vào cầu thang hẹp. Lên một căn hộ ở phía trên hiệu cắt tóc. Hai ông già dẫn chúng tôi tới phòng khách. Họ kéo rèm và bật vài bóng đèn mờ. Chìa tay bảo chúng tôi ngồi. Căn phòng nhỏ cũ rích nhưng sạch sẽ. Có cảm giác ấm áp. Tôi nghĩ nếu mình có một căn phòng, tôi muốn nó trông thế này. Chúng tôi ngồi xuống. Ông già ít tuổi hơn ngồi cùng chúng tôi, ông kia lại bước ra ngoài. Đóng cửa lại. Cả bốn chúng tôi ngồi nhìn nhau. Rồi ông già cắt tóc cúi người về phía trước. "Các anh không phải người đầu tiên trốn chỗ chúng tôi," ông nói. Finlay liếc quanh. Tự chỉ định mình làm người phát ngôn. "Thật hả ?" ông nói. "Không thưa ông, các ông không phải những người đầu tiên", ông già nói. "Chúng tôi có nhiều người đến đây ẩn mình. Và nói thật là cả các cô gái

nữa." "Như những người nào ?" "Người kiểu nào ông nêu ra cũng có. Chúng tôi có những chàng trai làm cho công đoàn từ các nông trang trồng lạc. Chúng tôi có những người làm cho các công đoàn từ những nơi trồng đào. Chúng tôi có các cô gái bảo vệ quyền con người từ nơi đăng ký cử tri. Chúng tôi có các chàng trai không muốn bị điều tới Việt Nam. Ông nêu loại người nào chúng tôi cũng có." Finlay gật đầu. "Và bây giờ thì ông có chúng tôi", ông nói. "Rắc rối ở địa phương này à ?" ông già cắt tóc hỏi. Finlay một lần nữa gật dầu. "Rắc rối lớn," ông nói. "Những thay đổi lớn đang tới." "Chúng tôi đã chờ đợi," ông già nói. "Chờ đợi nhiều năm rồi." "Các ông đợi sao ?" Ông thợ cắt tóc gật đầu đứng dậy. Bước tới chỗ chiếc tủ lớn. Mở cửa rồi vẫy chúng tôi lại xem. Đây là chiếc tủ lớn, xếp đầy các giá sâu. Những giá này xếp chặt tiền. Từng cọc, từng cọc tiền buộc lại với nhau bằng nịt cao su. Tiền xếp từ đáy tới nóc tủ. Trong này phải có vài trăm ngàn đô la. 'Tiền của Quỹ Kliner," ông già nói. "Chúng cứ ném tiền vào chúng tôi suốt. Chuyện ấy có gì đó không ổn. Tôi bảy mươi tư tuổi rồi. Suốt bảy mươi năm người ta coi chúng tôi như rác. Giờ thì người ta ném tiền vào chúng tôi. Chuyện đó có gì không ổn, đúng chứ ?" Ông già đóng cửa tủ chứa tiền. "Chúng tôi không tiêu tiền này", ông nói. "Chúng tôi không tiêu một xu nào không do mình kiếm được. Chúng tôi chỉ cất vào tủ. Các anh đang điều tra Quỹ Kliner phải không ?" "Ngày mai sẽ không còn Quỹ Kliner nào nữa", tôi nói. Ông già chỉ gật đầu. Liếc cửa tủ khi ông bước qua và lắc đầu. Khép cửa phòng rồi để chúng tôi lại trong căn phòng nhỏ ấm cúng. "Sẽ không dễ đâu," Finlay nói. "Ba chúng ta và ba tên bọn chúng. Chúng giữ bốn con tin. Hai con tin là trẻ em. Chúng ta thậm chí còn không chắc chắn nơi chúng đang giam giữ các con tin." "Họ đang ở nhà kho," tôi nói. "Điều đó thì chắc chắn. Họ còn ở đâu khác được nữa ? Không có nhân lực để giam họ ở bất kỳ nơi nào khác. Hơn nữa ông đã nghe đoạn băng ấy. Âm vọng ro ro đó. Đó là nhà kho, chắc chắn như vậy."

"Băng nào ?" Hubble hỏi. Finlay nhìn anh ta. "Chúng bắt Roscoe ghi băng đó cho Reacher," ông nói. "Một thông điệp. Để chứng minh rằng bọn chúng đang giữ cô ấy." "Roscoe à ?" Hubble nói. "Còn Charlie thì sao ?" Finlay lắc đầu. "Chỉ Roscoe thôi", ông nói dối. "Không có Charlie." Hubble gật đầu. Tôi nghĩ ông bạn Harvard này làm thế là khôn ngoan. Hình ảnh Charlie bị dúi đầu xuống micro với lưỡi dao sắc kề cuống họng sẽ đẩy Hubble ngã nhào. Khỏi bờ vực, trở lại nơi cơn hoảng loạn đã biến anh ta thành kẻ vô dụng. "Nhà kho là nơi họ đang ở," tôi nói. "Không nghi ngờ gì điều ấy." Hubble biết rõ về nhà kho. Trong một năm rưỡi, gần như ngày nào anh ta cũng làm việc ở đó. Thế nên chúng tôi bảo anh ta tả đi tả lại kiểu sắp xếp ở đó. Chúng tôi kiếm giấy và bút chì rồi bảo Hubble vẽ sơ đồ. Chúng tôi đảo đi đảo lại sơ đồ này, vẽ đủ mọi cửa ra vào, cầu thang, ghi chú các khoảng cách, các chi tiết. Cuối cùng chúng tôi tạo ra được một sơ đồ mà đến cả kiến trúc sư cũng phải hài lòng. Nhà kho mục tiêu đứng riêng lẻ ở cuối dãy bốn kho. Nó rất gần với nhà kho thứ ba, vốn là nơi làm việc của các nông dân. Có hàng cọc rào giữa hai nhà kho này, giữa nó và lớp kim loại dát ngoài chỉ có một lối đi nhỏ. Ba mặt còn lại là hàng rào chính bao bọc toàn khu kho. Hàng rào đó chạy sát nhà kho, vòng ra mặt sau và vòng qua đầu bên kia, nhưng ở phía trước có nhiều khoảng trống cho xe tải quay đầu. Cửa cuốn choán gần hết bức tường phía trước. Có một cửa nhỏ ở góc phía xa để đi vào phần sàn chính. Đi vào cửa đó rẽ trái, có một cầu thang bằng kim loại dẫn tới một phòng làm việc. Phòng này nằm ở góc trên cùng phía cuối nhà kho khổng lồ, cách sàn chính khoảng mười hai mét. Phòng này có các cửa sổ lớn, một ban công có tay vịn nhìn thẳng xuống để có thể giám sát nhà kho. Ở phía sau, phòng có một cửa dẫn ra lối thoát hiểm bên ngoài vốn là một cầu thang kim loại khác hàn vào mặt ngoài bức tường phía sau. "OK," tôi nói. "Thế là rõ rồi nhỉ ?" Finlay nhún vai. 'Tôi lo về lực lượng tăng cường," ông nói. "Bọn gác phía ngoài", Tôi nhún vai lại với đội trưởng thám tử. "Sẽ không có lực lượng tăng cường nào cả," tôi bảo. "Tôi lo mấy khẩu

