Chương 19
Cửa ngầm
“Chuya, lại đây!”
Trong lúc tôi đứng ngây ra, Genji bước tới cửa phòng nghỉ, mở cửa, ngoái lại vẫy tay gọi.
“Sang bên này, chúng ta sẽ làm rõ vấn đề ban nãy chưa nói xong.”
“Vâng.” Tôi ậm ờ, chậm chạp đi theo tiếng gọi. “Vấn đề ban nãy chưa nói xong” nhiều lắm luôn, tôi không rõ Genji muốn đề cập đến vấn đề nào nữa. Vả lại, giờ tôi chỉ quan tâm đến góc tranh kia.
Hoa vàng nở trong bóng tối. Nhờ Genji nhắc, giờ tôi nhận ra đúng là hoa canna. Màu đỏ sẫm rỉ ra từ nhị, loang sang cánh hoa, bên dưới là cảnh tượng hung tàn như ác mộng. Ý nghĩa gì đây? Nghe giọng Genji, dường như anh đã biết rồi.
“Kanna” là tên người mẹ quá cố của Genji, qua đời vào vào đêm mùng 5/8 hai mươi bảy năm trước, sau khi hạ sinh Genji tại nhà này. Cha Kanna là Urado Takuzo, mẹ là Urado Sakura, ông ngoại là Urado Genyo, bà ngoại là Urado Dahlia...
Tranh vẽ hoa canna, trùng tên người mẹ này. Suy ra cô gái bị quái vật ba ngón đè xuống là Kanna? Kanna là người thế nào? Kanna là con cả. Mowa là con út. Ở giữa còn có Mana mắc bệnh lão nhi và Mii. Con cả và con út chênh nhau rất nhiều tuổi. Nếu Mowa tận mắt nhìn thấy cảnh tượng trong tranh thì sự việc xảy ra lúc nào, ở đâu, và làm sao mà Mowa...
“Chuya, mau qua đây!”
Genji cao giọng gọi làm tôi sực tỉnh, lảo đảo đi vào phòng nghỉ. Genji đứng ngay bên lò sưởi không ống khói. Tôi bước tới gần, quan sát anh, “ ‘Vấn đề ban nãy chưa nói xong’ là chỉ...”
Genji “Ừ” một tiếng, ngoảnh ra nhìn tôi, “Còn một điểm chưa làm rõ về quá trình tẩu thoát của hung thủ còn gì?”
“À, đúng, anh có nói vậy.”
Tôi ngẩng nhìn cửa sổ phía trên lò sưởi. Tấm kính đỏ vốn gắn ở đó đã vỡ, giờ còn trơ khung đen, trông như miệng hang hình chữ nhật, rộng gần bằng lò sưởi, cao hơn một mét, hai người lớn cùng chui qua dễ dàng. Nhìn chung không thay đổi gì so với lúc chúng tôi phát hiện thi thể Mowa. Khác biệt duy nhất là không nghe thấy tiếng mưa bão sấm chớp nữa, đèn bên đại sảnh đỏ giờ bật sáng. Thế thôi!
“Isao làm đổ tượng đồng, khiến cửa thông ra hành lang không mở được. Cùng đường bí lối, hung thủ đành phải vớ ghế đập vỡ kính, chạy qua đây sang đại sảnh đỏ...”
Rõ rồi. Ichiro làm chứng là bắt gặp, nên đủ để khẳng định. Quá trình tẩu thoát còn điểm nào chưa rõ đây? Tôi trầm ngâm suy nghĩ. Genji thì quỳ một gối xuống, tay phải bật đèn pin soi vào sâu trong lò sưởi.
“Anh làm gì thế?” Dù chưa hiểu, tôi vẫn bắt chước Genji, quỳ một gối xuống sàn. “Genji à...”
“Được rồi, xem chút thôi mà.” Genji quỳ nốt gối còn lại, khom lưng, gần như dán mình xuống sàn, trườn nửa người vào lò sưởi.
Ấn tượng mấy tiếng trước bỗng hiện về trong đầu. Thấy kính trên lò sưởi vỡ, tôi nghĩ tốt nhất nên kiểm tra đại sảnh đỏ, muốn sang ngay mà Genji cứ nấn ná ở đây.
“Thấy rồi!” Tiếng Genji vọng ra. “Chuya, cậu cũng vào xem đi."
Bắt chước Genji, tôi quỳ hai gối xuống đất, vừa dè chừng tay trái quấn băng vừa trườn vào cạnh Genji. Vai kề vai, mặt sát mặt trong lò sưởi bụi bặm, cảm nhận được cả hơi thở của nhau.
“Sao hả, Chuya?” Genji đổi tay cầm đèn pin, duỗi tay phải vào sâu hơn. “Trong này có một cái chốt. Đẩy nó lên...”
Két, tiếng kim loại khe khẽ vang lên, rất gần.
“Thế là mở được khóa.” Genji nói nhỏ rồi để đèn pin xuống, chú ý chỉnh hướng chiếu sáng và duỗi hai tay vào chỗ sâu nhất lò sưởi, ở đó có một miếng sắt. Genji đặt hai tay gần chính giữa miếng sắt, trượt mạnh...
Cùng tiếng “kịch” trầm đục, một phần miếng sắt chuyển động. Một ô vuông mỗi cạnh sáu bảy chục phân trượt sang bên, để lộ một tấm màu đen giống tấm gỗ. Xét vị trí, có lẽ nó nằm phía sau tường phòng bên cạnh...
Genji quả quyết đẩy tay vào tấm gỗ. Sau tiếng động khe khẽ không giống tiếng kim loại, cánh cửa gỗ màu đen bật ra, ánh đèn dìu dịu hắt sang, chính là ánh đèn bên đại sảnh đỏ.
“Trời ơi!” Tôi bất giác kêu lên.
Quả nhiên ở đây cũng có kết cấu ngầm! Ý nghĩ này chợt hiện ra từ mớ hỗn độn tối tăm...
