Babel: Sự cần thiết của bạo lực

Chương ba

Chương ba

Chương ba

Nhưng không thể nào như vậy: vì chúng ta vẫn còn sót lại

Một thành phố chẳng có gì hung bạo,

Không được xây vì lợi ích vật chất dư thừa,

Vì quyền lực tham tàn bất chính hay bữa tiệc no nê của đế chế.

• C. S. Lewis, Oxford

Sáng hôm sau, Robin và Giáo sư Lovell đi xe ngựa đến trạm xe ở trung tâm London, nơi họ chuyển sang một chiếc xe ngựa tuyến chạy thẳng đến Oxford. Trong lúc ngồi đợi, Robin đã tự giải trí bằng cách suy đoán từ nguyên của từ xe ngựa tuyến. Xe ngựa thì đã rõ ràng, nhưng tại sao lại là tuyến? Có phải vì khoang xe rộng và phẳng, trông như một sân khấu

*

? Có phải vì cả đoàn kịch đã từng sử dụng loại xe này để di chuyển, hay từng biểu diễn trên nóc xe? Nghe hơi phi lý. Khoang xe trông có thể giống rất nhiều thứ, nhưng cậu không thể hình dung tại sao một sân khấu - một cái bục cao - lại là sự liên tưởng hiển nhiên. Tại sao không phải là một chiếc xe giỏ? Hay một chiếc xe đa năng?

Stagecoach: xe ngựa tuyến. Từ stage vừa mang nghĩa là sân khấu, vừa mang nghĩa là chặng.

“Vì chuyến đi được chia thành nhiều chặng”, Giáo sư Lovell giải thích sau khi Robin đành từ bỏ. “Những con ngựa không muốn chạy cả quãng đường từ London đến Oxford, và chúng ta thường cũng không muốn. Nhưng ta rất ghét những khách điếm, nên chúng ta sẽ đi thẳng một mạch; mất khoảng mười tiếng không dừng chân, nên nhớ đi vệ sinh trước khi lên đường.”

Họ đi chung xe với chín hành khách khác - một gia đình nhỏ gồm bốn người ăn mặc bảnh bao và một nhóm đàn ông có dáng vẻ uể oải, mặc áo vét màu nâu xám tẻ nhạt với những miếng vá khuỷu tay mà Robin nghĩ là những vị giáo sư. Robin ngồi chen chúc giữa Giáo sư Lovell và một trong những người đàn ông mặc vét. Vẫn còn quá sớm để trò chuyện. Khi xe ngựa lắc lư trên những con đường rải đá cuội, các vị hành khách liu riu ngủ hoặc nhìn vô định về những hướng khác nhau.

Mất một lúc Robin mới nhận ra người phụ nữ đối diện đang nhìn cậu chằm chằm từ phía trên bộ đồ đan của bà ấy. Khi ánh mắt của họ chạm nhau, bà ấy vội quay sang Giáo sư Lovell và hỏi, “Nó là người Á Đông hả?”

Giáo sư Lovell choàng tỉnh khỏi giấc ngủ liu thiu, ngẩng đầu lên. “Xin lỗi, cô vừa nói gì vậy?”

“Tôi đang hỏi về thằng nhóc đi cùng với ông”, người phụ nữ nói. “Nó đến từ Bắc Kinh sao?”

Robin nhìn Giáo sư Lovell, bỗng nhiên cậu cảm thấy rất tò mò xem ông sẽ nói gì.

Nhưng Giáo sư Lovell chỉ lắc đầu. “Từ Quảng Châu”, ông nói cụt lủn. “Xa hơn về phía Nam.”

“Ồ”, người phụ nữ nói, rõ ràng đang thất vọng vì ông không giải thích nhiều hơn.

Giáo sư Lovell lại chìm vào giấc ngủ. Người phụ nữ tiếp tục nhìn Robin từ đầu đến chân bằng vẻ tò mò hăm hở bồn chồn, rồi hướng sự chú ý sang những đứa con. Robin vẫn ngồi trong yên lặng. Bỗng nhiên, ngực cậu như thắt lại, dù cậu không hiểu tại sao.

Lũ trẻ nhìn cậu chằm chằm không ngớt; mắt chúng mở to, miệng há hốc theo kiểu đáng lẽ sẽ là dễ mến nếu chúng không khiến cậu cảm thấy như mình vừa mọc thêm một cái đầu. Sau một hồi , thằng nhóc kéo tay áo của mẹ nó, khiến bà ấy phải cúi xuống để nó có thể thì thầm vào tai.

“Ô.” Bà ta cười khúc khích, rồi ngước lên nhìn Robin. “Con trai tôi muốn biết cậu có thể nhìn được không.”

“Tôi... có thể gì cơ?”

“Cậu có thể nhìn được không?" Bà ta nói lớn và phát âm rõ từng từ, như thể Robin gặp khó khăn trong chuyện nghe người khác nói (Việc này từng rất thường xuyên xảy ra trên tàu

Nữ Bá Tước xứ Harcourt

; cậu không hiểu vì sao người ta lại đối xử với những người không biết tiếng Anh như thể họ bị điếc). “Với cặp mắt như vậy, cậu có nhìn rõ mọi thứ không? Hay chỉ thấy những đường kẻ nhỏ xíu?”

“Tôi có thể nhìn rõ mọi thứ”, Robin đáp khẽ.

Thằng nhóc thất vọng quay sang véo em gái của nó. Người phụ nữ lại đan vá như thể chẳng có chuyện gì xảy ra.

Gia đình họ xuống xe ở Reading. Robin thấy mình đã có thể thở dễ dàng hơn sau khi họ đi khuất. Cậu cũng có thể duỗi chân sang phía bên kia để thư giãn hai đầu gối cứng còng mà không bị bà mẹ ném cho một cái nhìn ngờ vực hoảng hốt, như thể bà ta vừa bắt quả tang cậu định móc túi bà ta.

* * *

Quãng đường mười dặm trước khi đến Oxford là một đồng cỏ xanh mướt yên bình, đôi khi lại có những đàn bò điểm xuyết. Robin gắng đọc cuốn cẩm nang có nhan đề

Oxford và những trường trong hệ thống

, nhưng đầu cậu đang đau buốt nên cậu thiêm thiếp ngủ. Có những chiếc xe ngựa tuyến được khảm bạc bên ngoài để có thể chạy êm ả như đang trượt băng, nhưng xe của họ thuộc loại cũ hơn, và những cú xóc không ngừng rất dễ gây mệt mỏi. Cậu tỉnh giấc khi bánh xe long xòng xọc trên đá cuội và ngước nhìn quanh để nhận ra rằng họ đã đến giữa phố High, ngay trước cánh cổng có tường bao quanh ở ngôi nhà mới của cậu.

Oxford gồm mười hai trường học, tất cả đều có ký túc, huy hiệu, phòng ăn, phong tục, và truyền thống riêng. Christ Church, Trinity, St John’s và All Souls tự hào là có khoản tài trợ lớn nhất, và vì vậy có khuôn viên đẹp nhất. “Cháu nên kết bạn với sinh viên ở đây, dù chỉ để ngắm những khu vườn”, Giáo sư Lovell nói. “Cháu có thể yên tâm mà tảng lờ những đứa học ở Worcester và Hertford. Chúng nghèo và xấu xí”, Robin không rõ liệu ông đang nói đến sinh viên hay những khu vườn, “thức ăn lại tệ lậu”. Một trong những người đàn ông đi cùng ném cho ông một cái nhìn khó chịu trong lúc họ xuống xe.

Robin sẽ sống tại Học xá Đại học. Sách hướng dẫn nói người ta thường gọi nó là “Univ”, rằng đó là nơi ở của tất cả sinh viên đã ghi danh vào Viện Dịch thuật Hoàng gia, và về mặt thẩm mỹ, nó “u ám và uy nghiêm, một vẻ ngoài phù hợp với phân viện danh giá nhất của trường”. Nó quả thực giống một thánh đường Gothic; tường chính gồm rất nhiều tháp canh và những ô cửa sổ đồng nhất trên nền đá trắng mịn.

“Chà, cháu đến rồi đây.” Giáo sư Lovell đứng đút tay vào túi, trông có phần khó chịu. Giờ đây, khi họ đã đến căn chòi của người gác cổng, đã lấy chìa khóa cho Robin, và đã kéo rương hành lý của cậu qua phố High đến vỉa hè lát đá, có vẻ như một cuộc chia tay là không tránh khỏi. Giáo sư Lovell chỉ không biết phải chia tay như thế nào. “Chà”, ông lại nói. “Cháu có vài ngày trước khi học kỳ mới bắt đầu, cháu nên đi tham quan thành phố một chút. Cháu đã có bản đồ - ừ, phải rồi, nó đây - nhưng nơi này cũng nhỏ thôi, nên cháu sẽ rành rọt mọi ngõ ngách chỉ sau vài lần đi dạo. Có lẽ cũng nên đi tìm các thành viên trong đoàn của cháu; chắc hẳn họ đã dọn đến ký túc. Nhà ta ở phía Bắc, khu Jericho; ta đã viết chỉ dẫn cho cháu trong thư. Bà Piper sẽ đến vào tuần sau, và chúng ta sẽ đợi cháu đến ăn tối vào thứ Bảy tuần sau nữa. Bà ấy sẽ rất mừng khi được gặp cháu.” Ông nói nhanh những lời này như thể đang đọc chúng từ một bản ghi nhớ. Dường như ông không thể nhìn vào mắt Robin. “Cháu đã sẵn sàng rồi chứ?”