súng trường hơn. Nơi đó rộng. Và trong đó có hai đứa trẻ." Finlay gật đầu. Trông đăm chiêu. Ông biết tôi đang nói gì. Súng trường vãi ra những mảnh đạn chì theo hình nón rộng. Súng trường và trẻ em không thể đồng hành với nhau. Chúng tôi im lặng. Đã gần hai giờ sáng. Còn một tiếng rưỡi để đợi. Chúng tôi sẽ lên đường lúc 3 giờ 30. Đến đó lúc bốn giờ. Thời điểm tấn công mà tôi thích. Thời gian chờ đợi. Như những người lính dưới chiến hào. Như các phi công trước một cuộc đột kích. Im lặng. Finlay lơ mơ ngủ. Trước đây ông từng trải qua việc này. Có khi nhiều lần rồi. Ông nằm dài ra ghế. Cánh tay trái thõng qua một bên. Nửa chiếc còng bị cắt lủng lẳng trên cổ tay viên thám tử. Trông như chiếc vòng tay bằng bạc. Hubble ngồi thẳng dậy. Trước đây anh ta chưa trải qua việc này lần nào. Anh ta đứng ngồi không yên, thế chỉ tổ tốn năng lượng. Chẳng thể đổ lỗi cho anh chàng. Anh ta cứ nhìn tôi suốt. Những câu hỏi hiện lên trong mắt Hubble. Tôi liên tục nhún vai với anh ta. 2 giờ 30 có tiếng gõ cửa. Chỉ là tiếng gõ nhẹ. Cửa mở ra chừng ba mươi phân. Ông già cắt tóc nhiều tuổi hơn đang đứng đó. Ông trỏ ngón tay xương xẩu run rẩy vào trong phòng. Thẳng vào tôi. "Có người cần gặp cậu, con trai ạ," ông bảo. Finlay ngồi thẳng dậy còn Hubble trông sợ hãi. Tôi ra hiệu cho cả hai ở yên chỗ. Đứng dậy lôi khẩu tự động to đùng khỏi túi. Mở khóa an toàn. Ông già khoát hai tay ngăn tôi lại. "Anh không cần đến thứ đó đâu, con trai," ông nói. "Không cần đến nó chút nào hết." Ông già đang mất kiên nhẫn, ra hiệu cho tôi ra ngoài cùng ông. Tôi lại cất súng đi. Nhún vai với hai người kia và đi ra cùng ông già cắt tóc. Ông dẫn tôi vào căn bếp bé xíu. Trong này có một người phụ nữ rất già, đang ngồi trên chiếc ghế cao. Cũng có nước da nâu gỗ gụ như ông già, gây tong teo. Bà trông như cây giữa mùa đồng. "Đây là chị gái tôi," ông già cắt tóc nói. "Đám các anh nói chuyện đã làm bà ấy thức giấc". Rồi ông bước tới bên người phụ nữ. Cúi người nói vào tai bà. "Đây là cậu bé em đã kể với chị," ông nói. Bà già ngước lên mỉm cười với tôi. Rạng rỡ như mặt trời. Tôi phát hiện ra nét đẹp chắc chắn bà từng có, cách đây rất lâu rồi. Bà già chìa một tay ra, tôi nắm lấy. Cảm giác như

những đường chỉ mỏng trên chiếc găng tay mềm đã khô. Ông già để hai chúng tôi lại trong bếp. Bước qua chỗ tôi, ông dừng lại "Hãy hỏi chị tôi về ông ấy," ông bảo. Ông chậm chạp bước ra. Tôi vẫn cầm tay bà cụ. Ngồi xổm xuống cạnh bà. Bà già không cố kéo tay ra. Chỉ để nguyên đó, như một nhánh cây nâu trong bộ móng khổng lồ của tôi. 'Ta nghe không được tốt lắm", bà nói. "Anh phải ghé sát vào". Tôi nói vào tai bà. Bà tỏa ra mùi như một bông hoa nở đã lâu. Như một bông hoa đã phai sắc. "Như thế này bà có nghe được không ?" tôi hỏi. "Thế thì tốt, con trai. Ta có thể nghe được." "Cháu đã hỏi em trai bà về Blake Mù," tôi nói. "Ta biết chuyện đó, con trai. Cậu ấy đã kể cho ta nghe điều đó." "Ông ấy bảo cháu rằng bà biết Blake," tôi nói vào tai bà "Chắc chắn ta biết chứ. Ta biết rõ ông ấy." "Bà kể cho cháu nghe về ông ấy được chứ ?" Bà già xoay đầu chăm chú nhìn tôi vẻ buồn bã. "Có gì để kể chứ ?" bà nói. "Ông ấy đã đi xa rất lâu rồi." "Ông ấy là người thế nào ?" tôi hỏi. Bà già vẫn chăm chú nhìn tôi. Hai mắt mơ màng khi trở về với quá khứ cách đây sáu bảy mươi năm. "Ông ấy mù," bà đáp. Thêm một lúc nữa bà không nói gì. Hai môi mấp máy không thành tiếng và tôi có thể cảm nhận được mạch đang đập dồn dập ở cổ tay xương xẩu của bà. Bà khẽ quay đầu như đang cố gắng nghe gì đó từ chốn xa xăm. "Ông ấy mù", bà nhắc lại. "Và ông ấy là một cậu bé ngọt ngào." Bà già đã hơn chín mươi tuổi. Tuổi bà như ngang với thế kỷ hai mươi. Thế nên bà đang nhớ lại thời hai mươi, ba mươi tuổi. Không phải nhớ lại thời thơ ấu hay thời thiếu nữ. Bà đang nhớ lại thời đã trở thành một người đàn bà. Và bà nhớ tới Blake như một cậu bé ngọt ngào. "Ta là ca sĩ," bà nói. "Còn ông ấy chơi ghi ta. Anh biết rằng ông ấy có thể chơi ghi ta như làm ảo thuật chứ ? Đó là cách ta hay nói về Blake. Ông ấy cầm cây đàn cũ lên và các nốt nhạc cứ thế tuôn ra, nhanh hơn cả tốc độ anh có thể hát. Nhưng mỗi nốt nhạc đều là một tiếng chuông hoàn hảo ngân trong không gian. Chúng ta hát và chơi nhạc suốt cả đêm, rồi đến sáng ta đưa ông ấy ra đồng cỏ, chúng ta ngồi dưới gốc cổ thụ nào đó, chúng ta sẽ hát và chơi

