Phần lớn anh em cũng ít cáu kỉnh hay cãi cọ nhau. Thời tiết thì lý tưởng, nước nhiều, cỏ xuân non mơn mởn. Một ý nghĩ dằn vặt Call là anh đã để Gus một mình ra đi làm cái việc quá lớn với mình Gus – một việc mà cả hai cùng làm mới phải. Hàng ngày, trong khi đi đường, anh thường nhìn về phía tây bắc hy vọng thấy Gus về. Dần dà anh càng hay nghĩ là Gus đã chết. Người ta đơn giản biến mất trong vùng Llano để rồi chết gục tại đâu đó chẳng mồ chẳng mả, cuối cùng, những mảnh xương tàn bị thú vật tha nhặt đi. Ý nghĩ Gus đã chết đè nặng lên Call. Anh bị ám ảnh hoài rằng Gus có thể sẽ không về nữa. Anh nhìn đàn gia súc trải dài trên đồng cỏ, cảm thấy tất cả đều chẳng đáng gì hết, đều có chút gì đó dớ dẩn. Có ngày anh gần như thấy muốn thả cho gia súc sổng đi và trả lương cho những người chăn dắt rồi giải tán họ. Anh có thể lấy Đậu Ve và Deets, và có lẽ cả thằng nhỏ, đi tìm Gus cho tới khi nào thấy. Đám anh em ở Đồn Worth về còn đầy hơi men và đã khuây khỏa. Đầu Jasper muốn vỡ ra đến độ không còn ngồi nổi trên mình ngựa. Anh xuống đi bộ hai dặm cuối, thỉnh thoảng dừng lại nôn oẹ. Anh đã nhờ anh em nán chờ – ở cảnh anh lúc này dễ bị đánh cướp, anh bảo họ như vậy – nhưng các bạn đồng hành đều dửng dưng với số phận anh. Đầu họ cũng đủ nhức ghê gớm rồi. — Cậu đi tới nước Tàu tớ cũng mặc, – Kim Sào nói, diễn đạt cái ý chung của đoàn. Họ tiếp tục cưỡi ngựa đi để Jasper lê lết được đến đâu hay đến đó. Đã đoán trước cảnh này, Po Campo có một món lạ chờ đợi họ – chiếc bánh ga tô ngọt lừ với nhân quả mâm xôi. — Đường là thứ rã rượu, – ông nói. – Ăn nhiều vào rồi ngả lưng một lúc. — Jasper không về? – Call hỏi. — Không, nó đang chơi món thở gằn đâu đó giữa đây với thị trấn ấy, – Soupy Jones nói. – Lúc cuối cùng tôi thấy nó vẻ như sắp nôn hết mật xanh mật vàng ra. — Có tin gì về Jake không? – Call hỏi. Câu hỏi nhận được một loạt lườm nguýt. — Hắn là một dân chó đẻ lên mặt ta đây, – Bert Borum nói. – Làm như không biết một đứa nào trong chúng tôi sất cả. — Hắn bảo tôi ngửi toàn mùi cứt bò, – Kim Sào nói. – Hắn ngồi đánh bạc ở đấy, điếm bíu khắp chung quanh.