“Ồ, vâng”, Robin đáp. “Cháu cũng sẽ rất vui khi gặp bà Piper.”

Họ chớp mắt nhìn nhau. Robin cảm thấy chắc chắn phải có những từ khác cần nói ra, để đánh dấu sự kiện này - cậu đã trưởng thành, rời khỏi nhà, bước vào đại học - như một sự kiện trọng đại. Nhưng cậu không thể hình dung đó là những từ gì, và rõ ràng Giáo sư Lovell cũng không thể.

“Chà, vậy thì.” Giáo sư Lovell gật đầu cụt lủn rồi quay mặt về phố High, như thể đang xác nhận rằng ông không cần cậu nữa. “Cháu tự khiêng hành lý được chứ?”

“Vâng, thưa bác.”

“Chà, vậy thì”, Giáo sư Lovell lại nói, rồi quay xuống phố High.

Đó là những lời ngượng ngùng để kết thúc cuộc trò chuyện, như đang ngụ ý vẫn còn nhiều điều khác sắp được nói ra. Robin nhìn ông bước đi trong giây lát, nửa trông đợi ông sẽ quay lại, nhưng Giáo sư Lovell có vẻ chỉ tập trung vào việc gọi xe ngựa. Phải, rất kỳ lạ. Nhưng điều này không khiến Robin buồn bực. Mọi thứ giữa họ vẫn luôn như vậy: những cuộc trò chuyện dang dở, những lời không nên nói ra.

Ký túc của Robin nằm ở nhà số 4, hẻm Magpie - một căn nhà màu xanh giữa con hẻm hẹp quanh co nối phố High với đường Merton. Đang có người đứng ở nơi cửa trước, loay hoay tra khóa vào ổ. Hẳn cậu ta là sinh viên mới - cặp táp và rương đang rải rác trên mặt đường đá cuội xung quanh cậu ta.

Robin nhận ra khi đến gần, rằng cậu ta không phải người bản xứ. Có lẽ đến từ Nam Á. Robin đã nhìn thấy những thủy thủ có nước da tương tự ở Quảng Châu, trên những chiếc tàu từ Ấn Độ. Cậu ta có nước da ngăm đen láng mịn, cao và thanh mảnh, với chòm lông mi dài và đen nhất mà Robin từng thấy. Cậu ta đảo mắt nhìn Robin từ đầu đến chân rồi dừng lại ngay khuôn mặt cậu, Robin ngờ rằng cậu ta cũng đang xác định xem liệu Robin có phải người ngoại quốc hay không.

“Tớ là Robin”, cậu buột miệng nói. “Robin Swift.”

“Ramiz Rafi Mirza”, chàng trai kia tự hào xưng tên, chìa tay ra. Cậu ta nói giọng Anh chuẩn chẳng kém gì Giáo sư Lovell. “Cứ gọi là Ramy nếu thích. Còn cậu - cậu sẽ học ở Viện Dịch thuật phải không?”

“Phải”, Robin đáp, rồi nói thêm, nhờ linh cảm, rằng “tớ đến từ Quảng Châu.”

Mặt Ramy có vẻ thư giãn hơn. “Còn tớ từ Calcutta.”

“Cậu chỉ vừa đến nơi hả?”

“Ừ, vừa đến Oxford. Còn nước Anh thì không - tớ đã đáp tàu đến Liverpool bốn năm trước và sống ở một trang viên buồn tẻ, rộng lớn tại Yorkshire cho đến giờ. Người giám hộ đã muốn tớ làm quen với xã hội Anh trước khi nhập học.”

“Người giám hộ của tớ cũng vậy”, Robin hồ hởi nói. “Còn cậu nghĩ sao?”

“Thời tiết ở đây thật khủng khiếp.” Ramy nhếch mép. “Và thứ duy nhất tớ có thể ăn là cá.”

Họ nhìn nhau cười rạng rỡ.

Lúc ấy, Robin đã có một cảm giác kỳ lạ bùng lên trong lồng ngực. Cậu chưa từng gặp bất cứ ai có hoàn cảnh giống cậu, hay bất cứ điểm tương đồng nào khác, và cậu ngờ rằng nếu tiếp tục gạn hỏi, cậu sẽ phát hiện ra cả tá những điểm chung khác. Cậu có cả nghìn câu hỏi, nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu. Ramy cũng là trẻ mồ côi giống cậu hay sao? Ai là người bảo trợ cho cậu ấy? Ở Calcutta thế nào? Cậu đã từng về thăm nhà kể từ khi đến nước Anh hay chưa? Ai đã đưa cậu ấy đến Oxford? Cậu bỗng cảm thấy bồn chồn - lưỡi cậu đang cứng lại, không thể chọn lời để nói - còn cả chuyện chìa khóa và đống hành lý ngổn ngang đang khiến con hẻm trông như vừa bị một cơn bão trút sạch đồ đạc trên tàu xuống đường phố này...

“Chúng ta có nên...” Robin gượng nói, ngay khi Ramy vừa hỏi, “Chúng ta có nên mở cửa không?”

Cả hai cùng bật cười. Ramy nhoẻn miệng. “Cùng kéo đống đồ này vào trong nhé.” Cậu ấy dùng chân đá nhẹ một chiếc rương. “Tớ có hộp kẹo rất ngon mà tớ nghĩ chúng ta nên mở ra ăn sau khi đã kéo xong đồ đạc, nhé?”

Phòng của họ đối diện nhau ở hành lang - phòng sáu và bảy. Mỗi phòng gồm một phòng ngủ lớn và một phòng khách được trang hoàng một chiếc bàn thấp, những kệ sách trống trơn, và một chiếc tràng kỷ. Tràng kỷ và bàn trông quá trang trọng, nên họ ngồi khoanh chân dưới sàn nhà trong phòng Ramy, chớp mắt như những đứa trẻ bẽn lẽn trong lúc nhìn nhau, không biết phải đặt tay ở đâu.

Ramy lấy ra một gói đồ được bọc bằng giấy màu sặc sỡ từ trong rương và đặt nó xuống sàn nhà giữa họ. “Quà chia tay của ngài Horace Wilson, người giám hộ của tớ. Ông ấy cũng cho tớ một chai vang đỏ Bồ Đào Nha nhưng tớ đã ném nó đi rồi. Cậu thích ăn gì?” Ramy xé gói đồ. “Có kẹo bơ cứng, caramel, kẹo đậu phộng giòn, sôcôla, và đủ loại kẹo hoa quả..."

“Ôi trời - tớ sẽ ăn kẹo bơ cứng vậy, cảm ơn cậu.” Robin đã không nói chuyện với một người trạc tuổi cậu suốt nhiều năm. Mãi đến giờ cậu mới nhận ra rằng mình rất muốn có bạn, nhưng cậu không biết phải kết bạn như thế nào, và viễn cảnh thử kết bạn nhưng không thành khiến cậu kinh hãi. Lỡ Ramy nghĩ cậu tẻ nhạt thì sao? Và đáng ghét? Và có vẻ quan tâm thái quá?

Cậu cắn một miếng kẹo bơ cứng, nuốt xuống, rồi đặt tay lên đùi.

“Này”, cậu nói. “Kể cho tớ nghe về Calcutta đi.”

Ramy cười rạng rỡ.

Trong những năm tới, Robin thường nhớ lại đêm này rất nhiều lần. Cậu sẽ mãi cảm thấy kinh ngạc trước sự kỳ diệu bí hiểm của nó, trước cách hai ngươi xa lạ được nuôi dạy nghiêm khắc, kém giao thiệp xã hội đã dễ dàng trở thành những tâm hồn đồng điệu chỉ sau vài phút. Ramy có vẻ cũng ngượng ngùng và hào hứng chẳng kém gì Robin. Họ trò chuyện không ngừng. Không có chủ đề nào là cấm kỵ; bất cứ điều gì họ nhắc đến cũng được tán thành ngay lập tức - bánh scone sẽ ngon hơn khi không có nho xuntan, chứ còn gì nữa - hoặc là nguyên nhân của một cuộc tranh cãi đầy hào hứng - không, London thực ra rất tuyệt; những chú chuột nhà quê các cậu có thành kiến với nó chẳng qua vì ghen tuông. Chỉ có điều, đừng đi bơi ở sông Thames nhé.

Có lúc, họ đọc thơ cho nhau nghe, những tràng câu đối tiếng Urdu mà Ramy gọi là thơ trữ tình Ba Tư, và thơ Đường mà Robin không thực sự thích nhưng có vẻ ấn tượng. Và cậu rất muốn gây ấn tượng với Ramy. Cậu ấy thật dí dỏm, đọc rộng hiểu nhiều, và hài hước. Cậu ấy có quan điểm sắc sảo về mọi việc - ẩm thực Anh, thái độ của người Anh, và cuộc đối đầu Oxbridge (“Oxford rộng hơn Cambridge, nhưng Cambridge đẹp hơn, dù sao thì, tớ nghĩ họ chỉ thành lập Cambridge để thu nhận những kẻ tầm thường thừa thãi.”) Cậu ấy đã đi nửa vòng trái đất; đã đến Lucknow, Madras, Lisbon, Paris, và Madrid. Cậu ấy gọi quê hương nước Ân là thiên đường: “Ôi, những quả xoài ở đó, Chim Non ơi” (cậu ấy bắt đầu gọi Robin là “Chim Non”), “chúng mọng nước vô cùng, cậu không thể mua bất cứ thứ gì tương tự trên hòn đảo nhỏ xíu đáng thương này. Đã nhiều năm rồi tớ không được ăn loại xoài ấy. Tớ sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để được ăn một quả xoài Bengal đích thực.”

