Hồi mà là từ trường Tiểu học Ulvercote. Những giai đoạn mưa kéo dài khiến các giáo viên khốn đốn, vì bọn trẻ không thể ra ngoài và các thầy cô phải giám sát việc chơi đùa trong nhà, tất cả đều trở nên bực bội và cáu kỉnh. Trong lớp học của giờ ra chơi đông đúc, ồn ào, chật chội, Malcolm và ba người bạn đã quay lưng hai chiếc bàn vào với nhau và đang chơi một dạng bi lắc, nhưng linh thú của Eric có
vài thông tin gay cấn và kì bí đến nỗi Eric không buồn cố gắng kìm nén lại nữa. “Sao? Sao? Sao?” Robbie hỏi. “Tớ không được phép nói đâu, ” Eric nói vẻ chính trực. “Thì cứ nói khẽ thôi,” Tom bảo. “Nói ra là bất hợp pháp. Trái với pháp luật đó.” “Vậy ai đã nói với cậu?” “Cha tớ. Nhưng cha bảo tớ không được nhắc lại.” Cha của Eric là Thư kí Toà án Tỉnh, ông thường xuyên kể lại cho Eric tin tức về những vụ xử án đặc biệt li kì, nhờ vậy mà sự nổi tiếng của cậu ta cũng tăng lên đáng kể. “Cha cậu lúc nào mà chả nói thế, ” Malcolm chỉ ra, “nhưng đằng nào mà cậu chẳng kể với chúng tớ.” “Không, lần này khác. Lần này thật sự rất bí mật đó.” “Thế thì ông ấy đáng ra không nên kể với cậu, ” Tom nói. “Cha biết là có thể tin tưởng được tớ, ” Eric nói, khiến bọn trẻ ồ lên giễu cợt. “Cậu biết là rồi cậu sẽ kể cho bọn tớ mà, ” Malcolm nói, “nên tốt hơn hết là cậu hãy kể đi, trước khi chuông kêu.” Eric cường điệu hoá việc nhìn xung quanh rồi ghé sát vào. Cả bọn cũng ghé lại gần. “Các cậu có biết cái người đàn ông bị ngã vào kênh rồi chết đuối không?” Nó bắt đầu. Robbie đã nghe nói về chuyện đó, Tom thì chưa, còn Malcolm chỉ gật đầu. “Ừ, hôm thứ Sáu đã có một cuộc điều tra chính thức về vụ của ông ta, ” Eric nói tiếp. “Tất cả mọi người đều nghĩ là ông ta chết đuối, nhưng hoá ra ông ta đã bị siết cổ trước khi xác bị ném xuống nước. Cho nên là ông ta không hề bị ngã. Đầu tiên ông ta bị ám sát rồi sau đó bị tên sát nhân ném xuống kênh.” “Chu choa, ” Robbie thốt lên. “Làm sao người ta biết được điều đó?” Tom hỏi.
“Không có nước trong phổi ông ta. Với lại trên cổ ông ta có dấu vết của sợi dây thừng.” “Vậy tiếp theo chuyện gì sẽ xảy ra?” Malcolm hỏi. “À, giờ thì đó là việc của cảnh sát rồi,” Eric đáp. “Tớ nghĩ bọn mình sẽ không nghe ngóng được gì thêm cho tới khi họ bắt được tên sát nhân và xét xử hắn.” Đúng lúc đó thì chuông reo, vậy là chúng phải cất đồ chơi đi, xoay bàn lại và ổn định chỗ ngồi, trong lúc thở dài thườn thượt, để vào học tiếng Pháp Lan Tây. Vừa về đến nhà là Malcolm lao thẳng tới bên tờ báo, nhưng chẳng có mẩu tin nào nhắc tới cái xác trên dòng kênh cả. Thế nhưng cuốn Xác chết trong thư viện thì lại đầy lôi cuốn, vậy là cậu mải miết đọc một lúc lâu sau khi đã đến giờ tắt đèn. Bất chấp sự hung bạo mà nạn nhân trong cuốn sách phải chịu, không hiểu sao nó lại ít kinh khủng hơn nhiều so với ý nghĩ về người đàn ông tội nghiệp bị thất lạc hạt sồi: bất hạnh, hoảng sợ, và cuối cùng bị siết cổ cho đến chết. Khi đã bị suy nghĩ đó bám víu lấy, Malcolm cảm thấy thật khó để có thể rũ bỏ nó. Giá mà cậu và Asta đã đề nghị giúp đỡ ngay lúc đó thì tốt biết bao! Họ sẽ tìm được cái hạt sồi, người đàn ông sẽ nhanh chóng bỏ đi, những người TCK sẽ không bắt được ông, ông sẽ vẫn còn sống... Mặt khác, những người của TCK có thể đã quan sát suốt cả thời gian đó. Có thể họ sẽ bắt ông dù cho chuyện gì xảy ra đi nữa. Chính sự cô độc trong cái chết của ông lại là điều khiến Malcolm phiền muộn nhất. •§• Sau giờ học ngày hôm sau, cậu tới tu viện để xem tình hình đứa bé. Câu trả lời là nó vẫn khoẻ, hiện giờ đang ngủ, và không, cậu không thể gặp nó.