nhạc tiếp. Chỉ để tận hưởng niềm vui. Chỉ bởi vì ta có thể hát còn ông ấy có thể chơi nhạc". Vừa thở bà già vừa ngân nga vài nhịp. Giọng của bà thấp hơn mức cần ngân khoảng một phần năm quãng tám. Bà gầy gò và mong manh đến nỗi ta tưởng như nghe thấy chất giọng nữ cao không còn phong độ. Nhưng bà già đang hát giọng nữ trầm, thấp như hơi thở. Tôi theo dòng suy nghĩ cùng bà và tưởng tượng ra hai người trên đồng cỏ xưa của Georgia. Mùi hoa dại nồng đậm, tiếng vo ve buổi trưa của đám côn trùng lười biếng, hai người tựa lưng vào gốc cây, vừa hát vừa chơi đàn chỉ vì niềm vui được làm việc ấy. Cao giọng ngân nga những bài hát châm biếm ngang tàng Blake đã sáng tác mà tôi rất yêu thích. "Chuyện gì đã xảy ra với ông ấy ?" tôi hỏi. "Bà biết chứ ?" Bà già gật đầu. "Hai người trên trái đất biết điều ấy," bà thì thầm. "Ta là một trong hai người đó." "Bà sẽ kể cho cháu chứ ? Cháu tới đây để tìm hiểu chuyện ấy." "Sáu mươi hai năm rồi. Ta chưa kể cho bất kỳ ai trong sáu mươi hai năm qua." "Bà sẽ kể cho cháu chứ ?" tôi nhắc lại. Bà già gật đầu. Buồn bã. Nước mắt ngấn trong đôi mắt già nua như sương khói. ''Sáu mươi hai năm rồi," bà nói. "Anh là người đầu tiên hỏi ta về chuyện này." Tôi nín thở. Đôi môi bà già mấp máy, bàn tay run lên trong tay tôi. "Ông ấy mù," bà nói. "Và ông ấy hoạt bát. Anh biết từ đó chứ ? Hoạt bát ấy ? Nghĩa là một kiểu tự cao. Tự cao cùng với nụ cười và vẻ nhăn nhở là hoạt bát. Blake hoạt bát. Đầy sức sống và tinh thần. Bước nhanh, nói nhanh, luôn đi lại, luôn cười như quên hết mọi thứ. Nhưng có một lần, chúng tôi bước ra từ một nơi trong thị trấn này, vừa đi theo vỉa hè vừa cười. Chẳng có ai xung quanh trừ hai kẻ da trắng trên vỉa hè tiến về phía chúng tôi. Một gã đàn ông cùng một đứa con trai. Tôi trông thấy chúng liền né khỏi vỉa hè, như chúng tôi phải làm thế. Đứng trên nền đất để bọn chúng đi qua. Nhưng Blake tội nghiệp bị mù. Không nhìn thấy hai kẻ đó. Chỉ đâm sầm vào đứa con trai da trắng. Một đứa con trai da trắng, có lẽ mười, mười hai tuổi. Blake khiến nó ngã lăn ra nền đất. Thằng con trai da trắng chảy máu đầu vì va phải một hòn đá, hét rống lên, anh chưa bao giờ nghe thấy đứa nào la hét thế đâu. Cha của

thằng bé ấy ở bên cạnh nó. Tôi biết hắn. Hắn là một kẻ quan trọng trong thị trấn này. Thằng con trai hắn hò hét như điên. Hét đòi cha nó trừng phạt người da đen kia. Thế nên cha nó nổi đóa đánh Blake bằng cây gậy của hắn. Đầu gậy có tay nắm to bằng bạc. Hắn quất Blake bằng cây gậy đó cho tới lúc đầu ông ấy vỡ toác như quả dưa hấu. Giết ông ấy chết tươi. Nhấc thằng con lên và quay sang tôi. Bắt tôi đến máng ngựa rửa hết tóc, máu và óc của Blake bám ở đầu gậy của hắn. Bảo tôi không bao giờ được hé răng với ai, nếu không hắn cũng sẽ giết tôi. Thế nên tôi chỉ trốn đi đợi cho tới khi một người khác thấy Blake tội nghiệp nằm đó trên vỉa hè. Rồi tôi bỏ chạy, vừa chạy vừa la hét cho những người còn lại. Chẳng nói lời nào về chuyện đó cho bất kỳ ai, đến tận ngày hôm nay." Những giọt nước mắt lớn trào ra từ hai mắt bà già từ từ lăn xuống đôi má hóp lại. Tôi đưa tay lau khô nước mắt cho bà lão. Cầm bàn tay kia của bà lão. "Đứa con trai ấy là ai ?" tôi hỏi. "Là kẻ tôi vẫn trông thấy từ đó đến giờ," bà nói. "Một kẻ mà từ đó đến giờ tôi thấy gần như ngày nào cũng có những lời chế nhạo, làm tôi nhớ tới Blake tội nghiệp của tôi nằm đó với cái đầu vỡ toác." "Hắn là ai ?" "Đó là việc ngoài ý muốn," bà già nói. "Bất kỳ ai cũng có thể đã thấy thế. Blake tội nghiệp là người mù. Thằng con to ai không cần phải hò hét như thế. Nó không bị đau đến mức ấy. Nó đã đủ lớn để hiểu. La hét lớn như thế chính là lỗi của nó. "Thằng con trai ấy là ai ?" tôi lại hỏi bà già. Bà quay sang chăm chăm nhìn vào hai mắt tôi. Nói cho tôi biết bí mật đã chôn chặt sáu mươi hai năm. "Grover Teale," bà nói. "Đã lớn và trở thành thị trưởng, như ông bố của nó. Nghĩ rằng nó là vua của thế giới, nhưng nó chỉ là một thằng bé hỗn xược la hét inh ỏi khiến Blake tội nghiệp của tôi bị giết chẳng vì lý do gì cả trừ chuyện ông ấy mù và là người da đen."