“Tớ đã đọc

Nghìn lẻ một đêm

”, Robin nói, đang say sưa vì phấn khích và gắng tỏ ra mình cũng hiểu biết chẳng kém gì.

“Calcutta đâu thuộc Ả Rập hả Chim Non.”

“Tớ biết.” Robin đỏ mặt. “Ý tớ chỉ là...”

Nhưng Ramy đã đổi chủ đề. “Cậu đã không nói với tớ rằng cậu biết đọc tiếng Ả Rập đấy!”

“Tớ không biết, tớ chỉ đọc bản dịch thôi.”

Ramy thở dài. “Bản dịch của ai vậy?”

Robin gắng nhớ lại. “Của Jonathan Scott thì phải.”

“Bản dịch đó tệ chết đi được.” Ramy khoát tay. “Ném nó đi. Đầu tiên, nó thậm chí không được dịch từ bản gốc - họ đã dịch sang tiếng Pháp, rồi mới dịch sang tiếng Anh - chưa kể, nó không hề giống bản gốc chút nào. Còn nữa, Galland - Antoine Galland, dịch giả tiếng Pháp - đã gắng hết sức để Pháp hóa những đoạn hội thoại và xóa sạch những chi tiết văn hóa mà ông ấy nghĩ sẽ khiến độc giả cảm thấy mơ hồ. Ông ấy đã dịch các thê thiếp của Haroun Alraschild là

dames ses favourites

. Những cô nàng được sủng ái. Sao lại có thể đi từ ‘thê thiếp’ đến ‘những cô nàng được sủng ái’ cơ chứ? Và ông ta đã cắt sạch những đoạn khiêu dâm, thêm những lời giải thích văn hóa bất cứ khi nào ông ta muốn - nói tớ nghe, sao cậu lại muốn đọc một sử thi hùng tráng trong lúc một ông lão người Pháp cứ không ngừng săm soi khi cậu đang đọc những đoạn gợi tình?”

Ramy khoa tay múa chân trong lúc nói. Rõ ràng cậu ấy không thực sự tức giận, mà chỉ đang cảm thấy nhiệt thành, và cậu ấy rõ ràng rất giỏi, rất hứng thú với sự thật mà cậu ấy muốn cả thế giới phải cùng hay biết. Robin ngả người và ngắm khuôn mặt đang kích động, đáng yêu của Ramy, vừa ngạc nhiên vừa thích thú.

Khi ấy, cậu đã có thể khóc oà lên. Cậu đã cô đơn đến tột cùng, và giờ cậu mới nhận ra điều đó, giờ cậu đã không còn cô đơn nữa, cảm giác đó thật tuyệt, đến nỗi cậu không biết phải làm gì với chính mình.

Khi cuối cùng họ cũng cảm thấy quá buồn ngủ để có thể nói hết câu, khi gói kẹo đã ăn hết quá nửa và sàn nhà của Ramy đã vương đầy vỏ kẹo. Họ ngáp dài, vẫy tay chúc nhau ngủ ngon. Robin loạng choạng về phòng, đóng sầm cửa, rồi quay người đứng đối diện với căn phòng trống rỗng. Đây sẽ là nhà của cậu trong bốn năm tới - chiếc giường dưới trần nhà thấp và dốc, nơi cậu sẽ thức dậy mỗi buổi sáng, vòi nước rỉ trên bồn, nơi cậu sẽ rửa mặt, và chiếc bàn trong góc, nơi cậu sẽ khom lưng ngồi học mỗi tối, nguệch ngoạc viết dưới ánh nến cho đến khi sáp nến đã nhỏ xuống sàn nhà.

Lần đầu tiên kể từ khi tới Oxford, cậu chợt nghĩ mình sẽ tạo dựng một cuộc sống ở đây. Cậu hình dung đến cuộc sống đang trải ra trước mắt: những cuốn sách và những món đồ trang trí rẻ tiền dần lấp đầy những giá sách còn trống trải; những vết sờn và vết rách trên những chiếc sơ mi bằng vải lanh còn mới cóng đang cất ở trong rương, những lần đổi mùa mà cậu chứng kiến và nghe thấy qua ô cửa sổ bị gió lùa kêu lách cách ngay phía trên giường, thứ không thể nào đóng chặt. Và Ramy, ở đối diện hành lang.

Nghe cũng không quá tệ.

Giường chưa được dọn, nhưng cậu đang quá mệt để loay hoay với tấm ga trải giường hay để tìm chăn đắp, nên cậu cuộn mình nằm nghiêng về một phía và kéo áo khoác lên người. Trong chốc lát, cậu đã say ngủ, miệng mỉm cười.

* * *

Lớp học vẫn chưa bắt đầu cho đến tận ngày 3 tháng 10, có nghĩa rằng Robin và Ramy sẽ có ba ngày trọn vẹn để khám phá thành phố.

Đó là ba ngày hạnh phúc nhất đời Robin. Cậu không phải đọc sách hay đến lớp; không phải đọc thơ hay soạn bài. Lần đầu tiên trong đời, cậu có toàn quyền kiểm soát ví tiền và lịch trình của bản thân, và cậu đã phát cuồng vì tự do.

Họ đã dành nguyên ngày đầu tiên để mua sắm. Họ đã đến Ede & Ravenscroft để may áo choàng; đến hiệu sách Thornton để mua toàn bộ những tựa sách trong chương trình học; đến những gian đồ gia dụng ở Cornmarket để mua ấm trà, thìa, ga trải giường, và đèn Argand. Sau khi đã mua tất cả những thứ mà họ nghĩ sẽ cần thiết cho cuộc sống sinh viên của mình, họ vẫn còn một phần đáng kể trong khoản trợ cấp mà không sợ sẽ sớm tiêu hết - họ có thể đến phòng tài vụ của trường để rút một khoản học bổng tương tự hằng tháng.

Nên họ đã vung tay tiêu xài một chút. Họ đã mua những túi hạt bọc đường và caramel. Họ đã thuê thuyền và dành suốt buổi chiều để đẩy thuyền của nhau tấp vào bờ sông Cherwell. Họ đã đến quán cà phê Queen’s Lane, nơi họ đã tiêu một khoản tiền lố bịch để nếm thử những loại bánh ngọt mà cả hai chưa từng được ăn. Ramy rất thích món bánh yến mạch. “Ai mà biết yến mạch lại ngon đến vậy”, cậu ấy nói, “Giờ thì tớ đã hiểu cảm giác của những chú ngựa”, còn Robin thì thích bánh dẻo nhúng đẫm đường, chúng khiến cậu ê răng suốt nhiều giờ.

Họ quá nổi bật ở Oxford. Ban đầu, nó khiến Robin cảm thấy bối rối. Ở London, nơi sầm uất hơn một chút, người nước ngoài chẳng bao giờ khiến người khác phải liếc nhìn chằm chằm không dứt. Còn người Oxford dường như không ngừng hoảng hốt vì sự hiện diện của họ. Ramy khiến người ta phải chú ý nhiều hơn Robin. Robin chỉ có vẻ là người ngoại quốc khi nhìn gần và ở nơi sáng sủa, còn Ramy rõ ràng khác hẳn.

“Ồ, vâng”, cậu đáp bằng giọng khoa trương mà Robin chưa từng nghe thấy, khi chủ tiệm bánh hỏi cậu rằng có phải cậu đến từ Hindustan. “Cháu có gia đình khá đông người ở đó. Bác đừng kể với ai nhé, thực ra cháu thuộc dòng dõi hoàng gia đấy, đứng thứ tư trong danh sách kế vị ngai vàng - ngai vàng gì ư? Ồ, chỉ là ngai vàng địa phương thôi; hệ thống chính trị ở nước cháu phức tạp lắm. Nhưng cháu muốn trải nghiệm cuộc sống bình dân - cháu muốn hưởng một nền giáo dục Anh đúng nghĩa, bác biết đấy - nên cháu đã rời khỏi cung điện để đến đây.”

“Sao cậu lại nói chuyện kiểu đó?” Robin hỏi sau khi họ đã đi đủ xa để không ai có thể nghe thấy. “Và ý cậu là gì, cậu thực sự thuộc dòng dõi vương giả ư?”

“Bất cứ khi nào người Anh nhìn thấy tớ, họ lại gắng xác định xem họ muốn nghe câu chuyện nào từ tớ”, Ramy nói. “Hoặc tớ là một tên trộm dơ dáy, hoặc tớ là người hầu trong nhà một vị quan thái thú nào đó. Nên khi ở Yorkshire, tớ đã nhận ra rằng sẽ dễ dàng hơn nếu họ nghĩ tớ là hoàng tử Mughal.”

“Tớ lúc nào cũng chỉ gắng hòa mình vào đám đông”, Robin nói.

