phần mũ, bề mặt được đẽo thành một bản sao hoàn hảo của những cái vảy thô nhám
nằm chồng lên nhau của hạt sồi thật và bị dính chỉ một chút màu xanh, còn một mẩu cho phần hạt, được đánh bóng và bôi sáp thành một màu nâu sáng bóng lộn hoàn hảo. Cái hạt mới đẹp làm sao, và con linh thú nói đúng: Đây hẳn phải là thứ mà người đàn ông đã làm mất. “Đuổi theo trước khi ông ấy đi qua cầu thôi,” cậu bé nói rồi đặt chân vào xuồng, nhưng Asta kêu lên: “Khoan. Nhìn kìa.” Nó vừa biến thành cú, việc mà nó luôn làm khi muốn nhìn thứ gì đó thật rõ. Khuôn mặt phẳng bẹt của Asta đang dõi xuống con kênh, khi Malcolm lần theo ánh nhìn của nó, cậu thấy người đàn ông đi được đến nửa cây cầu cạn thì ngập ngừng, bởi vì một người đàn ông khác đã bước lên cầu từ phía bên kia, một người có vóc dáng chắc nịch mặc đồ đen cùng con linh thú cáo cái với bước chân nhẹ như bẫng. Malcolm và Asta có thể thấy rằng người thứ hai sắp chặn người đàn ông mặc áo mưa lại, và người mặc áo mưa thì đang sợ hãi. Chúng thấy ông ta quay đầu, vội vã bước vài bước rồi lại dừng lại, vì một người thứ ba đã xuất hiện trên cây cầu phía sau ông ta. Người thứ ba này gầy hơn người còn lại, và cũng mặc đồ đen. Linh thú đang đậu trên vai ông ta là một con chim cỡ bự. Cả hai người đàn ông đều tỏ ra đầy tự tin, như thể họ có cả đống thời gian để làm việc mình muốn. Họ nói gì đó với người mặc áo mưa, rồi mỗi người tóm lấy một cánh tay ông ta. Ông ta vùng vẫy trong vô vọng một lúc rồi dường như xịu xuống, nhưng họ liền nâng ông ta dậy và kéo ông ta đi qua cầu, vào trong quảng trường nhỏ bên dưới tháp nhà thờ, rồi biến mất khỏi tầm mắt. Con linh thú mèo của ông ta lúi húi chạy theo, khốn khổ và tuyệt vọng. “Cho nó vào túi trong cùng của cậu đi,” Asta thì thầm. Malcolm nhét hạt sồi vào trong túi ngực của áo vét rồi ngồi xuống thật cẩn thận. Cậu đang run lẩy bẩy. “Họ bắt giam ông ấy rồi,” cậu thì thầm. “Họ đâu phải cảnh sát.”
“Ừ. Nhưng cũng không phải kẻ cướp. Trông họ có vẻ rất bình tĩnh với chuyện đó, như thể được phép làm bất cứ điều gì mình muốn vậy.” “Về nhà thôi,” Asta bảo. “Tránh trường hợp họ phát hiện ra chúng ta.” “Họ thậm chí còn chả thèm nhìn nữa, ” Malcolm nói, nhưng cậu bé đồng ý với con linh thú: Chúng nên về nhà. Hai đứa rủ rỉ thật khẽ với nhau trong lúc cậu vội vã chèo trở về nhánh Công Tước. “Tớ dám cá ông ấy là gián điệp, ” con linh thú nói. “Có thể. Còn những người kia...” “TCK.” “Suỵt!” TCK là Toà án Công giáo Kỉ luật, một cơ quan của Giáo hội lo những vấn đề về dị giáo và hoài nghi. Malcolm không biết nhiều về tổ chức đó, nhưng cậu biết cảm giác kinh hoàng đến ghê tởm mà TCK có thể tạo ra, nhờ có lần nghe lỏm vài vị khách thảo luận về việc có thể đã xảy đến với một người mà họ quen biết - một nhà báo; ông ta đã đặt quá nhiều câu hỏi về TCK trong một loạt bài và rồi đột ngột biến mất. Biên tập viên toà soạn của ông ta đã bị bắt và tống giam vì tuyên truyền nổi loạn, nhưng bản thân nhà báo kia thì không bao giờ còn được nhìn thấy nữa. “Chúng ta không được hé một lời nào về chuyện này cho các sơ đâu đấy, ” Asta nói. “Đặc biệt là không được nói với họ, ” Malcolm đồng tình. Khá là khó hiểu, nhưng Toà án Công giáo Kỉ luật lại thuộc cùng một phe với các bà sơ hiền hậu của Tu viện Godstow, đại loại vậy. Cả hai bên đều là một