33 Chúng tôi lại dồn vào chiếc Bentley đen của Charlie ở con ngõ phía sau tiệm cắt tóc. Chẳng ai nói gì. Tôi nổ máy. Chạy về phía Bắc. Vẫn tắt đèn đi chầm chậm. Chiếc sedan to lớn xuyên bóng đêm chạy về phía Bắc như một con vật rón rén rời hang ổ. Như một chiếc tàu ngầm đen cỡ lớn gỡ neo lao vào mặt nước lạnh như đá. Tôi chạy xuyên qua thị trấn rồi tấp vào lề đường gần đồn cảnh sát. Im như mồ. "Tôi muốn lấy một thứ vũ khí", Finlay nói. Chúng tôi bước qua những đống đổ nát ở lối vào. Chiếc Bentley của Hubble đang nằm trong phòng họp, im lặng trong bóng tối. Hai lốp trước đã nổ, nó nằm chúi mũi xuống, chìm trong những thứ đổ xuống từ các buồng giam. Sặc mùi xăng. Chắc chắn bình xăng đã thủng. Nắp cốp đang dựng lên bởi đuôi xe bị va chạm đến móp vào. Hubble thậm chí chẳng liếc đến chiếc xe. Finlay bước qua chiếc xe hỏng tới căn phòng lớn ở phía sau. Biến vào trong. Tôi cùng Hubble đợi ở đống mảnh vỡ vốn trước đây là cửa ra vào. Finlay trở ra từ bóng tối với một khẩu súng lục bằng thép không gỉ và một hộp diêm. Cùng một điệu cười nhăn nhở. Ông vẫy làm hiệu cho hai chúng tôi ra xe rồi bật một que diêm. Ném nó xuống dưới đuôi của chiếc Bentley xanh đã hỏng và lạo xạo bước ra chỗ chúng tôi. "Đánh lạc hướng, đúng không ?" ông nói. Khi chạy ra khỏi bãi đỗ, chúng tôi thấy đám cháy bắt đầu. Những ngọn lửa xanh sáng lan qua thảm như sóng trên bãi biển. Lửa bén vào lớp gỗ đã bị vỡ lan ra phía ngoài, rồi cháy mạnh hơn nhờ những vết xăng lớn. Lửa chuyển sang màu vàng và cam, không khí bắt đầu ùa vào qua lỗ lớn trước đây là cửa chính. Trong vòng một phút, toàn bộ nơi đó bốc cháy. Tôi mỉm cười chạy theo tỉnh lộ. Tôi bật đèn pha suốt gần mười bốn dặm đường. Chạy nhanh. Mất chừng mười hai phút. Tắt đèn rồi ngoặt vào lề đường khi còn cách mục tiêu một phần tư dặm. Quay đầu xe trên đường và lùi một chút. Để cho xe quay đầu về phía Nam. Về phía thị trấn. Các cửa không khóa. Chìa khóa vẫn cắm trong ổ. Hubble cầm chiếc kìm cắt kim loại. Finlay kiểm tra khẩu súng lục ông đã lấy từ phòng ra. Tôi luồn tay xuống dưới ghế ngồi lấy ra chiếc chai nhựa

chúng tôi đã đổ đầy xăng. Nhét vào túi chứa chiếc dùi cui. Thật nặng. Kéo mé phải áo khoác xuống và nâng khẩu Desert Eagle cao ngang ngực. Finlay đưa chỗ diêm cho tôi. Tôi bỏ vào túi bên kia. Chúng tôi cùng nhau đứng trong bóng tối ở bờ đất bên đường. Gật đầu với nhau nhanh gọn. Băng qua cánh đồng về phía cây bị sét đánh. Nó nổi bật dưới ánh trăng. Chúng tôi mất vài phút để tới nơi. Chúng tôi chật vật đi trên nền đất mềm. Dừng lại chỗ thân cây cong queo. Tôi lấy chiếc kìm từ tay Hubble, chúng tôi lại gật đầu với nhau và hướng về phía hàng rào ở đoạn nó chạy sát phía sau nhà kho. Bây giờ là 4 giờ kém 10 sáng. Không ai nói gì kể từ lúc rời đồn cảnh sát đang bốc cháy. Khoảng cách từ cây tới hàng rào là bảy mươi lăm mét. Chúng tôi đi mất một phút. Cả ba tiếp tục di chuyển cho tới khi đến đối diện với chân của lối thoát hiểm. Ngay nơi nó được hàn vào lối đi bằng bê tông chạy quanh toàn bộ tòa nhà. Finlay và Hubble kéo căng rào ra để tôi dùng kìm lần lượt cắt từng mắt một. Chúng tôi bước qua như thể nó là bụi cây mềm vậy. Tôi cắt ra một mảng lớn cao chừng hơn hai mét, lên tới chổ bắt đầu giăng dây thép gai, rộng khoảng hai mét rưỡi. Chúng tôi bước qua khoảng trống này. Bước tới phía chân cầu thang. Chờ đợi. Tôi có thể nghe thấy những âm thanh bên trong. Những tiếng di chuyển và cọ xát, chuyển thành những tiếng trầm nghe không rõ do khoảng không gian quá rộng. Tôi hít một hơi sâu. Ra hiệu cho hai người kia ép sát người vào lớp kim loại ốp ngoài. Tôi vẫn chưa chắc chắn về những tên gác vòng ngoài. Lòng tôi bảo rằng sẽ không có lực lượng tăng cường. Nhưng Finlay lo lắng về điều đó. Và từ lâu tôi đã học được một điều rằng hãy để tâm tới những gì mà những người như Finlay lo ngại. Thế nên tôi ra hiệu cho Finlay và Hubble ở yên chỗ, rồi bò vòng qua góc tòa nhà khổng lồ. Cúi thấp người thả chiếc kìm cắt kim loại xuống lối đi bê tông từ độ cao khoảng ba mươi phân. Việc này phát ra tiếng động đáng kể. Nghe giống như kẻ nào đó đang cố đột nhập vào khu nhà kho. Tôi ép sát người vào tường chờ đợi với chiếc dùi cui sẵn sàng trong tay phải. Finlay đoán đúng. Có một tên gác vòng ngoài. Và tôi cũng đúng. Không có lực lượng tăng cường. Tên gác vòng ngoài là thượng sĩ Baker. Hắn đang đảm nhiệm việc tuần tra phía ngoài nhà kho. Tôi nghe tiếng trước khi trông thấy hắn. Tôi nghe thấy tiếng thở căng thẳng và bước chân của hắn trên nền bê tông. Hắn vòng qua góc tòa nhà dừng lại cách tôi một mét. Hắn đứng chằm chằm nhìn chiếc kìm cắt kim loại. Trong tay Baker là khẩu .38 của hắn. Tên này nhìn chiếc kìm rồi lướt ánh mắt dọc theo hàng rào tới đoạn bị cắt.