“Nhưng điều đó là bất khả đối với tớ”, Ramy đáp. “Tớ phải sắm một vai nào đó. Khi còn ở Calcutta, tụi tớ đã luôn kể câu chuyện về Sake Dean Mahomed, người Hồi giáo đầu tiên ở Bengal đã trở thành một người giàu có ở nước Anh. Ông ấy có bà vợ da trắng người Ireland. Có nhà ở London. Và cậu biết ông ấy đã làm thế nào không? Ông ấy đã mở một nhà hàng, và thất bại; rồi đi tìm việc quản gia hoặc người hầu, và cũng thất bại. Rồi ông ấy đã nghĩ ra một ý tưởng tuyệt vời, đó là mở một tiệm gội đầu ở Brighton.” Ramy cười khúc khích. “Hãy đến và tận hưởng tinh dầu chữa lành! Đến để được mát-xa bằng dầu Ấn Độ! Nó có thể chữa lành bệnh hen suyễn và thấp khớp; có thể chữa cả bệnh bại liệt nữa. Dĩ nhiên, mọi người ở quê tớ đã không tin. Nhưng tất cả những gì Dean Mahomed cần làm chỉ là tự cấp giấy chứng nhận y khoa cho bản thân, thuyết phục cả thế giới về phương pháp chữa bệnh kỳ diệu của phương Đông, rồi họ sẽ cúi đầu nhận lấy những gì ông ta ban phát. Vậy câu chuyện này cho cậu biết gì nào, Chim Non? Nếu họ định dựng chuyện về cậu thì hãy lợi dụng nó. Người Anh sẽ không bao giờ nghĩ tớ là một người lịch thiệp, nhưng nếu tớ trùng khớp với những tưởng tượng trong đầu của họ, thì ít nhất họ sẽ nghĩ tớ thuộc dòng dõi vương giả.”

Đó là điểm khác biệt giữa họ. Kể từ khi đến London, Robin đã gắng cúi đầu và hòa nhập, để giảm thiểu sự khác biệt của mình. Cậu đã nghĩ mình càng có vẻ tầm thường sẽ càng ít gây sự chú ý. Còn Ramy, người chẳng có lựa chọn nào khác ngoài việc nổi bật, đã quyết định sẽ càng thêm chói lóa. Cậu ấy táo bạo đến mức cực đoan. Robin nghĩ Ramy thật phi thường và có chút đáng sợ.

“Mirza thực sự có nghĩa là hoàng tử sao?” Robin hỏi, sau khi nghe Ramy nói vậy lần thứ ba với người bán hàng.

“Phải. Chà, thực sự thì, nó là một tước hiệu - bắt nguồn từ Amĩrzãdeh trong tiếng Ba Tư, nhưng gọi là hoàng tử cũng gần đúng.”

“Vậy cậu có phải...?”

“Không.” Ramy cười khẩy. “Chà. Có lẽ tớ đã từng. Dù sao thì đó cũng là sự tích trong gia đình tớ; bố tớ từng nói rằng gia đình tớ là quý tộc Mughal, hay thứ gì đó tương tự. Nhưng giờ không còn nữa.”

“Chuyện gì đã xảy ra?”

Ramy nhìn cậu thật lâu. “Người Anh chứ còn gì nữa, Chim Non. Động não một chút đi.”

Tối hôm đó, họ đã bỏ ra quá nhiều tiền để mua một giỏ bánh mỳ, pho-mát, và nho ngọt, rồi đi dã ngoại trên một ngọn đồi thuộc South Park ở phía Đông của trường. Họ tìm được một nơi yên tĩnh gần khóm cây rậm rạp, đủ vắng vẻ để Ramy có thể cầu nguyện lúc hoàng hôn, rồi khoanh chân ngồi trên bãi cỏ, dùng tay xé bánh mỳ, hỏi nhau về cuộc sống bằng sự hồ hởi háo hức của những chàng trai trong suốt nhiều năm đã từng nghĩ mình là người duy nhất có hoàn cảnh đặc biệt như thế này.

Ramy đã nhanh chóng kết luận rằng Giáo sư Lovell hẳn phải là cha của Robin. “Chắc chắn phải như vậy, đúng không? Bằng không, sao ông ấy phải bí mật về chuyện đó đến vậy? Mà sao ông ấy lại quen mẹ cậu nhỉ? Ông ấy có biết cậu đã lờ mờ đoán được, hay vẫn đang gắng che giấu chuyện này?”

Robin cảm thấy sự thẳng thắn của Ramy thật đáng báo động. Cậu đã quá quen với việc lờ đi vần đề này đến nỗi cậu cảm thấy thật kỳ khôi khi nghe nó được miêu tả một cách thẳng thừng thế này. “Tớ chịu, về tất cả mọi chuyện.”

“Hừm. Ông ấy có giống cậu không?”

“Một chút, tớ nghĩ vậy. Ông ấy dạy ở trường này, dạy ngôn ngữ Đông Á - rồi cậu sẽ gặp ông ấy, rồi cậu sẽ biết thôi.”

“Cậu chưa từng hỏi ông ấy hay sao?”

“Chưa từng”, Robin đáp. “Tớ... tớ không biết ông ấy sẽ nói gì.” Không, điều đó không đúng. “Ý tớ là, tớ nghĩ ông ấy sẽ không chịu trả lời.”

Tính đến giờ, họ chỉ quen nhau chưa tới một ngày, nhưng Ramy đã có thể nhận biết cảm xúc của Robin đủ rõ để hiểu rằng cậu không nên gạn hỏi về chủ đề này.

Ramy có vẻ cởi mở hơn rất nhiều về hoàn cảnh của bản thân. Cậu ấy đã sống mười ba năm đầu đời ở Calcutta, là anh cả của ba cô em gái trong một gia đình phục vụ cho vị quan thái thú giàu có tên Horace Wilson, và bốn năm sau đó đã sống ở một điền trang tại vùng nông thôn Yorkshire, hệ quả của việc đã gây ấn tượng với ngài Wilson vì biết đọc tiếng Hy Lạp và tiếng Latin, và đã gắng không tự móc mắt mình vì buồn chán.

“Cậu rất may vì đã được học ở London”, Ramy nói. “Ít nhất cũng có nơi để đi vào mỗi dịp cuối tuần. Cả tuổi thành niên của tớ chỉ là những ngọn đồi và những cánh đồng hoang, chẳng có bất cứ ai dưới bốn mươi tuổi ở cạnh. Đã bao giờ cậu gặp nhà vua chưa?”

Đó là một tài năng khác của Ramy; cậu ấy có thể đổi chủ đề thật nhanh khiến Robin phải vất vả để theo kịp.

“Vua William ư? Không, không hẳn, ông ấy không thường xuyên xuất hiện trước công chúng. Đặc biệt là gần đây, với

Luật nhà máy

và

Luật về người nghèo

- phe cải cách cứ không ngừng nổi loạn trên đường phố, sẽ không an toàn khi xuất hiện.”

“Phe cải cách”, Ramy nhắc lại một cách ghen tị. “Cậu thật may mắn, tất cả những chuyện từng xảy ra ở Yorkshire chỉ là một, hai cuộc hôn nhân. Đôi khi những con gà mái sẽ được thả rông vào những ngày nắng đẹp.”

“Nhưng tớ đã không tham gia”, Robin nói. “Thú thực, ngày của tớ đơn điệu lắm. Tớ phải học không ngừng nghỉ - để chuẩn bị nhập trường.”

“Nhưng giờ chúng ta đã ở đây.”

“Mừng vì điều đó.” Robin ngồi xuống và thở dài. Ramy đưa cho cậu một chiếc ly - cậu ấy đã pha sirô hoa cơm cháy với mật ong và nước - rồi họ cụng ly và uống cạn.

Từ chỗ ngồi ở South Park, họ có thể nhìn thấy toàn cảnh ngôi trường, đang nhuốm trong hoàng hôn vàng rực. Nắng chiều khiến hai mắt Ramy long lanh, da cậu óng ánh như đồng thau được đánh bóng. Robin bỗng có ham muốn lố bịch được đặt tay lên má Ramy; quả thực, cậu đã giơ tay lên nửa chừng trước khi tâm trí kịp nhận ra cơ thể đang làm gì.

Ramy cúi xuống nhìn cậu. Một lọn tóc đen rũ xuống mắt cậu ấy. Robin thấy cảnh tượng đó quyến rũ đến lạ kỳ. “Cậu ổn chứ?”

Robin ngả người chống khuỷu tay, quay sang nhìn thành phố. Giáo sư Lovell nói đúng, cậu nghĩ thầm. Đây là nơi tuyệt diệu nhất thế gian.

“Tớ ổn” , cậu nói. “Hoàn toàn ổn”.

* * *

Những thành viên khác của Nhà số 4 Hẻm Magpie đã đến vào dịp cuối tuần. Không ai trong số họ là sinh viên của Viện Dịch thuật. Họ tự giới thiệu bản thân khi dọn đến: Colin Thornhill, một luật sư tập sự hoạt bát với đôi mắt tròn, người luôn nói chuyện dông dài và toàn về bản thân; Bill Jameson, chàng trai tóc đỏ dễ mến học ngành y, người có vẻ không ngừng lo lắng về mọi chi phí; và ở cuối hành lang là cặp song sinh Edgar và Edward Sharp, những người trên danh nghĩa đang học năm thứ hai ngành Cổ điển học nhưng đã dõng dạc tuyên bố rằng họ “chỉ quan tâm đến vấn đề xã hội cho tới khi nhận được tài sản kế thừa.”