— Tôi chả nói được là hắn có tiếc nhớ người đàn bà bị bắt không, – Soupy nói. Cuối cùng Jasper lê lết về. Ai thấy cũng cười hềnh hệch, tuy anh chẳng hiểu vì sao. — Có cái gì chắc còn vui hơn cảnh tớ lê lết đi như thế này hả, – anh nói. — Nhiều thứ hay hơn là nôn cơ, – Đậu Ve nói. Khi Jasper biết đã hết phần ga tô mâm xôi, một món mình thích, anh đã dọa bỏ đi vì mọi người quá ư là bạc bẽo. Nhưng anh mệt quá không thực hiện được lời đe dọa của mình. Po bắt anh ăn một muôi mật đường, coi là thuốc chữa nhức đầu, trong khi anh em cho gia súc lên đường. — Tôi tính lần phá trời sau là ở Sông Hồng, – Dish Boggett nói trong khi đi lên giữ đầu cánh. 60 Đang lúc trời đất khô ráo dễ chịu và sự chăn lùa gia súc trở nên thú vị theo như ý nghĩ của Newt, thì thình lình thời tiết lại đâm ra ướt át. Hai ngày trước khi họ tới Sông Hồng, những đám mây đen dưới thấp sủi cuộn lên ở đằng Tây Bắc như khói đùn lên từ dầu sôi. Buổi sáng đẹp trời, vẻ tựa mùa xuân, nhưng chiều chưa kịp đến thì trời đất đã hóa thành nước. Mưa liền trong hai giờ, dữ đến mức không thấy nổi cả gia súc. Newt thấy rét run và chán nản. Lúc này họ đang ở trên vùng đất bằng nhấp nhô không một bóng cây. Chẳng có gì để náu ẩn trừ vòm trời. Họ đành cắm trại dưới mưa và Po Campo rót cà phê nóng cho họ nhưng đêm vẫn hứa hẹn là khốn khổ. Những chuyên gia am tường thời tiết, Po và Deets, bàn về tình hình đều nhận rằng họ không biết lúc nào thì có thể tạnh mưa. — Có lẽ phải đến cả tuần, – Po nói, điều chẳng làm ai vui hết. — Mẹ kiếp, tốt nhất là đừng mưa hết tuần, – Jasper nói. – Để có mà sông hóa thành ra biển mất à. Họ lùa gia súc hết đêm hôm ấy không phải vì chúng náo loạn mà chỉ vì ngồi trên lưng ngựa họ khô ráo hơn là ở dưới đất ướt sũng. Newt bắt đầu nghĩ rời Bồ Câu Cô Đơn là một sai lầm nếu như trời sắp sửa cứ ướt át mãi thế này. Anh nhớ lại ngày đêm ở đó khô ráo quang đãng đến nhường nào. Không hiểu sao anh và Chuột Nhắt cứ loạng quạng suốt cả đêm, tuy gần sáng thì mệt quá anh chẳng còn thiết sống nữa. Hôm sau cũng không khá hơn. Bầu trời như màu sắt thép và Gus vẫn không trở về. Anh đi lâu rồi, hình như thế, và cả Lorena nữa. Dish Boggett ngày thêm lo lắng, thỉnh
thoảng lại bộc lộ tâm tình với Newt. Newt tôn trọng tình cảm của anh còn anh em khác thì dứt khoát là lờ đi mỗi khi đụng đến chuyện đó của Dish. — Vì Jake mà tôi cho rằng chúng ta mất đứt mất cả hai người, – Dish nói. – Jake là cha đại bố láo. Newt đau đớn phải nghĩ về Jake như vậy. Newt vẫn nhớ Jake đã chơi đùa với anh như thế nào khi anh là một đứa trẻ, Jake đã làm cho mẹ Newt có được một vẻ sống động, tươi tắn như thế nào. Tất cả những năm Jake bỏ đi, Newt đã trừu mến nhớ đến Jake và cho rằng nếu Jake trở về thì sẽ là một bậc anh hùng. Nhưng phải nhận rằng từ ngày trở lại thì tư cách của Jake chẳng có gì là đáng tự hào hết. Nó chạm đến ranh giới của sự hèn nhát, đặc biệt việc Jake điềm nhiên quay lại với bài bạc sau khi Lorena đã bị bắt cóc đi. Trời vẫn mưa khi họ đến bờ con Sông Hồng