Rồi hắn bắt đầu chạy về phía đó. Rồi hắn chết. Tôi vung chiếc dùi cui lên nện trúng Baker. Đúng vào họng. Như một đứa con trai vùng quê vặn cổ con gà. Làm tốt việc ấy. Baker vẫn đang đeo thẻ tên phía trên túi áo cảnh sát. Là thứ đầu tiên tôi trông thấy cách đây chín ngày. Chúng tôi bỏ xác hắn trên lối đi. Đợi năm phút. Lắng nghe thật kỹ. Chẳng ai khác xuất hiện. Chúng tôi trở lại chỗ Hubble đang đợi. Tôi hít một hơi sâu nữa. Bước lên lối thoát hiểm. Đi lên. Đặt từng bước chân một thật im lặng và thận trọng. Từ từ đi lên. Cầu thang được đúc từ sắt hay thép gì đó. Các bậc thang không đúc liền nhau. Nếu vụng về, cả cầu thang sẽ phát tiếng động ghê gớm. Finlay ở phía sau tôi, tay phải nắm chắc tay vịn, tay trái cầm súng. Sau ông, Hubble sợ đến mức chẳng dám thở. Chúng tôi rón rén đi lên. Mất hai phút để đi hết mười hai mét. Chúng tôi rất thận trọng. Ba người đứng ở bục nhỏ phía trên cùng cầu thang. Tôi ép tai vào cửa. Yên tĩnh. Không có âm thanh nào. Hubble lấy chùm chìa khóa phòng trong túi ra. Nắm chặt trong tay để chúng không kêu xủng xoảng. Anh ta từ từ, cẩn thận chọn đúng chìa cần dùng, cắm vào ổ khóa. Chúng tôi nín thở. Hubble xoay chìa. Khóa bấm tách. Cánh cửa hé mở. Chúng tôi ngừng thở. Không có âm thanh nào. Không có phản ứng nào. Yên lặng. Hubble kéo cửa ra, chầm chậm, cẩn thận. Finlay nắm lấy cửa từ tay Hubble rồi kéo ra thêm. Đẩy lại phía tôi. Tôi kéo cửa sát vào tường. Giữ cho nó mở hết ra bằng chai xăng trong túi tôi. Ánh đèn tràn ra khỏi phòng, qua lối thoát hiểm tạo thành một dải vàng sáng trên hàng rào và cánh đồng phía dưới chúng tôi mười hai mét. Các đèn hồ quang trong nhà kho được bật, ánh sáng tràn vào qua các ô cửa sổ lớn của phòng làm việc. Tôi có thể nhìn thấy mọi thứ trong phòng này. Và những gì nhìn thấy khiến tim tôi ngừng đập. Tôi chưa bao giờ tin vào vận may. Chưa bao giờ có lý do để làm như thế. Chưa bao giờ dựa vào vận may bởi tôi chẳng bao giờ có thể làm vậy. Nhưng bây giờ tôi gặp vận may rất lớn. Ba mươi sáu năm đen đủi và rắc rối bị cuốn trôi sạch sẽ chỉ bởi một cái liếc duy nhất. Các vị thần đang đứng trên vai tôi, vỗ tay giục tôi tiến bước. Chỉ qua một cái nhìn, tôi biết mình đã chiến thắng. Bởi bọn trẻ đang ngủ trên sàn căn phòng. Các con của Hubble. Ben và Lucy. Nằm dài trên đống bao tải không. Ngủ sâu, dang chân dang tay với vẻ ngây thơ chỉ thấy ở trẻ đang ngủ. Hai đứa bé bẩn thỉu rách rưới, vẫn mặc bộ