Tối thứ Bảy, họ đã rủ nhau uống rượu ở phòng sinh hoạt chung nối liền với căn bếp. Bill, Colin, và anh em nhà Sharp đang ngồi quanh một chiếc bàn thấp khi Ramy và Robin bước vào. Họ đã được dặn hãy đến lúc chín giờ, nhưng rõ ràng rượu đã được rót ra từ lâu - những chiếc vỏ chai đang nằm ngổn ngang dưới sàn, và anh em nhà Sharp đang tựa vào nhau, rõ ràng đã say mèm.

Colin đang lải nhải về sự khác biệt giữa áo choàng của các học viên. “Các cậu có thể biết mọi thứ về một người dựa vào áo choàng của anh ta”, Colin nghiêm nghị nói. Cậu ta có giọng nói kỳ lạ, phát âm quá rõ, cường điệu đến đáng ngờ mà Robin không thích dù không hiểu tại sao. “Áo choàng cử nhân được cài khuy ở khuỷu tay, rồi buông thõng xuống. Áo choàng của quý ông được làm bằng lụa và xếp nếp ở tay áo. Áo choàng của thường dân thì không có tay, và xếp nếp ở vai, và cậu có thể phân biệt đám người hầu với thường dân vì áo choàng của họ không có nếp, và mũ không có tua

*

...”

Oxford có sự phân cấp giai tầng rất khắt khe trước thời Victoria. Sinh viên được chia thành năm thứ bậc: quý ông, thường dân, học giả, kẻ ăn bám, và gla nhân. Quý ông (gentleman-commoner) là người có phẩm chất và đạo đức của một quý tộc nhưng không thuộc về tầng lớp quý tộc. Các quý ông ngồi bàn riêng ở Oxford, thường dân và học giả ăn chung ở sảnh; kẻ ăn bám (gần như theo nghĩa đen) xin ăn ở căn-tin và phụ việc một phần ở trường. Gia nhân là thứ hạng thấp nhất, chỉ những sinh viên phải làm nhiều phần việc của nô bộc, ăn đồ thừa ở bàn của các quý ông.

“Chúa ạ”, Ramy nói khi ngồi xuống. “Cậu ta đã lải nhải suốt từ nãy đến giờ sao?”

“Ít nhất cũng mười phút rồi”, Bill nói.

“Ồ, nhưng bộ đồng phục chỉnh tề là điều quan trọng nhất”, Colin khăng khăng. “Đó là cách chúng ta thể hiện địa vị sinh viên Oxford của mình. Đó là một trong bảy đại tội khi mặc áo choàng nhưng lại đội mũ vải tuýt thông thường, hoặc dùng gậy chống. Và tớ đã nghe kể về một gã không biết gì về những loại áo choàng, kẻ đã nói với thợ may rằng hắn là một học giả, nên dĩ nhiên hắn sẽ cần một chiếc áo choàng học giả, rồi bị cười thối mặt vào ngày hôm sau khi người ta nhận ra hắn không phải một học giả, vì không nhận được học bổng, mà chỉ là một thường dân tự trả tiền đi học...”

“Vậy chúng ta phải mặc áo choàng loại nào?” Ramy xen ngang. “Không biết tớ đã dặn thợ may đúng loại hay chưa.”

“Còn tùy”, Colin đáp. “Cậu là quý ông hay gia nhân? Tớ tự trả học phí, nhưng không phải ai cũng vậy - các điều khoản của cậu với phòng tài vụ thế nào?”

“Chịu”, Ramy đáp. “Cậu nghĩ áo choàng màu đen có được không? Tớ chỉ biết rằng tụi tớ đã may áo choàng màu đen.”

Robin khịt mũi cười. Mắt Colin khẽ trợn lên. “Được, nhưng còn tay áo...”

“Kệ cậu ta đi”, Bill cười nói. “Colin rất quan tâm đến địa vị.”

“Ở trường này người ta coi trọng áo choàng lắm đấy”, Colin nghiêm nghị nói. “Tớ đã đọc trong sách cẩm nang mà. Họ thậm chí sẽ không cho cậu vào giảng đường nếu không mặc trang phục phù hợp. Vậy cậu là một quý ông hay gia nhân?”

“Họ không là gì trong số đó.” Edward quay sang Robin. “Các cậu là Babbler phải không? Tớ nghe nói tất cả các Babbler đều nhận được học bổng.”

“Babbler là gì?” Robin hỏi lại. Đó là lần đầu tiên cậu nghe thấy cái tên này.

“Viện Dịch thuật”, Edward nói vẻ mất kiên nhẫn. “Cậu sẽ học ở đó, phải không? Họ không để những người như cậu vào nơi khác.”

“Người như tụi tớ?” Ramy nhướng một chân mày.

“Mà cậu là người gì thế?” Edgar Sharp hỏi cộc lốc. Cậu ta có vẻ chực lăn ra ngủ, nhưng giờ đã gắng hết sức để ngồi dậy, nheo mắt nhìn Ramy như đang nhìn qua một làn sương. “Người da đen? Người Thổ Nhĩ Kỳ?”

“Tớ đến từ Calcutta”, Ramy cáu bẳn. “Có nghĩa rằng tớ là người Ấn Độ, nếu cậu cần phải biết.”

“Hừm”, Edward nói.

“Trên những con phố của London, nơi một người hồi giáo vấn khăn, một người Do Thái có chòm râu quai nón, và một người châu Phi lông lá, gặp một người Ấn Độ da nâu”, Edward ngân nga nói. Cậu em song sinh ngồi bên cạnh khịt mũi cười rồi uống một ngụm rượu vang.

Lần đầu tiên Ramy không biết phải nói gì; chỉ chớp mắt nhìn Edgar, vẻ kinh ngạc.

“Chậc”, Bill nói, và rờ tai. “Chậc.”

“Đó có phải là thơ của Anna Barbauld không nhỉ?” Colin hỏi. “Nghe hay đấy. Dĩ nhiên cách chơi chữ không khéo bằng những nhà thơ nam, nhưng bố tớ thích thơ của bà ấy lắm. Rất lãng mạn.”

“Còn cậu là người Trung Quốc phải không?” Edgar lờ đờ nhìn Robin. “Có thật là người Trung Quốc thường bó chân phụ nữ để họ không thể đi lại?”

“Gì cơ?” Colin khụt khịt cười. “Nghe lố bịch thế.”

“Tớ đã đọc được điều đó”, Edgar khăng khăng. “Nói thử coi, họ làm vậy vì nó gợi tình hả? Hay chỉ để đám đàn bà không thể bỏ chạy?”

“Ừ thì...” Robin không biết phải bắt đầu từ đâu. “Không phải nơi nào họ cũng làm vậy - mẹ tớ đã không bó chân, và ở quê tớ có rất nhiều người phản đối tục lệ ấy...”

“Vậy ra đó là sự thật”, Edgar reo lên. “Chúa ạ. Giống người các cậu đồi trụy quá.”

“Các cậu thực sự uống nước tiểu của lũ nít trai để thay thuốc à?” Edward hỏi. “Họ lấy nước tiểu như thế nào vậy?”

“Cậu ngậm mồm lại và uống rượu đi”, Ramy gay gắt nói.

Mọi hy vọng về tình anh em đều nhanh chóng tan biến ngay sau đó. Họ đề nghị chơi bài uýt, nhưng anh em nhà Sharp không biết luật chơi và đã quá say để học. Bill nói cậu ấy bị đau đầu và đi ngủ sớm. Colin lại tiếp tục bài diễn thuyết dông dài về tính phức tạp của phép xã giao nơi đại sảnh, bao gồm một bài cầu nguyện tiếng Latin rất dài mà cậu bảo tất cả bọn họ nên học thuộc ngay trong đêm, nhưng chẳng ai chịu lắng nghe. Anh em nhà Sharp, trong sự hối lỗi lạ lùng, đã hỏi Robin và Ramy vài câu lịch sự bâng quơ về dịch thuật, nhưng rõ ràng không quá quan tâm đến câu trả lời. Bất kể anh em nhà Sharp đang tìm thứ tình bạn đáng quý nào ở Oxford, họ chắc chắn sẽ không tìm thấy ở đây. Chỉ sau nửa tiếng, cuộc tụ họp đã chấm dứt, và mọi người lững thững về phòng.

Đêm đó họ đã bàn bạc về bữa sáng chung của nhà. Nhưng khi Ramy và Robin đến phòng ăn vào sáng ngày hôm sau, họ nhìn thấy một mẩu tin nhắn đang nằm trên mặt bàn.

Tụi này đến quán cà phê ở langlffley mà anh em Sharp thường lui tới. Nhưng không nghĩ các cậu sẽ thích chỗ này - gặp lại sau nhé. - CT

“Vậy là chỉ có tụi mình với nhau”, Ramy hờ hững nói.

Robin không hề cảm thấy phiền. “Tớ thích khi chỉ có hai đứa tụi mình với nhau.”

Ramy mỉm cười.