“Genji, đây là...”
“Cậu thấy đấy.” Genji nhặt đèn pin lên, từ từ bò qua ô vuông trong lò sưởi. “Chuya cũng qua đây đi. Bên này còn khá nhiều mảnh kính vỡ, cẩn thận nhé.”
Genji nhanh chóng bò sang đại sảnh đỏ. Anh nhìn tôi vẫn đang loay hoay ở lò sưởi, “Cậu hiểu rồi chứ. Mấu chốt nằm ở đây. Nhà Bắc bị cháy mười tám năm trước. Kiến trúc sư phụ trách tu bổ đã thiết kế vài kết cấu tinh nghịch. Một trong số đó là cửa ngầm này.”
Tôi bò qua. Cửa phía phòng nghỉ nằm sát sàn, nhưng sang đại sảnh đỏ lại cao hơn sàn chừng ba chục phân. Tôi vừa né kính vỡ vừa không dùng tay trái, nên bò sang được cũng khá vất vả. Genji cúi xuống dìu đỡ, không thì tôi đã phải đổi chiều để thò chân ra trước.
“Tay cậu vẫn ổn chứ? Đáng ra không nên ép cậu.”
“Hơi đau. Nhưng không sao.”
Tôi dựa vào ngực Genji và đứng dậy, phủi bụi bặm trên người, quan sát cánh cửa vừa bò qua. Cửa vuông, mỗi cạnh sáu bảy chục phân, đủ để đàn ông cao lớn chui qua dễ dàng.
“Tấm sắt trong lò sưởi trượt theo phương ngang, còn tường bên đại sảnh thì mở ra thế này...” Genji giải thích và đẩy cửa phía đại sảnh lại.
Nhìn từ lò sưởi, cánh cửa là một tấm gỗ. Nhìn từ phía này, cửa lại ốp đá đen, hài hòa với mặt tường xung quanh, khá dày dặn, trông qua không nhận ra được.
“Bên kia đại sảnh cũng có kết cấu tương tự.” Genji nhìn sang bên kia, là bên Đông. “Lò sưởi phòng nhạc cũng kết nối với đại sảnh đỏ theo cách này. Lò sưởi ở đó to hơn ở đây nhiều, di chuyển thoải mái dễ dàng hơn. Cửa hai bên đều chỉ mở được từ phía lò sưởi.”
“Lối đi một chiều à?”
“Ừ. Tiện thể cho cậu biết, hành lang trên tầng hai đại sảnh đỏ cũng có một kết cấu ngầm. Giữa nó và hành lang chính tầng hai có cửa xoay giống cửa xoay cậu thấy ở Nhà Đông.”
“Giống nhà ninja thật đấy!” Tôi cố ý đùa. “Ở đây không có kết cấu làm trần nhà sập xuống, đồng hồ quả lắc phóng dao hay căn phòng đặt bẫy chứ?”
“Ha ha.” Genji nhướng mày cười nhạt. “Có khi có, chỉ là tôi không biết thôi.”
“Mời hết các trinh thám gia đương đại như Edogawa Ranpo, Yokomizo Seishi tới đây luôn nhỉ?” Tôi vẫn nửa thật nửa đùa.
Genji hằng giọng, xòe tay vẻ hài hước, “Để bàn với ba thử xem.” Dứt lời, anh buông tay xuống, nghiêm túc trở lại, trân trối nhìn cánh cửa hòa làm một với tường đen xung quanh.
“Cửa ngầm này là dì Mowa kể cho tôi nghe. Dì bò vào lò sưởi, mở cho tôi xem, còn cười bảo, “Tại sao phải bày ra trò trẻ con này chứ.’ Bấy giờ Kiyoshi chưa ra đời, dì còn minh mẫn, tranh vẽ đa số đều bình thường. Dì rất thương tôi, lúc vui vẻ còn dạy tôi kĩ thuật hội họa...”
“Cửa ngầm ở phòng nhạc thì sao? Cũng là cô Mowa bảo anh à?”
“Không.” Genji khẽ lắc đầu. “Tôi nhớ là tự tôi phát hiện ra. Midori Mio thì bảo hai đứa nghe dì Tsuruko kể.”
“Nghĩa là cặp song sinh đã biết, ngoài phòng nhạc thì ở đây có kết cấu tương tự.”
“Chắc vậy.”
“Chú Seijun và Kiyoshi thì sao?”
“Tất nhiên là biết.”
“Ồ, ra vậy.” Đến giờ tôi mới hiểu Genji để ý điều gì về quá trình tẩu thoát của hung thủ trong vụ Mowa. “Nghĩa là logic ở đây trái ngược với vụ bác Hiruyama bị giết hôm qua, phải không Genji?”
“Cửa chính từ hiện trường ra hành lang không mở được, nhưng tại sao hung thủ phải đập vỡ kính cửa sổ phòng nghỉ để thoát ra?” Nét mặt Genji nghiêm nghị, hai tay chống nạnh, giọng điềm đạm đến mức lãnh đạm. “Lò sưởi có cửa ngầm, không cần đập vỡ kính vẫn chạy sang đại sảnh đỏ được. Lúc đó đèn pin đặt ngay trên bệ lò sưởi, cho dù phòng hơi tối, cửa ngầm có khó tìm thì, như tôi vừa thao tác đấy, mở ra không khó. Tiết kiệm thời gian công sức hơn, lại hạn chế rủi ro bại lộ vì tiếng kính vỡ. Song…”
Genji quay về phía tôi lúc này đang đứng dựa tường, “Song hung thủ không dùng cửa ngầm, mà lại đập vỡ kính, tại sao?”
“Bởi vì...” Tôi liếm đôi môi khô khốc. “Tình hình ở đây trái ngược với vụ bác Hiruyama.”
Genji gật đầu, khoanh tay trước ngực.