đồng phục nhà trường từ hôm thứ Hai. Chúng trông như lũ trẻ sống đầu đường xó chợ trong bức tranh xưa về New York vẽ bằng mực làm từ củ nâu. Duỗi dài chân tay, ngủ say. Bốn giờ sáng. Giờ may mắn của tôi. Bọn trẻ khiến tôi lo lắng đến phát điên. Chúng là yếu tố có thể khiến toàn bộ chuyện này thành việc bất khả thi. Tôi đã nghĩ đi nghĩ lại cả ngàn lần. Đầu tôi nghiên cứu biết bao phương án, cố gắng tìm ra một phương án hữu hiệu. Tôi đã không tìm được phương án nào. Tôi luôn gặp phải một hậu quả xấu nào đó. Điều mà các trường tham mưu gọi là kết quả không như mong muốn. Tôi luôn gặp phải cảnh lũ trẻ bị những khẩu súng trường lớn bắn thành các mảnh văng khắp nơi. Súng trường và trẻ em không thể đồng hành với nhau. Và tôi luôn tưởng tượng ra cảnh bốn nạn nhân cùng hai khẩu súng trường ở cùng một nơi vào một thời điểm. Tôi đã hình dung cảnh Charlie và hai đứa trẻ hoảng loạn la hét còn những khẩu Ithaca lớn đùng đùng khạc đạn. Tất cả diễn ra ở cùng một nơi. Tôi không tìm được giải pháp nào. Nếu tôi có cơ hội được chọn hoặc sẽ được chọn, tôi sẽ chọn cho những đứa trẻ ngủ say ở một nơi khác. Và điều đó đã xảy ra. Điều đó đã xảy ra. Niềm phấn khởi ầm ầm vang lên trong hai tai tôi như đám đông cuồng nhiệt trong một sân vận động khổng lồ. Tôi quay sang Finlay và Hubble. Đặt tay lên gáy họ để kéo lại gần phía tôi. Nói với họ bằng những tiếng thì thầm nhỏ nhất. "Hubble bế con gái," tôi nói. "Finlay bế đứa con trai. Đặt một tay lên miệng chúng. Không được phát ra tiếng động nào. Đưa chúng trở lại chỗ cây. Hubble đưa cả hai ra xe. Ở lại cùng chúng và đợi. Finlay trở lại đây. Làm ngay bây giờ. Làm khẽ nhé !" Tôi lôi khẩu Desert Eagle ra mở khóa an toàn. Tì cổ tay vào khung cửa chính chĩa qua phòng vào cánh cửa phía trong. Finlay và Hubble rón rén vào phòng. Họ làm đúng cách. Giữ thân người thấp. Họ giữ im lặng. Họ ép lòng bàn tay vào hai cái miệng nhỏ. Nâng hai đứa trẻ lên. Rón rén ngược ra. Thẳng người lên vòng qua khẩu .44 to đùng của tôi. Hai đứa trẻ tỉnh dậy giãy giụa. Đôi mắt mở to của chúng chằm chằm nhìn tôi. Hubble và Finlay bế chúng ra phía cầu thang dài. Nhẹ nhàng đi xuống. Tôi lùi ra ngoài cửa tới góc phía xa của bục kim loại. Tìm một góc để yểm trợ cho hai người suốt chặng đường ra. Quan sát họ từ từ leo theo lối thoát hiểm xuống đất, ra hàng rào, qua ô rào bị cắt rời khỏi nơi đó. Họ bước qua quầng sáng trải trên ruộng ở phía dưới tôi mười hai mét và biến vào bóng tối.

*** Tôi thả lỏng người. Hạ khẩu súng xuống. Lắng nghe thật kỹ. Chẳng nghe thấy gì trừ những tiếng cọ rất nhỏ vang lên từ phía trong nhà kho khổng lồ bằng kim loại. Tôi bò vào phòng làm việc. Trườn qua sàn về phía dãy cửa sổ. Chầm chậm ngóc đầu lên nhìn ra ngoài, xuống phía dưới. Thấy một cảnh tượng tôi sẽ không bao giờ quên. Phía trong mái nhà kho gắn tới cả trăm bóng đèn hồ quang. Chúng khiến nơi này sáng hơn cả ban ngày. Khu này rất rộng. Dài phải tới ba mươi mét và sâu hai tư mét. Có lẽ cao mười tám mét. Và đầy những tờ tiền đô la. Một đụn tiền khổng lồ lấp đầy cả kho. Ở góc xa nằm phía cuối nhà kho, đụn tiền phải cao tới mười lăm mét. Rồi dốc dần xuống sàn như một vách núi. Đúng là một núi tiền mặt. Và vươn cao lên như một núi băng khổng lồ màu xanh. Thật khổng lồ. Ở phía bên kia nhà kho, tôi trông thấy Teale. Lão đang ngồi trên sườn núi, chắc chỗ đó cao ba mét. Khẩu súng trường đặt ngang hai đầu gối. Lão như bị thu nhỏ bởi đống tiền xanh khổng lồ vươn cao phía trên. Gần hơn về phía tôi mười lăm mét, tôi trông thấy Kliner. Ngồi ở sườn nhưng cao hơn. Ngồi trên bốn mươi tấn tiền. Súng trường đặt ngang hai gối. Hai khẩu súng trường chĩa về phía Roscoe và Charlie Hubble, tạo thành một hình tam giác. Ở phía dưới tôi mười hai mét, họ chỉ là những hình nhỏ xíu. Họ đang bị buộc làm việc. Roscoe cầm một chiếc xẻng xúc tuyết. Một trong những thứ dụng cụ người ta dùng ở các bang có tuyết để dọn đường cho xe chạy. Cô đang đẩy những đám đô la về phía Charlie. Charlie đang xúc chúng vào các thùng chứa máy điều hòa nhiệt độ và dùng một chiếc cào làm vườn dồn tiền chặt lại. Phía sau hai người phụ nữ có một dãy thùng đã dán kín. Phía trước họ là một đống tiền khổng lồ. Họ quần quật làm việc ở tít phía dưới tôi, nhỏ bé như hai con kiến bên dưới núi tiền. Tôi nín thở. Tôi như bị đóng đinh. Quả là cảnh tượng không thể tin nổi. Tôi có thể thấy chiếc xe bán tải đen của Kliner. Nó được lùi vào, ngay phía trong cửa cuốn. Bên cạnh là chiếc Cadillac trắng của Teale. Cả hai đều là xe lớn. Nhưng chúng chẳng là gì khi đứng cạnh núi tiền. Chúng chỉ như đồ chơi trên bãi biển. Thật kỳ lạ. Đây như là cảnh trong một câu chuyên cổ tích. Như một hang động ngầm lớn nằm trong một mỏ ngọc lục bảo được kể trong truyền thuyết. Tất cả sáng rực bởi một trăm bóng đèn hồ quang. Tít bên dưới là các