Họ dành ngày thứ ba cùng tham quan những nơi nổi bật trong trường. Oxford của năm 1836 đang trong giai đoạn phát triển, như một sinh vật không biết thỏa mãn, ngấu nghiến ăn sự thịnh vượng mà nó đã tạo ra. Các trường đại học không ngừng được cải tạo; mua thêm đất từ thành phố; thay thế những tòa nhà trung cổ bằng những tòa nhà mới bắt mắt hơn; xây thêm thư viện để chứa những tuyển tập sách vừa gom về. Hầu hết mỗi tòa nhà ở Oxford đều có tên riêng - không đặt tên theo chức năng hay vị trí, mà theo tên những người quyền lực và giàu có đã truyền cảm hứng cho việc xây dựng tòa nhà. Có Bảo tàng Ashmolean đồ sộ và ấn tượng, nơi lưu trữ những chiếc tủ kỳ thú do Elias Ashmole hiến tặng, gồm một đầu chim dodo, những hộp sọ hà mã, và chiếc sừng da dài 3 inch được cho rằng đã mọc trên đầu của người phụ nữ tên Mary Davis ở Cheshire; Thư viện Radcliffe, một thư viện có mái vòm trông thậm chí còn rộng hơn và uy nghi hơn khi nhìn từ bên trong; và Nhà hát Sheldonian, với những bức tượng bán thân bằng đá khổng lồ vây quanh mà người ta gọi là Thủ cấp của Hoàng đế, tất cả trông như những người đàn ông bình thường vô tình gặp phải Medusa.

Và còn Bodleian - ôi, Bodleian, một báu vật quốc gia đúng nghĩa: nơi lưu giữ lượng sách khổng lồ nhất trên toàn cõi nước Anh (“Cambridge chỉ có khoảng một trăm nghìn tựa sách”, vị thủ thư dẫn đường cho các cậu đã khụt khịt cười, “còn Edinburgh chỉ có vỏn vẹn sáu mươi ba nghìn”), và sẽ có thêm nhiều sách nữa, dưới sự quản lý đáng tự hào của Mục sư Tiến sĩ Bulkeley Bandinel, với ngân sách 2000 bảng mỗi năm để mua thêm sách.

Chính Mục sư Tiến sĩ Bulkeley Bandinel đã ra đón khi họ đến thư viện, và dẫn họ đi tham quan Phòng đọc của Biên dịch viên. “Không thể để thủ thư dẫn các cậu đi được”, ông thở dài. “Thường thì, chúng tôi sẽ để đám ngốc ấy tự đi lang thang rồi hỏi đường nếu đi lạc. Nhưng các cậu là biên dịch viên - các cậu thực sự hiểu giá trị của nơi này.”

Ông ấy là một người béo mập với đôi mắt lờ đờ và phong thái cũng lờ đờ chẳng kém, miệng dường như luôn cau có. Nhưng khi di chuyển khắp tòa nhà, mắt ông sáng lên trong niềm vui thực thụ. “Chúng ta sẽ bắt đầu tham quan từ đại sảnh, rồi qua thư viện của Công tước Humfrey. Đi nào, các cháu cứ tự nhiên thăm thú - sách được tạo ra là để chạm vào, bằng không chúng sẽ trở nên vô dụng, nên đừng sợ gì hết cả. Tụi bác rất tự hào về những lần nhập sách gần đây. Có bộ sưu tập bản đồ của Richard Gough đã hiến tặng vào năm 1809 - Bảo tàng Anh đã không muốn nhận chúng, các cháu có thể tin nổi không? Rồi còn bộ sưu tập mà ngài Malone đã hiến tặng khoảng mười năm trước - nó đã mở rộng đáng kể những tài liệu về Shakespeare. Ồ, và chỉ hai năm trước, tụi bác đã nhận được bộ sưu tập của Francis Douce - tận ba mươi ngàn cuốn sách bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, dù bác nghĩ các cháu không chuyên về tiếng Pháp nhỉ... tiếng Ả Rập phải không? Ồ, phải - đi lối này; Viện có rất nhiều tài liệu tiếng Ả Rập, nhưng bác có những tuyển tập thơ từ Ai Cập và Syria mà bác nghĩ các cháu sẽ thích...”

Họ rời Bodleian trong trạng thái bàng hoàng, ấn tượng, và có phần sợ hãi trước lượng tài liệu khổng lồ mà họ có thể đọc. Ramy bắt chước vẻ cau có của Mục sư Tiến sĩ Bandinel nhưng không thể thực sự tỏ ra cáu kỉnh; rất khó để coi thường một người rõ ràng rất yêu việc tích lũy kiến thức.

Họ khép lại một ngày bằng chuyến tham quan Học xá Đại học do Billings hướng dẫn, ông ấy phụ trách việc gác cổng đã nhiều năm nay. Hóa ra đến giờ họ mới chỉ nhìn thấy một góc nhỏ ngôi nhà mới của mình. Ngôi trường, nằm ở phía Đông ngay bên cạnh những tòa nhà trên Hẻm Magpie, gồm hai mảnh sân hình tứ giác xanh mướt và những tòa nhà bằng đá trông như những tòa thành. Trong lúc đi, Billings không ngừng nhắc đến những cái tên và tiểu sử của chúng, bao gồm những mạnh thường quân, kiến trúc sư, và những nhân vật quan trọng khác. “... và những bức tượng ở gần lối vào là của Nữ hoàng Anne, Nữ hoàng Mary, bên trong là James Đệ Nhị và Tiến sĩ Radcliffe... Còn những ô cửa kính màu rực rỡ trong nhà nguyện do chính Abraham van Linge chế tác vào năm 1640, phải, chúng rất trường tồn, và thợ kính Henry Giles ở York đã làm cửa sổ phía Đông... hiện không có Lễ Thánh nên chúng ta có thể ngó vào một chút; đi theo ta nào.”

Bên trong nhà nguyện, Billings dừng lại trước một bức phù điêu. “Ta nghĩ các cháu biết vị này là ai, các cháu là sinh viên dịch thuật mà.”

Họ biết. Cả Robin lẫn Ramy đều không ngừng nghe người ta nhắc đến cái tên này kể từ khi đặt chân tới Oxford. Bức phù điêu được tạc để tưởng niệm một cựu sinh viên Học xá Đại học được mọi người công nhận là một thiên tài, người đã soạn một văn bản đặt nền móng cho việc xác định rằng tiếng Ấn-Âu nguyên thủy là ngôn ngữ tiền thân kết nối tiếng Latin, tiếng Phạn và tiếng Hy Lạp vào năm 1786. Hiện tại, ông có lẽ là dịch giả nổi tiếng nhất trên khắp lục địa, ngoại trừ cháu trai của ông, người vừa tốt nghiệp cách đây không lâu, Sterling Jones.

“Đó là ngài William Jones.” Robin nghĩ cảnh được miêu tả trong bức phù điêu có phần hơi khó chịu. Jones đang ngồi ở bàn viết, sỗ sàng vắt chéo chân, trong lúc ba người khác, rõ ràng là người Ấn, ngồi phủ phục dưới sàn nhà trước mặt ông như những đứa trẻ đang nghe lời giảng dạy.

Billings có vẻ tự hào. “Đúng vậy. Ông ấy đang dịch bản tóm tắt bộ luật của người Hindu, có vài người Bà-la-môn đang ngồi trên sàn để giúp đỡ ông ấy. Ta nghĩ, chỉ có trường chúng ta mới trang trí hình ảnh người Ấn Độ trên tường. Nhưng nghĩ lại thì, Univ đã luôn có một mối liên kết đặc biệt với những nước thuộc địa. Và như các cháu đã biết, những chiếc đầu hổ kia là biểu tượng của Bengal.”

“Nhưng sao ông ấy lại là người duy nhất có bàn ạ?” Ramy hỏi. “Tại sao những người Bà-la-môn lại ngồi ở dưới sàn?”

“Ồ, ta nghĩ người Hindu thích như vậy”, Billings đáp. “Họ thích ngồi vắt chéo chân, cháu thấy đấy, vì họ nghĩ như vậy thoải mái hơn.”

“Quả rất bổ ích”, Ramy nói. “Cháu đã không biết điều đó.”

Họ đã dành nguyên buổi tối Chủ nhật để vùi đầu vào những kệ sách ở Bodleian. Ngay khi nhập học, họ đã được giao một danh sách dài những tài liệu cần đọc, nhưng vì bất chợt có tự do nên họ đã trì hoãn cho đến tận phút cuối cùng. Cuối tuần, Bodleian sẽ đóng cửa vào 8 giờ tối. Họ đến nơi lúc 7 giờ 45, nhưng cái tên Viện Dịch thuật dường như mang một sức mạnh phi thường, bởi khi Ramy giải thích những thứ họ cần, thủ thư đã nói với họ rằng họ cứ việc ở lại đến khi nào tuỳ thích. Họ sẽ mở cửa cho nhân viên trực đêm, nên các cậu có thể ra về bất cứ khi nào các cậu muốn.

Khi họ bước ra từ đằng sau những kệ sách, cặp nặng trĩu, mắt mờ đi vì đã nheo mắt nhìn những dòng chữ nhỏ xíu, mặt trời đã lặn từ khi nào. Khi đêm xuống, ánh trăng hòa cùng những ngọn đèn đường, bao trùm thành phố trong ánh sáng hư ảo, ma mị. Những viên đá cuội dưới chân họ tựa như những con đường nối nhiều thế kỷ khác nhau. Đây có thể là Oxford của thời Cải cách, hay Oxford của thời Trung cổ. Họ bước đi trong khoảng không vô tận, nơi bóng ma của những học giả ở mọi thời kỳ cùng nhau bước qua.

Đường về trường chỉ không đầy năm phút, nhưng họ đã vòng lên phố Broad để kéo dài quãng đường. Đây là lần đầu tiên họ ở bên ngoài muộn đến vậy; họ muốn tận hưởng thành phố lúc đêm về. Họ bước đi trong im lặng, không ai dám phá vỡ sự u mê.