Tôi nói tiếp, “Phòng nghỉ tầng một Nhà Nam, nơi bác Hiruyama bị giết, có cửa ngầm thông sang nhà kho giáp hành lang. Để tránh bị chị Shinobu phát hiện, hung thủ ra vào hiện trường bằng cửa ngầm, dĩ nhiên có thể kết luận, hung thủ là kẻ biết rõ nhà kho có cửa ngầm.”
“Đúng.”
“Vụ này thì trái ngược...” Tôi lại liếm môi, không biết có phải vì dính bụi mà thấy đăng đắng. “Hiện trường cũng có cửa ngầm, nhưng hung thủ không dùng cửa ngầm cho thuận tiện và giảm thiểu rủi ro mà lại cất công đập kính để tẩu thoát. Tại sao? Tại vì hung thủ không biết có cửa ngầm này.”
“Ừm, logic đơn giản và hợp lý.” Genji hài lòng xoa cằm. “Không biết ở đây có cửa ngầm, nên chỉ còn cách đập vỡ kính để bỏ chạy.”
“Suy ra, hung thủ ở vụ thứ hai thỏa điều kiện trái với hung thủ ở vụ thứ nhất. Đó là không biết có cửa ngầm trong lò sưởi.”
“Đúng.”
“Giờ phải thảo luận xem ai phù hợp với điều kiện này, như vụ đầu tiên ấy.”
“Ừ, thử xem.” Giọng Genji vẫn rất lãnh đạm. Anh khoanh tay trước ngực, lặng lẽ bước tới cầu thang, chậm rãi quay gót, dựa vào tay vịn cầu thang rồi bảo tôi, “Ai không biết có cửa ngầm? Lọc theo hướng này sẽ thuận lợi hơn. Thế nào, bắt đầu chứ?”
Giọng anh vẫn thế, nhưng đêm khuya thanh vắng sau mưa bão, cộng với trần nhà cao vút, âm vọng dội lại lồng lộng nghe rất khó chịu.
“Trước tiên...” Genji nói, “Như cửa ngầm ở Nhà Nam, người ở đây lâu có lẽ đều biết cả.”
“Chắc vậy.”
“Liệt kê nhé. Ba và chú Seijun không thể không biết. Dì Mii tuy không tỉnh táo, nhưng trước kia phải biết. Tôi, Midori, Mio biết. Kiyoshi cũng thế.”
“Nghĩa là người nhà Urado ở đây đều biết?”
“Ngay người làm như Tsuruko, Shinobu, Shishido và Onimaru có lẽ cũng biết hết, lý do tương tự cửa ngầm Nhà Nam.”
“Chắc chỉ mình Shinta không biết nhỉ?”
“Ừm. Nó phát hiện cửa ngầm Nhà Nam là nhờ tình cờ lúc chơi đùa, Nhà Bắc thì không nằm trong phạm vi thám hiểm của nó. Có thể liệt Shinta vào danh sách nghi can không?”
“Chà, Genji à, tạm thời hãy giới hạn ở vấn đề ‘biết và không biết’ đã...”
“Nhất trí...” Genji nhìn quanh đại sảnh đỏ. “Tiếp theo, xem xét những người còn lại.”
“Tôi tới Ám Hắc Quán lần đầu, tất nhiên không biết cửa ngầm.” Tôi lên tiếng trước, xác nhận mình phù hợp với điều kiện trở thành hung thủ.
Genji nghiêm mặt tiếp lời, “Khách không mời Enami giống cậu, không biết.”
“Isao và cô Kayako thì sao? Họ không biết cửa ngầm Nhà Nam, có điều”
“Có điều gì?”
“Hễ tới đây, vợ chồng Rikichi Kayako đều ở Nhà Bắc, có thể vô tình khám phá ra cửa ngầm lắm chứ...”
“Nhất trí, không thể nói là không có khả năng”
“Isao không ở cùng họ, mà ở Nhà Đông một mình.”
“Đúng, nhưng nó toàn dùng bữa ở Nhà Bắc. Hôm qua nó cũng tự mò xuống hầm tìm rượu đấy thôi?”
“Ừ.”
“Nếu mợ Kayako có khả năng tình cờ biết được, thì Isao cũng thế.”
“Ừ.”
“Cho nên, khách quan mà nói thì họ đều có khả năng biết. Tuy nhiên, tôi cảm thấy họ ‘không biết’...”
Nói cách khác, ngoài tôi và Enami, phải tính cả Kayako và Isao vào diện thỏa điều kiện là hung thủ.
“Cuối cùng, còn lại Noguchi.” Genji nói tiếp. “Hơi khó phán đoán.”
“Noguchi cũng có khả năng ‘không biết’ à?”
“Ừm.”
“Noguchi là bạn bè lâu năm với gia đình anh mà? Tới là ở Nhà Bắc.”
“Đúng. Bác ấy bảo từng nghe kể về cửa ngầm Nhà Nam. Cho nên tôi nghĩ có thể bác ‘biết’ Nhà Bắc có cửa ngầm. Thực tế thì phải đi hỏi. Vì đây chỉ là một trong nhiều kết cấu bí mật của dinh thự, rất có thể bác ấy biết các cửa khác, riêng cái này lại không….”
Nếu thế, tạm thời cho Noguchi vào diện thỏa điều kiện.
“Được rồi, Chuya...” Genji rời khỏi tay vịn cầu thang, đi tới bên tôi, kính vỡ lạo rạo dưới gót chân. Anh hạ giọng, “Hung thủ phải thỏa điều kiện của vụ thứ nhất lẫn vụ thứ hai. Sao hả? Có ai phù hợp không?”
“Để tôi nghĩ xem.”
Trong vụ thứ nhất, người thỏa điều kiện “biết cửa ngầm” là tám người nhà Urado (Ryushiro, Mii, Seijun, Mowa, Genji, Midori, Mio, Kiyoshi) và bốn người làm (Tsuruko, Shinobu, Shishido, Onimaru), thêm Shinta và Noguchi, tổng cộng 14 người. Trừ Mowa vừa bị giết, còn 13 người.