“Nhưng cháu có một món quà cho nó, ” Malcolm nói với sơ Benedicta, người đang làm việc trong văn phòng. Sơ Fenella đang bận rộn ở đâu đó, có vẻ như vậy nên không thể gặp cậu. “Chà, cháu thật là tử tế, Malcolm ạ” bà sơ đáp, “nếu cháu đưa cho ta, ta sẽ đảm bảo là con bé sẽ nhận được nó.” “Cảm ơn sơ, ” Malcolm nói. “Nhưng có lẽ cháu sẽ để đấy cho đến khi có thể tự đưa cho cô bé.” “Tuỳ cháu thôi.” “Có việc gì cháu có thể làm ở đây không ạ?” “Không, không phải hôm nay, cảm ơn cháu, Malcolm ạ. Mọi thứ đều ổn.” “Sơ Benedicta, ” cậu bé khăng khăng, “khi người ta còn đang quyết định xem có nên gửi đứa trẻ vào đây hay không, có phải cựu Đại chưởng ấn đã quyết định không ạ? Ngài Nugent ấy?” “Ông ấy có góp phần trong quyết định đó, phải,” bà đáp. “Giờ thì nếu...” “Công việc của Đại chưởng ấn là gì ạ?” “Ông ấy là một trong những sĩ quan trưởng phụ trách luật của Quốc vương. Ông ấy là phát ngôn viên của Thượng Nghị viện.” “Vậy tại sao việc của ông ấy lại là quyết định vấn đề của đứa bé này? Hẳn phải có cả đống trẻ con. Nếu ông ấy phải quyết xem từng đứa nên đi đâu thì sẽ chẳng có thời gian để làm việc gì khác nữa.” “Ta nghĩ là cháu nói đúng,” bà nói, “nhưng sự việc là vậy đó. Ta phải nhắc cháu rằng cha mẹ của cô bé là những người rất quan trọng. Điều đó cũng có liên quan đến việc này. Và ta hi vọng là cháu không đi nói lung tung. Việc này cần phải được giữ bí mật. Đó là việc rất riêng tư. Giờ thì, Malcolm ạ, ta thật sự cần phải sắp xếp đám sổ sách này lại trước buổi Kinh chiều. Cháu về đi. Hôm khác ta lại nói chuyện.” Bà đã nói rằng “Mọi thứ đều ổn, ” nhưng không phải thế. Đáng ra lúc này sơ Fenella phải đang nấu nướng, và còn có các nữ tu mà cậu không biết rõ đang tất tả chạy dọc các dãy hành
ậg g ạy ọ y lang, mặt đầy lo lắng. Cậu đã rất lo cho đứa bé, nhưng sơ Benedicta luôn nói sự thật, mà kể cả thế thì chuyện này vẫn khiến cậu bồn chồn. Malcolm bước ra ngoài, dưới cơn mưa phùn của buổi chiều tà u ám, và thấy một nguồn sáng ấm áp toả ra trong xưởng. Ông thợ mộc Taphouse hẳn là vẫn còn ở đó. Cậu gõ lên cánh cửa rồi bước vào. “Ông đang làm gì vậy, ông Taphouse?” Cậu hỏi. “Trông đây giống cái gì?” “Trông giống cửa sổ. Cái đó giống cửa sổ phòng bếp. Ngoại trừ... Không phải, chúng sẽ thành cửa chớp. Đúng không ạ?” “Đúng rồi. Cảm nhận sức nặng của cái đó đi, Malcolm.” Ông lão dựng thẳng cái khung cửa-sổ-phòng-bếp lên giữa phòng, rồi Malcolm thử nâng nó lên. “Ôi chà! Nặng quá!” “Năm phân gỗ sồi bao quanh. Cộng thêm trọng lượng của