Một tràng cười vọng lại từ bên kia tường đá khi họ bước qua New College. Lúc rẽ xuống phố Holywell, họ nhìn thấy một nhóm người gồm sáu hoặc bảy sinh viên, tất cả đều mặc áo choàng đen, nhưng nhìn dáng đi lắc lư của họ, có thể thấy rõ rằng họ đã không trở về từ một giảng đường mà từ một quán rượu.

“Cậu nghĩ họ có phải là Balliol không?” Ramy thì thầm.

Robin cười.

Họ mới đến Học xá Đại học ba ngày nhưng đã nghiệm ra trật tự và những quan điểm thường tình giữa các trường. Exeter lịch sự nhưng đần độn; Brasenose ồn ào và tối ngày say khướt. Hàng xóm của họ, Queen’s và Merton bị ngó lơ. Và Balliol, những anh chàng đang tiêu tốn một khoản học phí gần như cao nhất trường, chỉ sau Oriel, nổi tiếng vì tài uống rượu hơn là đến lớp.

Họ liếc nhìn khi hai cậu đến gần. Robin và Ramy gật đầu với họ, vài người gật đầu đáp lại, sự công nhận chung giữa những chàng trai cùng trường.

Con phố rộng, và hai nhóm đang đi ngược đường. Đáng lẽ họ đã bước qua mặt nhau mà không gây chuyện om sòm, chỉ có điều, một gã đã bất chợt chỉ tay vào Ramy và hét lớn, “Cái gì kia? Các cậu có nhìn thấy nó không?”

Lũ bạn kéo hắn đi, cười hô hố.

“Thôi nào, Mark”, một gã nói. “Để chúng đi đi...”

“Đợi chút”, gã tên Mark nói. Hắn hất tay lũ bạn ra. Hắn đứng im trên phố, nheo mắt nhìn Ramy bằng sự tập trung trong cơn say. Tay hắn lơ lửng giữa không trung, vẫn chỉ vào Ramy. “Nhìn mặt hắn kìa - tụi mày có thấy không?”

“Mark, làm ơn đi”, anh chàng đứng xa nhất nói. “Đừng ngớ ngẩn như vậy.”

Tất cả bọn họ đã ngừng cười.

“Đó là một gã Hindu”, Mark nói. “Một gã Hindu đang làm gì ở đây vậy?”

“Đôi lúc chúng đến tham quan vậy thôi”, một gã nói. “Còn nhớ hai gã ngoại quốc đã đến đây vào tuần trước chứ? Vua Ba Tư hay thứ gì đó tương tự...”

“Tao nghĩ là vẫn nhớ, những gã quấn khăn...”

“Nhưng gã này mặc áo choàng mà.” Mark sẵng giọng với Ramy. “Này! Sao mày lại mặc áo choàng?”

Giọng hắn bỗng hung tợn. Không khí đã không còn vẻ thân mật nữa; tình hữu nghị sinh viên, bất kể nó có từng tồn tại hay không, đã biến mất.

“Mày không được mặc áo choàng”, Mark khăng khăng. “Cởi ra ngay.”

Ramy tiến lên một bước.

Robin túm tay cậu. “Đừng.”

“Này, tao đang nói chuyện với mày đấy.” Hắn băng qua đường, đi về phía họ. “Sao thế? Mày không hiểu tiếng Anh à? Cởi áo choàng ra ngay, mày có nghe thấy không? Cởi ra ngay.”

Rõ ràng Ramy muốn đánh lộn - tay cậu nắm chặt lại, đầu gối cong xuống, sẵn sàng lao tới. Nếu Mark đến gần hơn, đây sẽ là một đêm đẫm máu.

Nên Robin vắt chân lên chạy.

Cậu ghét bản thân vì đã làm như vậy, cậu thấy mình thật hèn nhát, nhưng đó là việc duy nhất cậu có thể nghĩ ra để mọi chuyện không kết thúc một cách đau thương. Vì cậu biết Ramy sẽ bàng hoàng mà chạy theo. Quả thực, chỉ vài giây sau, cậu nghe thấy tiếng bước chân của Ramy vang lên sau lưng, tiếng thở mạnh, và những lời chửi rủa mà cậu ấy đang lẩm bẩm thốt lên trong lúc chạy xuống phố Holywell.

Tiếng cười - đã lại vang lên, dù không còn vì vui vẻ - dường như đang lớn hơn sau lưng họ. Đám thanh niên Balliol đang rú lên như những con khỉ; tiếng cười của chúng vươn theo những chiếc bóng đang đổ dài lên tường. Trong khoảnh khắc, Robin đã sợ rằng họ sẽ đuổi theo, rằng những gã này đang đuổi theo sát đằng sau, tiếng bước chân đang bao trùm lấy họ. Nhưng đó chỉ là tiếng máu chạy rền vang bên tai cậu. Họ đã không đuổi theo; họ đang quá say, quá kích động, và chắc chắn lúc này đang mải mê tìm trò tiêu khiển tiếp theo.

Dù vậy Robin vẫn không dừng lại cho đến khi đã ra tới Phố High. Đường vắng vẻ. Họ đang đứng một mình, hổn hển thở trong bóng tối.

“Chết tiệt”, Ramy lẩm bẩm. “Chết tiệt...”

“Tớ xin lỗi”, Robin nói.

“Không cần phải xin lỗi”, Ramy nói, dù không nhìn vào mắt Robin. “Cậu đã làm điều đúng đắn.”

Robin không chắc rằng liệu có ai trong số họ thực sự tin điều đó.

Giờ họ đang ở xa nhà hơn lúc trước, nhưng ít nhất cũng đã quay lại dưới những ngọn đèn đường, nơi họ có thể nhìn thấy rắc rối đang đến từ đằng xa.

Họ bước đi trong im lặng một hồi. Robin không nghĩ ra điều gì thích hợp để nói; bất cứ lời nào xuất hiện trong đầu cậu đều chết ngay trên lưỡi.

“Chết tiệt”, Ramy lại nói. Cậu dừng lại đột ngột, một tay đặt lên cặp táp. “Tớ nghĩ... đợi chút đã.” Cậu lục tung sách vở, rồi lại chửi rủa. “Tớ để quên sổ tay mất rồi.”

Ruột gan Robin quặn lại. “Ở phố Holywell sao?”

“Ở Bodleian.” Ramy bóp sống mũi và rên rỉ. “Tớ biết nó ở đâu - ở ngay góc bàn; tớ đã định đặt nó lên đầu đống sách vì không muốn giấy bị nhăn, nhưng tớ đã quá mệt nên chắc hẳn tớ đã quên.”

“Cậu không thể cứ để nó ở đó rồi ngày mai quay lại lấy hay sao? Tớ nghĩ các thủ thư sẽ không rời nó đi đâu, ngay cả khi họ rời đi, cậu chỉ cần hỏi...”

“Không được, tớ đã ghi lại những đoạn cần ôn tập trong sổ, và tớ sợ ngày mai họ sẽ bắt tụi mình đọc. Tớ sẽ quay lại lấy ...”

“Để tớ đi”, Robin nói nhanh. Đây có vẻ là việc đúng đắn để làm; như sự chuộc lỗi.

Ramy cau mày. “Cậu chắc chứ?”

Giọng Ramy không có vẻ gì là đang phản đối. Cả hai đều biết điều Robin không nói ra - rằng Robin có thể giả làm người da trắng trong bóng tối, và nếu Robin có đụng mặt đám sinh viên Balliol khi quay lại một mình, họ cũng sẽ không bận tâm đến cậu.

“Tớ sẽ quay lại sau hai mươi phút”, Robin quả quyết. “Tớ sẽ để nó ngoài cửa phòng cho cậu.”

Oxford bỗng trở nên u ám khi chỉ có mình cậu; ánh đèn đã không còn ấm áp mà chỉ còn vẻ ma mị, nó kéo dài và bẻ cong chiếc bóng của cậu trên mặt đường đá cuội. Thư viện Bodleian đã đóng cửa, nhưng nhân viên trực đêm đã thấy cậu đang vẫy tay từ cửa sổ và mở cửa cho cậu. Rất may, đó là vị thủ thư hồi tối, anh ta đã để Robin vào khu vực phía Tây mà chẳng hỏi han gì. Phòng đọc tối om và lạnh buốt. Những ngọn đèn đã tắt sạch; Robin chỉ thấy đường nhờ ánh trăng đang rọi vào cuối phòng. Cậu run rẩy, chộp lấy cuốn sổ tay của Ramy, nhét nó vào cặp táp, rồi vội vã bước qua cửa.

Cậu vừa băng qua khu vườn tứ giác thì nghe thấy những tiếng thì thầm.

Đáng lẽ cậu phải bước nhanh hơn, nhưng có điều gì đó - giọng điệu, hình thái của ngôn ngữ - khiến cậu dừng lại. Sau khi dừng lại và dỏng tai nghe ngóng, cậu nhận ra đó là tiếng Trung. Một câu tiếng Trung, thốt lên hết lần này đến lần khác bằng vẻ cấp bách ngày càng tăng.

“Wuxing.”

Robin rón rén đi quanh góc tường.