Trong vụ thứ hai, người (có thể) thỏa điều kiện “không biết cửa ngầm” là tôi, Enami, Shinta, Kayako, Isao và Noguchi. Suy ra...
“Là Shinta và Noguchi?”
“Đúng.” Genji gật đầu, nhíu chặt lông mày. “Chỉ hai người này thỏa mãn đồng thời thỏa điều kiện.”
“Noguchi có bằng chứng ngoại phạm vụ thứ hai.”
“Đúng”
“Vậy thì chỉ còn Shinta.”
“Cho nên cậu thấy thế nào, Chuya? Cậu có tin là thằng nhóc làm không?”
“Tám tuổi, thiểu năng, giết hai mạng người liên tiếp. Khó tin.”
“Tôi cũng nghĩ thế. Chưa nói tuổi, riêng phần trí tuệ đã đủ cản trở rồi.” Genji quả quyết nói, chân mày càng nhíu chặt hơn. “Shinta không thể là hung thủ.”
“Rốt cuộc.” Tôi rầu rĩ cau mày theo.
Không ai phù hợp. Chúng tôi suy luận bao lâu, kết luận cuối cùng là không ai là hung thủ hả? Sao lại thế được! Tôi băn khoăn chớp mắt, và nhanh chóng nghĩ ra một cách giải thích.
“Nhỡ không phải do một người giết thì sao?” Tôi ngần ngừ hỏi.
“Thế lại dễ dàng quá!” Genji trả lời, giọng như muốn nói anh đã nghĩ tới lâu rồi. “Tôi không ủng hộ quan điểm này lắm. Chẳng người bình thường nào muốn tin nơi mình đang sống lại có đến hai kẻ giết người.”
“Nhưng mà...”
“Ngoài lý do cảm tính, tôi thực sự nhận thấy hai vụ liên quan đến nhau, cũng không cho rằng có chuyện đồng phạm. Nói sao nhỉ?” Genji day day thái dương. “Rất khó giải thích rạch ròi, đại loại là, cảm thấy hai vụ tương đồng, về tổng thể, hoặc về một phần. Tóm lại, hai vụ đem lại cùng một cảm giác. Có lẽ cậu thấy khó hiểu... Tôi vẫn cho rằng đều do một người gây ra.”
“Không, tôi hơi hơi hiểu ý anh.” Tôi gật đầu. “Đúng, hai vụ có điểm chung, như anh nói, do ‘cảm giác’. Tôi tán thành.”
“Nếu thế...”
“Genji, chúng ta thảo luận chuyện khác đi.”
Genji chớp mắt lia lịa, “Chuyện gì?”
“Một chuyện không thể trốn tránh. Tại sao người bị hại trong vụ thứ hai lại là Mowa? Vì lý do gì mà phải giết cô ấy?”
“Động cơ à? Đây cũng là một câu đố.” Genji hít sâu một hơi, cắn môi với vẻ thương xót. “Dù dì Mowa quá đau buồn vì bệnh tình của Kyoshi, dẫn tới thần kinh không ổn định, nhưng không đến nỗi gây thù chuốc oán với ai. Kể cả bực bội về lời nói và hành động của dì, cũng không đủ để nảy sinh ý đồ sát nhân.”
“Nếu là án giết người hàng loạt, tức là có kẻ rất muốn giết bác Hiruyama và cô Mowa.”
“Đúng, nhưng theo như tôi biết...” Genji lắc đầu, buột miệng “Không” như muốn kìm nén nỗi đau. “Dĩ nhiên rồi. Vì động cơ phạm tội là vấn đề sâu xa trong tâm lý hung thủ. Tâm lý thì ai mà biết được, nên có thể cất giấu những ý tưởng khủng khiếp.”
“Ý tưởng khủng khiếp..” Tôi nhớ tới hình ảnh Mowa ngã sõng soài trên sàn, nhớ tới Hiruyama nằm bất động trên giường sáng sớm hôm qua, nhớ lại chiều qua mình đã thảo luận với Genji đủ điều vô nghĩa xoay quanh cái chết của bác gác cổng lưng gù. Trong màn sương mờ mịt, một bàn tay độc ác đang vượt qua không gian thời gian, vẫy gọi tôi.
“Genji, phải chăng việc cô Mowa bị giết liên quan tới án mạng mười tám năm trước?” Tôi từ tốn hỏi.
Genji bất ngờ “Hả” một tiếng rồi gục gặc đầu, giọng miễn cưỡng, “Cậu vẫn luẩn quẩn chuyện đó à?”
“Ừ.” Tôi cũng miễn cưỡng gật đầu. “Anh cho rằng án mạng không liên quan tới vụ việc mười tám năm trước sao? Nói ra thì hơi thiếu sức thuyết phục và lạc đề, nhưng...”
“Bác Hiruyama bị giết để bịt miệng, vì đã nắm được bí mật thiết yếu trong án mạng mười tám năm trước? Dì Mowa bị giết cũng để bịt miệng, vì cùng lý do?”
“Không, chẳng là...”
Vẫn chưa tìm ra mối liên kết. Quá khứ và hiện tại không dính dáng gì sao? Tôi im lặng, cố sắp xếp các nghi vấn rời rạc trong đầu. Tay trái đau nhức làm tôi không khỏi nhíu mày. Có lẽ Genji ít nhiều đã để tâm lời tôi, nên cũng im lặng.
Tóm lại... tôi tự nhủ, chỉ là dân nghiệp dư, dù suy luận theo truyện trinh thám đi nữa thì cũng khó mà có phát hiện gì đáng kể. Phải chăng do thiếu vắng các quy trình điều tra nghiệp vụ cùng phân tích chuyên môn như giám định hiện trường, khám nghiệm pháp y, lấy dấu chân, dấu vân tay, hung khí... nên mới đi vào ngõ cụt? Hay là...