thấp tè. Nước có lên nhưng vẫn chưa rộng hoặc sâu lắm. Điều làm cho Call lo ngại là lội qua nó – trên một trăm mét cát ướt màu gỉ sắt. Sông Hồng nổi tiếng về đáy cát lầy lún của mình. Deets ngồi bên anh đăm chiêu nhìn con sông. Từ lâu nó đã tượng trưng cho cái tuyến biên giới của họ hoạt động ở phương bắc. Vùng đất bên kia mới mẻ, lạ lẫm với họ biết bao. — Cậu có nghĩ nên chờ cho nước rút đi không? – Call hỏi. — Không rút đâu, – Deets nói. – Vẫn mưa đấy. Dish đến xem Deets thăm dò chỗ lội. Deets cho ngựa vào dòng nước đang dâng cao và chẳng mấy chốc qua được con sông nhưng rõ ràng là không thích quãng đó vì anh vẫy mũ cho mọi người rồi phi ngựa xuôi xuống. Lập tức anh mất hút trong mưa, nhưng một giờ sau anh trở lại báo tin đã thấy một chỗ lội tốt hơn. Lúc đó mọi người đều thấp thỏm về chuyện Sông Hồng dìm chết cao bồi đã trở thành truyền thuyết. Nhưng nỗi sợ này không có cơ sở. Mưa bớt mau và mặt trời rọi qua mây khi họ đang lùa gia súc đi qua những vạt bùn khiến cho lội sông cũng ngon gần như đi trên đường cái vậy. Chó Khoặm dẫn gia súc tụt thẳng xuống sông và chẳng mấy chốc đã vượt sang gặm cỏ ướt của Lãnh thổ Oklahoma. Mặt trời ló ra làm cho tinh thần mọi người phấn chấn. Họ chẳng phải là đã qua Sông Hồng và vẫn còn sống để kể lại chuyện đó sao? Đêm hôm đó người Ireland hát đến hàng giờ và một vài anh em cao bồi hòa theo – họ đã dần dà học được một ít bài hát Ireland. Đôi khi Po Campo hát bằng tiếng Tây Ban Nha. Ông có cái giọng trầm, khàn khàn luôn có vẻ như sắp bị tắt ngấm vì hết hơi. Các bài hát khuấy động một vài người, chúng buồn quá. — Po, ông là người vui tính sao lại hay hát về cái chết thế? – Soupy hỏi. Po có một cái lục lạc nho nhỏ làm bằng quả bầu, ông lắc nó khi ông hát. Cái lục lạc cộng với cái giọng
khàn khàn của ông đã có một hiệu quả kỳ lạ. Âm thanh này có thể làm cho tóc gáy Đậu Ve dựng lên. — Đúng đấy, Po. Vì là một người vui, ông mới hát những bài buồn, – một lần Đậu Ve nhận xét trong khi ông già lắc lắc cái lục lạc. — Tôi không hát về bản thân, – Po nói. – Tôi hát về cuộc đời. Tôi vui nhưng cuộc đời nó lại buồn. Các bài hát không thuộc về tôi. — Được, vậy ông hát chúng thì chúng thuộc về ai? – Đậu Ve hỏi. — Về những ai nghe chúng, – Po nói. Ông đã cho Deets một bức tượng đàn bà ông tạc. Deets hãnh diện lắm, anh cất nó bên mình, trong túi quần da. — Đừng cho tôi bài hát nào hết đấy, – Đậu Ve nói. – Chúng buồn quá thể. Tôi sẽ nằm mê dữ. — Nếu anh nghe chúng thì chúng thuộc về anh, – Po nói. Khó nhìn thấy mắt ông. Chúng đã sâu hoắm mà ông lại ít khi cất chiếc mũ rộng vành ra khỏi đầu. — Tôi mong ta có một cái đàn, – Kim Sào nói. – Nếu có đàn vĩ cầm ta có thể nhảy được. — Nhảy với ai? – Bert hỏi. – Tớ chẳng thấy người đàn bà nào. — Nhảy với chúng mình, – Kim Sào nói. Nhưng họ không có đàn vĩ cầm. Chỉ Po Campo lắc cái lục lạc và người Ireland hát về đàn bà mà thôi. Ngay cả vào đêm quang quẻ đẹp trời, bài hát buồn cùng việc biết là không có đàn bà cũng đủ làm cho anh em âu sầu.