hình người bé xíu. Tôi không thể tin nổi. Hubble đã nói rằng một triệu tờ bạc một đô la là một cảnh cực kỳ ấn tượng. Tôi đang thấy bốn mươi triệu tờ. Chính chiều cao của núi tiền gây ấn tượng với tôi. Nó cao vút lên. Cao gấp mười lần hai dáng người nhỏ xíu đang làm việc dưới sàn. Cao hơn một tòa nhà. Cao hơn hai tòa nhà chồng lên nhau. Thật không thể tin nổi. Đây là nhà kho khổng lồ. Và nó chứa đầy một núi tiền xếp chặt. Chứa bốn mươi triệu tờ tiền thật mệnh giá một đô la. Hai người phụ nữ đang di chuyển với vẻ lờ đờ xuất hiện khi cực kỳ mệt nhọc, như hai cảnh sát tuần tra kiệt sức sau khi kết thúc cuộc diễn tập khắc nghiệt. Như ngủ trên đôi chân của mình, di chuyển theo phản xạ trong khi đầu óc gào thét đòi nghỉ ngơi. Họ đang dồn những ôm tiền từ đống khổng lồ kia vào các thùng. Đó là công việc vô vọng. Lực lượng Bảo vệ Bờ biển đã khiến Kliner bất ngờ. Hắn chưa sẵn sàng. Nhà kho đã bị nhét đầy tiền. Roscoe và Charlie đang bị buộc làm việc như những nô lệ kiệt sức. Teale và Kliner đang theo dõi họ làm như những tên giám sát, đầy vẻ bơ phờ, như thể chúng biết mình đang ở đường cùng. Đống tiền khổng lồ sắp chôn vùi chúng. Nó sắp bao vây hai tên và bóp nghẹt chúng cho tới chết. Tôi nghe tiếng chân Finlay vang lên rất khẽ trên lối thoát hiểm. Tôi bò ngược ra khỏi phòng gặp ông trên bục kim loại phía ngoài. "Họ trở lại xe rồi," viên thám tử thì thầm vào tai tôi. "Tình hình ta ở đây ra sao ?" "Hai khẩu súng trường đã rút ra sẵn sàng," tôi thầm thì. "Roscoe và Charlie trông ổn." Finlay liếc vào phía trong, về phía ánh sáng mạnh và những tiếng ồn lờ mờ. "Tất cả họ đang làm gì ở đó ?" ông hỏi tôi bằng giọng rất nhỏ. "Vào xem đi", tôi nói khẽ. "Nhưng nhớ nín thở nhé !'' Chúng tôi cùng nhau cúi người rón rén đi vào. Đi tới bên cửa sổ. Từ từ ngóc đầu lên. Finlay nhìn xuống quang cảnh như trong mơ ở phía dưới. Ông chằm chằm nhìn xuống một lúc, hai mắt đảo qua hết nơi này. Cuối cùng chằm chằm nhìn tôi. Nín thở. "Chúa ơi," ông thì thào. Tôi gật đầu ra hiệu cho ông lui ra. Chúng tôi lại rón rén về bục trên lối thoát hiểm. "Chúa ơi," ông thì thào lần nữa. "Ông có thể tin vào chuyện đó không ?"

Tôi lắc đầu. "Không," tôi nói với đội trưởng thám tử. "Tôi không thể tin nổi", "Chúng ta sẽ làm gì ?" Tôi giơ một tay lên ra hiệu cho Finlay đợi trên bục. Rồi lại rón rén vào trong nhìn xuống qua cửa sổ. Tôi quan sát toàn bộ khu vực. Nhìn nơi Teale đang ngồi, nhìn cửa trong phòng làm việc, kiểm tra tầm hỏa lực của Kliner, đoán xem có thể Roscoe và Charlie sẽ thế nào. Tôi tính toán các góc độ và ước lượng cự ly. Rồi đi đến một kết luận rất rõ ràng. Rằng đó quả là một vấn đề rất hóc búa. Lão già Kliner là kẻ ở gần chúng tôi nhất. Roscoe và Charlie đang làm việc ở khu vực giữa lão và Teale. Teale là kẻ nguy hiểm bởi lão đang ở đầu kia của nhà kho. Khi tôi bước ra từ đỉnh cầu thang, cả bốn người sẽ ngước lên nhìn tôi. Kliner sẽ nâng khẩu súng trường của hắn lên. Teale cũng sẽ nâng súng của lão lên. Cả hai sẽ bắn vào tôi. Kliner sẽ có phát bắn thẳng, hướng lên trên sáu mươi độ, như một tay săn vịt. Teale sẽ bắn theo góc khá hẹp. Bởi lão đang được nâng lên ba mét nhờ rìa núi tiền. Từ cự ly ba mươi mét, lão cần nâng thêm mười mét nữa. Góc hẹp. Có lẽ mười lăm hoặc hai mươi độ. Khẩu Ithaca lớn của lão được thiết kế để bao quát góc lớn hơn mười lăm hay hai mươi độ. Phát bắn của lão sẽ nhả đạn trúng hai người phụ nữ. Phát bắn của lão sẽ giết chết họ. Khi Teale ngước lên nhìn tôi và nhả đạn, Roscoe và Charlie sẽ chết. Tôi bò ra khỏi phòng làm việc gặp Finlay ở cầu thang thoát hiểm. Cúi người nhặt chai xăng lên. Đưa cho ông cùng hộp diêm. Ghé lại gần nói với ông điều cần làm. Chúng tôi thì thầm với nhau rồi ông chầm chậm bước xuống cầu thang dài bằng kim loại. Tôi rón rén đi qua phòng cẩn thận đặt khẩu Desert Eagle trên sàn, cạnh cửa trong phòng. Mở khóa an toàn. Rón rén trở lại phía dưới cửa sổ. Từ từ ngóc đầu lên chờ đợi. Ba phút trôi qua. Tôi chằm chằm nhìn đầu bên kia, nơi có cửa cuốn. Chăm chăm nhìn và đợi. Quan sát khe hở giữa sàn bê tông với cạnh dưới của cửa, ngay ở đầu bên kia, nằm bên kia đường chéo của khoảng không gian khổng lồ. Tôi chăm chăm nhìn và đợi. Bốn phút trôi qua. Những hình người nhỏ xíu bên dưới vẫn lao động vất vả. Roscoe và Charlie đang dồn tiền vào các thùng, dưới ánh mắt quan sát chăm chú của Teale. Kliner đang leo lên núi tiền để đá một dòng tiền mới xuống sườn dốc, về phía hai người phụ nữ. Năm phút đã trôi qua. Kliner đã bỏ súng xuống. Hắn đang cách nó mười mét, sục sạo trong đống tiền, bắt đầu tạo nên một thác tiền nhỏ chảy xuống chân