Tại chúng tôi đã phức tạp hóa vấn đề? Phải chăng nên thay đổi góc nhìn, xem xét sự việc một cách tổng quát hơn. Ví dụ sau khi gây án, hung thủ quá rối trí nên quên mất cửa ngầm lò sưởi? Hoặc ở vụ thứ nhất, Shinobu nói dối, Mii giả vờ mất trí...? Không, không nên suy diễn như vậy. Mặc dù tố chất cơ bản của thám tử là nghi ngờ mọi thứ, nhưng đến mức đoán mò linh tinh thì không ổn, càng cách xa bản chất vấn đề...
Tôi khẽ thở dài, quay đầu nhìn bức tường, hồi tưởng cuộc thảo luận về cửa ngầm. Theo logic ban nãy, chỉ Shinta và Noguchi đồng thời thỏa hai điều kiện là hung thủ, nhưng Shinta không đủ khả năng, còn Noguchi có bằng chứng ngoại phạm. Không nghi ai được. Sao lại thế...
Cửa ngầm nhòa vào tường đá đen. Lỗ hổng hình chữ nhật còn lại trên tường đá sau khi kính vỡ. Đầu óc rối bời vì suy luận bế tắc, tôi nhìn đi nhìn lại hai thứ này, bất chợt thốt lên. Hung thủ không mở cửa ngầm mà đập vỡ kính, là do...
“Phải chăng..” Tôi nói nhỏ, quay về phía Genji. Anh không còn đứng cạnh tôi mà đã ra giữa đại sảnh tự lúc nào, ngẩng nhìn hành lang tầng hai, không để ý đến giọng nói và thái độ của tôi. “Chính là...” Tôi nhắm chặt mắt, lẩm bẩm. Một hình ảnh xuất hiện trong đầu... Tôi nhận ra khả năng đã bỏ sót, nhưng không hiểu sao, tôi chưa muốn tiết lộ ngay cho Genji. Có khi Genji cũng biết đến khả năng này mà không nói ra thôi. Tạm thời, chưa nên... Ừ, giữ im lặng đi.
Tôi thầm quyết định rồi tránh xa khỏi tường.
Tại sao Hiruyama bị giết? Tại sao nhất định phải giết bác ta?
Tại sao Mowa bị giết? Tại sao nhất định phải giết cô ấy?
Đúng như Genji nói, động cơ nằm sâu trong lòng hung thủ. Nếu đơn thuần giết người vì tình-tiền thì một nhẽ. Còn nếu không phải thế, người ngoài khó lòng phát hiện được. Tôi luôn hoài nghi hai vụ này liên quan tới án mạng mười tám năm trước, nhưng về động cơ gây án, tôi vẫn không đoán được. Chí ít, tôi đã phát hiện ra một nghi can, nhờ suy luận từ manh mối cửa ngầm trong hai hiện trường. Chỉ cần chú ý tới manh mối này là có đáp án, chỉ hiềm tôi thấy khó tin, cũng không muốn tin. Genji có nhìn ra không? Nhìn ra thì định xử lý thế nào? Tôi kiềm chế không nói, nhưng lòng vẫn cồn cào bứt rứt.
“Sắc mặt cậu rất tệ đấy, Chuya. Khó ở à? Hay có ý tưởng gì mới?” Genji hỏi, tôi lơ đãng lắc đầu. Phản ứng này làm Genji nhíu mày. “Thảo luận về hung thủ tạm dừng ở đây. Đợi Ichiro tỉnh lại sẽ hỏi thêm.”
“À đấy…”
“Sao cơ?”
“Cô Kayako chưa khỏe hơn à?”
“Ừ. Mợ đang ngủ say trong phòng. Phải hỏi kĩ mợ mới được, tôi cũng muốn biết cậu Rikichi đi đâu.”
“Liệu có âm mưu gì không?”
“Hình như có. Họ làm mọi cách để được ăn thịt, rốt cuộc là cách gì nhỉ?” Genji nhún vai, giọng châm biếm. “Phải thuyết phục ba cho báo cảnh sát thôi. May thay bão tan rồi, sáng ra mà thời tiết vẫn ổn thì phải tìm cách qua hồ Thấy Bóng.”
“Ichiro bảo đường sạt lở còn gì?” Tôi nhắc.
“Ừ nhỉ.” Genji nhăn mũi gật đầu. “Giá gọi điện được thì tốt.”
“Tạm gác lại vụ báo cảnh sát, anh nghĩ liệu chúng ta có tiếp tục bị cô lập ở đây không?”
“Rất có thể. Có điều, như ba nói đấy, trên đảo đầy đủ lương thực, ít nhất không lo chết đói. Với cả, đứt liên lạc lâu ngày thì bệnh viện của bác sĩ Noguchi và tập đoàn Phượng Hoàng đều không ngồi yên nhìn đâu. Đường bộ tắc thì còn trực thăng cứu trợ. Tôi khá lạc quan về điểm này. Có lẽ ba cũng thế.”
Genji ngẩng nhìn trần nhà cao, liếc đồng hồ đeo tay, lẩm bẩm “Gần 3 giờ rồi”, và bảo tôi, “Đi thôi Chuya.”
Tự dưng nghe giọng anh thay đổi, tôi ngạc nhiên hỏi, “Đi đâu nữa?”
Genji thò tay phải vào túi quần lục tìm. Ngoài tờ giấy ban nãy, trong túi còn thứ gì khác à?
“Tôi phải đáp ứng yêu cầu của cậu mà. Còn lâu trời mới sáng. Theo giao hẹn, tôi sẽ nói hết những điều cậu muốn biết.” Genji móc ra hai chiếc chìa khóa. Kiểu dáng cũ kĩ nhưng rõ ràng là chìa mới, không cáu bẩn hay han gỉ, màu bạc sáng loáng.
“Đây là...” Tôi hỏi.