Có ba người đang đứng giữa phố Holywell, tất cả đều là những thanh niên mảnh khảnh mặc toàn đồ đen, hai chàng trai và một cô gái. Họ đang vật lộn kéo một chiếc rương. Đáy rương hẳn đã rơi ra, vì thứ rõ ràng là những thỏi bạc đang nằm ngổn ngang dưới mặt đường.

Cả ba người ngước lên nhìn khi Robin đến gần. Người đã điên tiết thì thầm bằng tiếng Trung đang quay lưng về phía Robin; anh ta là người cuối cùng quay lại, chỉ sau khi đám bạn đã đứng im bất động. Anh ta nhìn thẳng vào mắt Robin. Tim Robin nhảy dựng lên cổ.

Như thể cậu đang nhìn vào gương.

Đó là đôi mắt màu nâu của cậu. Đó là sống mũi thẳng của cậu, là mái tóc màu hạt dẻ đang rũ xuống giống hệt mái tóc của cậu, xõa rối bù từ trái sang phải.

Anh ta cầm một thỏi bạc trên tay.

Ngay lập tức Robin nhận ra việc mà anh ta định làm.

Wúxíng

- tiếng Trung là “vô hình, vô dạng, vô khối.” Nghĩa gần nhất trong tiếng Anh là “vô hình.” Những người này, bất kể họ là ai, đang muốn tự ẩn mình. Nhưng đã có chuyện bất ổn, vì thỏi bạc chỉ có chút hiệu quả; ba dáng người bập bùng dưới ngọn đèn đường, và thi thoảng, trông họ lại có vẻ trong suốt, nhưng chắc chắn không vô hình.

Bản sao của Robin ném cho cậu một cái nhìn rầu rĩ.

“Giúp tôi”, anh ta khẩn nài. Rồi lại nói bằng tiếng Trung, “

Bãngmáng.

”

Robin không rõ điều gì đã khiến cậu hành động - nỗi kinh hãi gần đây vì những gã ở trường Balliol, sự ngớ ngẩn tột cùng của cảnh tượng này, hay sự hoang mang khi nhìn thấy khuôn mặt bản sao của cậu - nhưng cậu đã bước tới và đặt một tay lên thỏi bạc. Bản sao của cậu buông nó ra mà không nói một lời.

“

Wuxing

”, Robin nói, nghĩ đến những truyền thuyết mà mẹ cậu đã kể cho cậu, về những linh hồn và những bóng ma đang ẩn nấp trong bóng tối. về những thể vô hình, vô dạng. “Vô hình.”

Thỏi bạc rung lên trong tay cậu. Cậu nghe thấy một tiếng động phát lên từ thinh không, một tiếng thở dài khe khẽ.

Cả bốn người biến mất.

Không, biến mất không phải là từ thích hợp. Robin không có từ nào để diễn tả; không thể nào diễn tả, nó là một khái niệm mà cả tiếng Trung lẫn tiếng Anh đều không thể diễn tả một cách trọn vẹn. Họ vẫn tồn tại, nhưng không phải dưới dạng con người. Họ không phải là những thể tồn tại không thể nào nhìn thấy. Họ không phải là những thể tồn tại. Họ vô hình. Họ trôi nổi, họ lan tràn; họ là không khí, họ là những bức tường gạch, là những viên đá cuội. Robin không thể cảm nhận cơ thể của cậu, đâu là cậu, đâu là thỏi bạc - cậu là những thỏi bạc, những viên đá, là màn đêm.

Nỗi sợ lạnh lẽo chạy qua tâm trí cậu. Lỡ mình không thể quay lại như lúc đầu thì sao?

Vài giây sau, một viên cảnh sát chạy xuống phố. Robin thở gấp, bóp chặt thỏi bạc, khiến cơn đau chạy dọc cánh tay.

Viên cảnh sát nhìn thẳng vào cậu, nheo mắt, nhưng không thấy gì ngoài bóng tối.

“Chúng không ở đây”, ông ta nói qua vai. “Thử đuổi theo về hướng công viên xem thế nào...”

Giọng ông ta xa dần trong lúc chạy.

Robin buông thỏi bạc ra. Cậu không thể tiếp tục cầm nó; cậu không thể cảm nhận sự hiện diện của nó nữa. Cậu đã không buông nó bằng cách nới lỏng các ngón tay, mà mạnh bạo ném nó đi để tách bản chất con người cậu ra khỏi thỏi bạc.

Nó đã có hiệu quả. Lũ trộm đã hiện hình giữa màn đêm.

“Nhanh tay lên”, một gã lên tiếng, anh ta có mái tóc màu vàng nhạt. “Nhét nó vào áo và mặc xác chiếc rương đi.”

“Chúng ta không thể bỏ nó ở lại”, cô gái nói. “Họ sẽ lần theo dấu vết.”

“Vậy nhặt chúng lên đi, nhanh lên.”

Cả ba người bắt đầu nhặt những thỏi bạc dưới dất. Robin ngập ngừng trong giây lát, hai tay buông thõng ngượng ngùng. Rồi cậu cúi xuống và giúp họ.

Sự vô lý của chuyện này vẫn chưa thấm vào người cậu. Cậu chỉ mơ hồ nhận ra rằng bất cứ chuyện gì đang diễn ra hẳn cũng là phi pháp. Những thanh niên này không thể có liên quan đến Oxford, Bodleian hay Viện Dịch thuật, bằng không họ đã không lén lút giữa đêm, mặc tuyền đồ đen và chạy trốn cảnh sát.

Điều đúng đắn và hiển nhiên cần làm lúc này là gây báo động.

Nhưng chẳng hiểu sao, việc giúp họ dường như lại là lựa chọn duy nhất. Cậu không chất vấn logic này, cậu chỉ hành động vậy thôi. Cậu cảm thấy như đang chìm vào một giấc mơ, đang bước vào một vở kịch mà cậu đã thuộc hết lời thoại, dù mọi thứ vẫn là một bí ẩn. Đây là một ảo ảnh với logic riêng của nó, và chẳng hiểu sao cậu không thể gọi tên, cậu không muốn phá vỡ nó.

Cuối cùng, tất cả những thỏi bạc đã được cất trong vạt áo trước và nhét vào túi. Robin đưa những thỏi bạc mà cậu đã nhặt cho bản sao của mình. Những ngón tay của họ chạm nhau, và Robin rùng mình.

“Đi thôi”, gã tóc vàng nói.

Nhưng không ai trong số họ di chuyển. Họ đang nhìn Robin, rõ ràng không biết phải làm gì với cậu.

“Lỡ cậu ta...” cô gái nói.

“Cậu ta sẽ không làm vậy”, bản sao của Robin quả quyết. “Phải không?”

“Dĩ nhiên rồi”, Robin thì thầm.

Gã tóc vàng vẫn không có vẻ bị thuyết phục. “Sẽ dễ hơn nếu...”

“Không. Không phải lần này.” Bản sao của Robin nhìn cậu từ đầu đến chân trong khoảnh khắc, rồi có vẻ đã đưa ra quyết định. “Cậu là dịch giả phải không?”

“Phải”, Robin thở gấp. “Phải, tôi chỉ vừa đến đây.”

“Rễ Cây Ngoằn Ngoèo”, bản sao của cậu nói. “Hãy đến đó tìm tôi.”

Cô gái và gã tóc vàng nhìn nhau. Cô ta mở miệng như định phản đối, rồi dừng lại, và khép miệng.

“Được rồi”, gã tóc vàng nói. “Giờ thì đi thôi.”

“Đợi chút”, Robin vội nói. “Cậu là... khi nào thì...”

Nhưng đám đạo tặc đã bắt đầu chạy.

Họ chạy nhanh đến kinh ngạc. Chỉ vài giây sau, con phố đã vắng tanh. Chẳng để lại dấu vết gì - họ đã nhặt tất cả những thỏi bạc, thậm chí đã mang theo những mảnh vỡ của chiếc rương. Họ có thể là những bóng ma. Robin có thể đã tưởng tượng ra tất cả những chuyện này, và thế giới sẽ chẳng có gì khác.

Ramy vẫn thức khi Robin quay lại. Cậu ấy mở cửa ngay khi tiếng gõ cửa đầu tiên vang lên.

“Cảm ơn nhé”, Ramy nói, cầm cuốn sổ.

“Dĩ nhiên rồi.”

Họ đứng nhìn nhau trong im lặng.

Chẳng có gì phải thắc mắc về chuyện đã diễn ra. Cả hai đều choáng váng về nhận thức bất chợt rằng họ không thuộc về nơi này, rằng bất chấp việc được nhận vào Viện Dịch thuật và bất chấp những chiếc áo choàng, hay những kỳ vọng, các cậu cũng không được an toàn trên phố. Họ là những người sống ở Oxford; họ không phải người Oxford. Nhưng sự thật lớn lao này thật thảm khốc, quá đối lập với ba ngày vàng son mà họ đã tận hưởng một cách mù quáng, đến nỗi không ai trong số họ có thể nói thành lời.

Và họ sẽ không bao giờ nói nó ra thành lời. Quá đau đớn để nghĩ đến sự thật này. Sẽ dễ hơn rất nhiều nếu tiếp tục giả vờ, nếu tiếp tục chìm trong ảo tưởng đến khi nào có thể.

“Chà”, Robin nói yếu ớt, “chúc cậu ngủ ngon.”

Ramy gật đầu và đóng cửa mà không nói một lời.

Đầu truyệnChương Sau

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 5

Đang tải bình luận...