Roscoe. Sáu phút đã trôi qua. Bảy phút. Rồi tôi trông thấy vết xăng ướt tối thẫm bò phía dưới cửa cuốn. Nó chảy thành một vũng hình bán nguyệt. Và tiếp tục chảy. Nó vươn tới đáy của đụn đô la khổng lồ, dưới chỗ Teale ngồi ở sườn núi cao khoảng ba mét. Nó tiếp tục lan ra. Một vệt tối thẫm trên sàn bê tông. Kliner vẫn đang làm việc, cách Teale mười hai mét qua núi tiền, vẫn cách vũ khí của hắn mười mét. Tôi bò lại phía cửa trong phòng. Khẽ níu tay nắm xuống. Chốt cửa mở ra. Tôi nâng súng lên. Mở cửa ra một nửa. Lại rón rén về cửa sổ. Theo dõi vũng xăng đang lớn dần. Tôi sợ rằng Teale sẽ ngửi thấy mùi xăng ngay. Đó là nhược điểm của kế hoạch. Nhưng lão không ngửi thấy. Bởi cả nhà kho bốc lên thứ mùi khó chịu rất mạnh. Ngay khi mở cửa thứ mùi ấy ập vào tôi như giáng đòn vào mặt. Thứ mùi chua, nặng và nhờ nhợ. Mùi của tiền. Nhiều triệu tờ tiền đô la nhăn nhúm đang bốc lên mùi từ những bàn tay đầy mồ hôi và những chiếc túi chua loét. Mùi ấy cứ lơ lửng trong không khí. Nó chính là mùi tôi đã thấy ở những chiếc thùng rỗng trong ga ra của Sherman Stoller. Mùi chua của tiền cũ. Rồi tôi thấy ngọn lửa bùng lên trên sàn. Finlay đã ném một que diêm. Ngọn lửa thấp màu xanh. Nó lao qua phía dưới cửa bùng lên phía trên vệt xăng như một bông hoa đang nở. Ngọn lửa tiến tới chân của núi tiền xanh khổng lồ. Tôi thấy Teale quay ngoắt đầu lại nhìn chằm chằm, người rúm lại vì sợ hãi. Tôi bước tới bên cửa giật mở ra. Lấy đích ngắm cho súng. Một cổ tay bám chặt lấy tay vịn ban công. Kéo cò bắn bay đầu Teale, từ cự ly ba mươi mét. Viên đạn lớn đi trúng thái dương lão thị trưởng, khiến sọ lão bắn tung tóe vào lớp ốp kim loại phía sau. Rồi mọi thứ trở nên tệ hại. Tôi thấy nó diễn ra bằng những cảnh quay chậm mà ta thường thấy khi đầu óc ta tư duy nhanh hơn hành động của ta. Tay cầm súng của tôi đang di chuyển về bên trái để bám theo Kliner trên đường trở lại chỗ đặt vũ khí của hắn. Nhưng Kliner lao về bên phải. Hắn thực hiện một cú nhảy tuyệt vọng xuống sườn núi tiền, tới nơi Teale đã buông rơi khẩu súng trường của mình. Hắn không quay lại với khẩu súng đó. Hắn sẽ dùng súng của Teale. Hắn sẽ sử dụng chính góc bắn chết người mà Teale sẽ dùng nếu lão còn sống. Tay tôi quay ngược lại. Nó đang cắt trong không khí một đường cung đẹp đẽ ngay phía sau tên Kliner đang nhào người trượt xuống trong khi một đám tiền lớn văng tứ tung. Rồi tôi nghe thấy tiếng cửa để đi vào sàn chính bên dưới đó bật tung. Tiếng xô cửa chạm với tiếng vang của phát bắn giết chết Teale, và tôi trông thấy Picard loạng choạng tiến vào

sàn kho. Chiếc áo khoác của hắn không còn, tôi thấy máu thấm ướt chiếc sơ mi trắng ngoại cỡ của hắn. Tôi thấy Picard đang lảo đảo đi những bước dài về phía hai người phụ nữ. Đầu hắn đang quay lại, cánh tay phải xoay tròn hướng lên trên đề trỏ vào tôi. Tôi trông thấy khẩu .38 của Picard lọt thỏm trong bàn tay hắn. Cách đó ba mươi mét, tôi thấy Kliner tới được chỗ khẩu súng trường của Teale, ở nơi nó đã rơi ngập trong đống tiền. Tôi thấy dưới chân đụn tiền khổng lồ, ngọn lửa xanh đang bùng lên phía trên. Tôi thấy Roscoe chậm chạp xoay người ngước nhìn tôi. Thấy Charlie Hubble chậm chạp xoay người theo hướng khác để nhìn Teale. Tôi thấy cô bắt đầu la hét. Hai bàn tay Charlie từ từ đưa lên mặt, miệng cô há ra còn hai mắt đang nhắm lại. Tiếng hét của cô nhẹ nhàng vang đến chỗ tôi, đập vào tiếng vọng đang giảm dần của viên đạn từ khẩu Desert Eagle và tiếng xô cửa. Tôi nắm chặt lấy tay nắm ban công phía trước và dùng một tay kéo người về phía đó. Chúc nòng súng thẳng xuống dưới, siết cò bắn xuyên qua vai Picard chỉ một khoảnh khắc rất nhỏ trước khi khẩu .38 của hắn dừng lại ở tôi. Tôi thấy Picard đổ gục xuống sàn, máu từ người hắn phun ra trong khi tôi lại chuyển đích ngắm sang Kliner. Đầu óc tôi lúc này rất tỉnh táo. Chỉ xử lý việc này như một vấn đề thuần túy cơ học. Tôi đã tì vai xuống nên lực giật của khẩu tự động loại lớn sẽ khiến nó hướng lên trên. Điều đó sẽ khiến tôi tiết kiệm được một phần nhỏ giây trong khi tôi quét ánh mắt sang phía bên kia nhà kho. Tôi cảm nhận được cú đập ở lòng bàn tay khi khí nóng của thuốc súng đẩy vỏ đạn đã bắn ra và đẩy viên đạn tiếp theo vào. Kliner đã giương nòng khẩu Ithaca lên dưới một cơn mưa tiền từ từ rơi, lão đang nạp đạn. Xen trong tiếng nổ lớn của phát đạn ngăn chặn Picard, tôi nghe thấy tiếng lách cách phát ra từ hệ thống cơ học của khẩu súng trường. Trong đầu tôi tính toán được rằng Kliner sẽ bắn với góc chỉ cao hơn phương ngang một chút để phần trên cùng của loạt đạn sẽ găm vào tôi còn phần đáy của nó sẽ cắt đứt đầu Roscoe và Charlie. Nó thông báo với tôi rằng viên đạn của tôi sẽ mất hơn bảy phần trăm giây để bay hết chiều dài của nhà kho và rằng tôi nên nhằm vào

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 48

Đang tải bình luận...