Genji trả lời bằng giọng lạ lùng, “Trong nhà có hai cửa cấm. Đây là chìa mở hai cửa đó.” Genji xòe tay cho tôi xem, rồi nắm chặt lại, hai chìa kêu “cạch”.“Chìa gốc để trong phòng đọc sách của ba. Hai chiếc này là tôi đánh trộm.”
“Đánh trộm...”
“Tôi sẽ dùng nó để đưa cậu qua cửa cấm, sao hả Chuya?”
Thái độ bí hiểm cố tình của Genji làm tôi thêm căng thẳng. Tôi muốn trả lời “Được”, nhưng sặc nước bọt, nói không ra tiếng.
“Đi thôi. Tôi đưa cậu tới nơi chốn cậu vẫn canh cánh trong lòng, hiện trường án mạng mười tám năm trước.”
Ám Hắc Quán có thể nói là dị giới, tách biệt hẳn thế giới thường nhật mà tôi hằng quen thuộc. Từ dị giới này, tôi sắp bước chân qua một dị giới ly kì hơn nữa.
Đi hết hành lang trước rộng sau hẹp để làm nổi bật sự tách biệt đó, chúng tôi đến Nhà Tây, còn gọi Nhà Dahlia. Nó nằm ở nơi sâu nhất dinh thự, xây ngay từ đầu, cùng thời điểm với Nhà Đông. Khác với đêm tiệc, đêm nay Nhà Tây cực kì yên tĩnh. Sấm sét mưa bão hôm đó không dễ chịu chút nào, nhưng sự tịch mịch lúc này, theo một nghĩa nào đó, còn rùng rợn hơn.
Nghiêng tại lắng nghe, tôi cảm thấy bên dưới tịch mịch là tiếng thở, rồi tiếng gầm. Ảo thanh manh nha rồi ráo riết bành trướng trong lòng, không thể kiểm soát được.
“Lại đây Chuya.”
Genji khẽ gọi, anh đang dừng chân ở cửa đôi bên trái tiền sảnh. Tôi lắc đầu thật mạnh, xua đi ảo thanh trong đầu, rảo bước chạy tới. Cửa mở, một hành lang mờ mịt tăm tối trải thảm đen xuất hiện. Genji gọi “Theo tôi nào”, rồi đi trước. Tôi yên lặng đi sau. Hành lang nhanh chóng chia thành hai hướng. Hướng Genji chọn có hai cửa cánh đơn, một cửa ngay đầu hành lang, một cửa xa hơn.
“Đây là phòng tiếp khách của ba. Phòng này thông với phòng đọc sách bên trong, vốn là phòng đọc sách thứ nhất của cụ Genyo. Các ống thoại đều ở đây.” Genji chỉ cửa đầu hành lang, rồi chỉ ra cửa xa hơn, “Còn căn bên cạnh là phòng đọc sách thứ hai của cụ...”
Đúng rồi! Đêm hôm kia đi vệ sinh, tôi uống say nên nhầm đường, quên lên tầng hai mà đi nhầm vào đây, định mở cánh cửa đen kia mà không mở được. Genji bước tới chính cánh cửa ấy, tôi theo anh, hỏi.
“Genji này! Anh bảo có hai cửa cấm, cửa còn lại đâu?”
Genji ngoái đầu nhìn tôi, đoạn hất cằm về cuối hành lang. Ở đó còn một cửa cánh đơn, đen kịt như chìm vào bóng tối.
“Đó là?” Tôi hỏi.
Genji trầm ngâm hồi lâu rồi đáp, “Đó là cửa dẫn vào phòng tiếp khách của Dahlia, người thực sự kiểm soát Ám Hắc Quán.”
Kim đồng hồ chỉ 3 giờ sáng.
Genji moi trong túi ra hai chìa ban nãy, chọn một chìa cắm vào ổ. Cùng tiếng kẹt rất trầm, cửa cấm từ từ mở ra.
Phòng tối đen như hũ nút. Genji bật đèn pin vừa dùng soi cửa ngầm, tiến vào phòng. Chẳng mấy chốc, bóng tối loãng dần. Genji không bật đèn, mà lấy diêm thắp nến ở giá cắm trên tường. Phòng bỏ không gần hai chục năm, có đèn chắc cũng hỏng lâu rồi.
Thắp nến xong, Genji ngoái ra cửa, thấy tôi vẫn đứng ở hành lang, anh thốt lên một câu kì lạ, “Đúng rồi, Chuya, chính là chỗ đó.”
“Hả?” Tôi ngạc nhiên nghệt mặt.
Genji rọi đèn về phía tôi, “Chính là chỗ cậu đang đứng. Đêm Dahlia mười tám năm trước, nghe nói Genji chín tuổi đã đứng ở đó và chứng kiến một cảnh khó lòng giải thích.”
“Ở đây á?” Tôi ngó quanh. “Ở đây thì nhìn thấy gì?”
“Nhìn thấy tình hình ở phòng này.” Genji lại ngoảnh nhìn căn phòng. “Sự cố xảy ra giữa đêm khuya thanh vắng, trong phòng đọc sách thứ hai, sau khi tan tiệc. Tôi vô tình tới đây một mình, trông thấy cụ Genyo ngã gục trên sàn, đồng thời còn bắt gặp người khác trong này.”
“Từ đây sao?” Tôi nhìn thẳng vào Genji. “Anh nhìn thấy hung thủ á?”
“Có thể... Không, chẳng thể nghĩ ra khả năng nào khác.”
Tôi nghĩ thầm, diễn đạt kì lạ thật.
Genji kể tiếp, “Lạ một nỗi, tôi vừa bắt gặp, kẻ đó đã biến mất. Bấy giờ ba tình cờ tới đây, liền vào xem xét, trong phòng còn mỗi cụ Genyo nằm bất động với cái đầu bết máu...”
“Vậy sao?” Chi tiết người sống biến mất mà Genji kể chiều đây qua ư? Đúng là tình huống bất khả thi trong truyện trinh thám.
“Không thể thoát ra theo lối cửa sổ nhỉ?” Tôi hỏi lại cho chắc.
Genji im lặng gật đầu, ngoái nhìn ra sau lần nữa, “Các cửa sổ đều chốt trong, lớp cửa chớp bên ngoài đóng chặt.”
“Nấp sau đồ đạc hay chỗ nào khuất thì sao?”
“Nghe nói không có khả năng đó.”
Sự kiện này nằm ngoài kí ức của Genji, chắc hẳn anh rất sốt ruột. Genji khẽ thở dài, tắt đèn pin, móc vào thắt lưng. “Có người biến khỏi phòng tựa làn khói. Hầu như không ai tin lời chứng của đứa trẻ chín tuổi này, trừ ba tôi.”
“Người biến mất là ông Takuzo hả?”
“Thế á?” Genji băn khoăn lắc đầu. “Mọi người gặng hỏi là ai, tôi luôn kêu ‘Không biết’, chỉ đảm bảo có người khác trong phòng…”
Genji đau khổ kể lại trải nghiệm đã rời xa kí ức. Tôi không biết nên tiếp lời thế nào, cứ đứng ngây ra ở hành lang tăm tối.
“Vào đây đi, Chuya.” Genji lùi lại, vẫy tay. “Cậu muốn biết chi tiết hơn mà!”
“Vâng”
“Tôi sẽ kể cậu nghe. Đầu đuôi án mạng đáng sợ xảy ra trong nhà này vào Đêm Dahlia mười tám năm trước.”
Căn phòng kiểu Tây, rộng khoảng 55 m2, tương đương phòng tiệc tầng hai.
Không biết Genji đánh chìa lúc nào, nhưng có lẽ anh đã nhiều lần giẫm lên cấm kị, đặt chân vào đây, chắc để tới gần hơn kí ức của mình. Dù Genji từng kín đáo lui tới, nơi này vẫn đúng là phòng cấm, không khí hoang lạnh, à, hoang phế thì đúng hơn. Do đóng kín nhiều năm, thiếu hơi người, căn phòng dần dần ngừng thở, tim đập chậm lại, nhiệt độ hạ thấp, chìm sâu vào giấc ngủ.
Vì không thắp hết nến nên vẫn còn nhiều góc tối. Ánh nến lay động gợi ra không khí ma mị, soi xuống lớp bụi dày trên sàn, mỗi bước đi đều in dấu chân.
Giá sách, kệ trang trí, bộ bàn ghế đọc sách, ghế bành, tủ thấp, đi văng… đều không phủ vải chống bụi. Nghĩa là cả căn phòng và đồ đạc này đều sẽ không dùng đến nữa.
Sàn, tường, trần, đồ đạc... tuyền một màu đen. Đèn điện và giá nến đều không có độ bóng của kim loại. Riêng ở giữa bức tường phía Tây trông ra sân có ô kính mờ trượt lên xuống. Trên tường treo một chiếc đồng hồ lớn. Kim giờ chỉ thời điểm rất khó hiểu: 12 giờ 23 phút.
Sàn rung khẽ theo mỗi bước đi. Bụi bặm và mùi ẩm mốc xộc vào mũi. Không khí vẩn đục, ẩm ướt, lạnh tê tái, khác cái lạnh bên Nhà Bắc. Tôi tới các cửa sổ chốt chặt, quan sát gần hơn, rồi quay lại giữa phòng nơi Genji đang đứng khoanh tay, lúc này mới phát hiện ra một thứ kì lạ.
“Cái này….” Tôi chỉ tay vào nó. “Là khung tranh à?”
Trên mặt tường dát gỗ đen gần bên trái cửa tính từ hành lang vào có treo một khung tranh lớn, rộng khoảng hai mét, cạnh trên cao ngang đầu người lớn. Khung cùng màu tường, bên trong rỗng không.
“Không còn tranh à? “Tôi hỏi, “Trước kia treo tranh gì?”
“Không treo gì, từ đầu đã vậy.” Genji thả tay, tiến tới gần khung tranh. “Đơn thuần là khung rỗng.”
“Là sao?”
“Không tranh, không mặt kính, không đế.” Genji gõ đầu ngón tay vào phần tường trong khung. “Nói cách khác, chỉ đặt khung tranh lên tường, không phải treo, mà đóng đinh cố định luôn.”
“Sao phải làm thế?” Tôi đâm ra hoang mang, nhìn khung tranh chạm khắc dây leo uốn lượn tạo thành một hình chữ nhật rỗng trên tường.
“Thật ra cũng không khó phán đoán.”
“Thế á?”
“Tôi đã hỏi Onimaru rồi.” Genji rời khỏi “khung không tranh”, ra ngồi xuống đi văng, bắt tréo chân, kéo gạt tàn ở tủ thấp tới gần, ngậm thuốc lên miệng.
“Anh bảo đã hỏi Onimaru?” Tôi đến đứng cạnh đi văng. “Tức là Onimaru biết anh lẻn vào đây?”
“Chắc vậy.” Genji điềm tĩnh đáp.
“Không bị mắng à?”
“Bị bắt tại trận thì chắc là có, may mà không phải.” Genji thong thả nhả khói. Mùi thuốc lá dìu dịu lẫn với mùi ẩm mốc và bụi bặm. “Onimaru... hỏi gì đáp nấy. Không lục vấn, cũng không bép xép với ai về những màn hỏi đáp.”
“Kín miệng lắm à?”
“Có thể nói thế, ít nhất là với những người đang sống trong nhà.”
“Là sao?”
“Onimaru chỉ báo cáo mọi điều cho người nào đó đã qua đời.”
“Người nào đó...” Tôi nghĩ ngay tới một cái tên. “Dahlia?”
Genji nghiêm nghị gật đầu, “Chủ nhân thực sự của Onimaru chỉ có Dahlia. Ngay cả Genyo, Onimaru cũng không nghe. Tất nhiên càng không nghe chủ nhân hiện tại, ba tôi. Onimaru trung thành với một mình Dahlia thôi. Cả trước kia và bây giờ. Ngồi đi, Chuya.” Genji chỉ ghế bành trước đi văng, hất cằm. “Quần áo bẩn kệ nó.”
Nghe lời anh, tôi ngồi xuống ghế. Genji đổi bên vắt chân rồi hỏi, “Còn nhớ lời tôi nói tối đầu tiên, lúc chúng ta đi kiểm tra cầu phao không?”
“Nói gì ấy nhỉ?”
“Từng có người chết đuối ở hồ Thấy Bóng.”
“À, nhớ, sao?”
“Lúc đó tôi chưa ra đời. Có hai mẹ con người làm chết đuối.”
“Đứa trẻ đuối nước lúc chơi nghịch, mẹ tìm cách cứu con và cả hai cùng chết, đúng không?”
“Đúng. Nghe nói hai mẹ con đó là người nhà của Onimaru.”
“Thật sao?” Tôi thốt lên, chớp mắt. Nếu quả đúng như vậy, Onimaru là cha là chồng hai mẹ con chết đuối ư. Suy ra, cái bóng biết đi ấy là nam nhỉ.
“Tôi từng hỏi chính Onimaru, câu trả lời rất mơ hồ, ‘Chuyện lâu quá rồi không nhớ rõ.’ Không nhớ cái gì, thoái thác mà thôi.” Genji đứng lên, tiếp tục hút thuốc, rít một hơi hết cả điếu rồi dúi mẩu thuốc vào gạt tàn. “Bất kể chuyện gì, dù nhỏ tới đâu, Onimaru đều nhớ. Onimaru giống cái rương đựng kí ức đi kèm nhà này. Nhìn chung, có Onimaru là phước may. Chuyện cũ người khác không biết hoặc biết nhưng giấu, cụ ta biết và nhớ hết, chưa kể còn khéo lựa đáp án sao cho phù hợp yêu cầu của người hỏi, luôn đúng sự thật, không thừa không thiếu...”
Cậu hỏi tôi à?
Đúng nhỉ, người làm già nua ấy coi tất cả như nhau, dù là khách gặp lần đầu như tôi.
Tôi buộc phải trả lời sao?
Nếu buộc phải trả lời, cụ ta liền có sao nói vậy. Ngược lại, nếu mình đáp “Tùy” thì chẳng bao giờ được nghe đáp án. Genji nói Onimaru là “rương kí ức đi kèm nhà”, tôi lại nghĩ tới cách so sánh khác. Onimaru, cái bóng biết đi bảo vệ lồng lạc lối, đã cô đặc cái bóng của cả Ám Hắc Quán vào người mình từ lâu...
“Onimaru đến làm tầm sáu chục năm trước, bấy giờ Sakura bà ngoại tôi mới vài tuổi. Genyo gần năm mươi. Dahlia ngoài ba mươi, vẫn đẹp mê hồn, chưa có dấu hiệu tuổi tác. Onimaru gần ba mươi, chưa tính đến việc có phải vợ con chết đuối thật không, chết đuối lúc nào, thì việc cụ ta đem lòng si mê bà chủ kiều diễm ma mị có uy sai khiến cũng là chuyện dễ hiểu thôi.”
“Ma mị...” Tôi bất giác lặp lại từ này. “Dahlia là người thực sự kiểm soát Ám Hắc Quán?”
“Ừ.” Genji gật đầu, ngậm điếu thuốc nữa, tựa lưng ra đi văng, ngẩng nhìn trần nhà.
“Tóm lại,” Genji nói tiếp, “Chuyện bề nổi hoặc chung chung, tôi hỏi ba hoặc các dì thuở còn sáng suốt. Nhờ thế, tôi lấy lại được kí ức đã mất trong trận hỏa hoạn Nhà Bắc, trở thành Urado Genji một lần nữa. Còn các sự kiện quá khứ của nhà Urado tại Ám Hắc Quán, về cơ bản đều do Onimaru kể cho tôi biết. Người làm công trung thành hết mực với cụ Dahlia ấy không bao giờ tùy tiện nói dối. Phán đoán này không sai. Cậu hiểu tôi muốn nói gì không, Chuya?”
“Ừm, chắc là có.”
“Được, vậy thì.”
Genji lẳng lặng ngồi xuống, kể lại án mạng anh không còn nhớ, hiện trường là phòng đọc sách thứ hai của Nhà Tây, kể về các thành viên trong nhà lúc đó, rồi tình hình điều tra, kết luận, cũng như tiến triển cuối cùng.
Trong lúc Genji kể, các hạt bóng tối từ mỗi góc khuất lan ra, lấn dần khuôn mặt và biểu cảm của anh. Tất nhiên đều là ảo giác, nhưng bất kể tôi tự chấn chỉnh thế nào, ảo giác vẫn không dừng lại. Hạt bóng tối mỗi lúc một dày, mau chóng trùm kín Genji. Chỉ còn giọng anh hiện hữu, làm rung chuyển sự tịch mịch của đêm. Ảo giác, hay có thể nói là cảm nhận điên cuồng này khiến tôi sa lầy, không thoát ra được.
Tôi không hỏi xen ngang, không lên tiếng phụ họa, đóng tròn vai thính giả trung thành. Trong lúc nghe, bản thân tôi cũng bị hạt bóng tối bao phủ. Có lẽ nhờ thế mà linh hồn tôi thoát khỏi thể xác, phiêu du về mười tám năm trước. Tôi như bị ám ảnh bởi ảo tưởng ấy.
Genji rủ rỉ bên tai, tôi chăm chú lắng nghe.
Có thể triệu hồi toàn bộ ác mộng ẩn mình trong bóng tối kia và thuần phục chúng không?
Đây cũng là một trong những ảo tưởng điên cuồng của tôi lúc đó.