Bụi Kí 1

phần còn lại của cậu đang bị lạnh và ướt

phần còn lại của cậu đang bị lạnh và ướt

phần còn lại của cậu đang bị lạnh và ướt đẫm đến mức nào. Cậu đang ngó ngoáy một cách khó chịu thì giọng Alice phát ra từ phía sau. “Chỗ nước đó đâu rồi?” “À... gần sôi rồi.”

“Em nên đun trong vài phút đi. Để diệt được hết vi khuẩn. Sau đó để nguội. Nên có lẽ sẽ còn mất một lúc trước khi chị có thể pha sữa cho cô bé.” “Lyra thế nào rồi?” “À, thơm tho hơn rồi. Nhưng cái mông bé nhỏ tội nghiệp của nó bị đau hết cả.” “Hẳn phải có kem bôi hay gì đó...” “Có đấy. May mà đây là một hiệu thuốc chứ không phải là một cửa hàng bán đồ sắt chết tiệt. Đừng có đánh rớt nước đó.” Nước đang sôi, còn tay cậu thì cảm giác như đang bị thiêu sém. “Chị lấy cho em ít nước lạnh được không?” Cậu bảo. “Em lại cần phải làm ướt cái chăn này. Tay em sắp cháy mất rồi.” Alice đi ra ngoài rồi quay lại với một bình nước. Cô cẩn thận đổ nước lên trên tấm chăn, và bàn tay cậu lập tức cảm thấy còn tồi tệ hơn, nhạy cảm hơn hẳn. Cậu bỏ cái ấm ra rồi nhìn quanh. “Sao thế?” “Em sẽ kiếm một thứ hợp lí hơn để giữ nó.” Nhưng cậu không phải tìm đâu xa. Trong đống củi nhỏ bên cạnh ngọn lửa có một thứ mà khi cậu dựng nó dậy, tựa dựa vào lò sưởi, nó cao vừa đủ để đặt cái ấm lên, một nửa bên trên và một nửa chìa ra ngọn lửa. “Nó mà đổ xuống thì...” “Em biết, ” cậu nói. “Chị ở đây trông một lúc nhé.” Cậu đứng dậy rồi đi kiểm tra Lyra, thấy cô bé đang nằm khá thoải mái trên sàn với một chiếc bánh quy trong nắm tay. Asta liếm đầu của con cún nhỏ Pantalaimon, khiến Lyra đáp lại bằng một tràng ríu rít. Trong phòng kho bên cạnh, Malcolm thấy thứ mà cậu đang tìm kiếm: một cái bút chì. Cậu viết lên bức tường ở đầu cầu thang: “Malcolm Polstead của quán trọ Cá Hồi ở Godstow sẽ chi trả cho bất cứ tổn thất nào và những thứ chúng tôi lấy đi.” Rồi cậu tìm thấy một chồng khăn tắm mới và đem chúng tới ô cửa sổ bị vỡ, nơi cậu vươn người ra ngoài để lau mặt trong của

chiếc xuồng. “Giờ thì thử giữ cho mày được khô ráo xem nào, ” cậu nói với nó. Cơn mưa đã ngừng hẳn, nhưng không khí nặng trĩu hơi nước, còn gió thì đang hất tung bụi nước lên khỏi cơn lũ. Mực nước vẫn không hề rút đi chút nào. “Biết sao được, bọn mình mới ở đây được nửa tiếng thôi mà, ” Asta nói. “Giá mà bọn mình có thể giấu nó đi nhỉ. Bonneville mà đi qua cuối phố thì hắn sẽ phát hiện ra nó ngay.” “Nhưng hắn chưa từng thấy chiếc xuồng vào ban ngày, ” con linh thú chỉ ra. “Trời tối đen như mực mà. Có khi hắn chỉ nghĩ rằng chúng ta đang ở trên một con thuyền đáy bằng cũng nên.” “Ừmm,” Malcolm nói trong lúc cột chặt lại từng nút thắt của mái vòm. “Đây, Malcolm,” Alice gọi. “Lại đây.” “Gì thế?” Cậu hỏi, kéo người trở lại qua khung cửa sổ. “Ngồi xuống cái ghế đẩu kia rồi giữ yên nhé, ” cô bé nói. “Tại sao?” Cô đã lấy cái xoong ra khỏi đống lửa, nên hẳn là nó đã sôi rồi. Một tay cô cầm một tấm vải dạ ẩm, còn tay kia thì xoay đầu cậu hết hướng này lại sang hướng kia, không thô bạo, nhưng kiên quyết, trong lúc vỗ vỗ nhẹ lên mặt cậu. Cậu nhận ra lí do ngay khi cô bắt đầu. “Á!” “Im đi. Mặt mũi đầy vết xước trông đến phát kinh. Hơn nữa, em có thể bị nhiễm trùng đó. Ngồi yên!” Cậu cố gắng chịu đựng cảm giác nhức nhối và giữ miệng. Sau khi đã lau hết những vệt máu khô, cô chấm chấm kem khử trùng lên. “Đừng có ngọ nguậy nữa. Không thể đau đến thế được.” Đau chứ, nhưng cậu sẽ không bao giờ nghĩ tới việc thừa nhận điều đó. Cậu nghiến chặt răng mà chịu đựng.

“Đấy, ” cô nói. “Chị không biết em có cần dán băng cá nhân lên không...” “Chỉ tổ bị bong ra thôi.” “Được thôi. Giờ xuống khỏi cái ghế để chị ngồi đi. Chị phải cho Lyra ăn.” Cô kiểm tra nhiệt độ nước giống như sơ Fenella đã làm, rắc một ít sữa bột vào rồi nguấy đều. “Đưa cái bình ấy đây, ” cô bảo. Malcolm chuyển cho cô cái bình và núm vú cao su. “Phải tiệt trùng mọi thứ hẳn hoi,” cô nói. Cậu đi bế đứa bé lên. Lúc này Pan đang là một con chim sẻ non, vì vậy Asta cũng biến thành chim, lần này là chim sẻ lục. “Em ăn xong bánh quy rồi sao?” Cậu nói với Lyra. “Thế thì em sẽ không muốn uống sữa đâu. Để anh uống cho.” Cô bé đang rất phấn khởi, mẹ cậu sẽ nói như vậy. Cậu trao nó cho Alice rồi lại tiến tới bên cửa sổ, vì ý nghĩ về mẹ mình đã khiến mắt cậu đột nhiên ứa ra những giọt lệ đầy vô vọng. “Sao thế?” Alice ngờ vực hỏi. “Nhức quá.” Cậu nhoài ra khỏi cửa sổ, cố gắng tìm thấy bất cứ dấu hiệu chuyển động nào trong những toà nhà khác, nhưng chẳng có gì cả. Các ô cửa sổ có thể được kéo rèm hoặc không, nhưng không có ánh đèn, không cả âm thanh ngoài tiếng nước dâng cuộn và ồ ạt chảy. Rồi cậu thấy một thứ đang chuyển động. Asta nhìn thấy trước, con linh thú khẽ kêu lên một tiếng kinh hãi rồi lao vào ngực cậu trong dạng mèo con, rồi sau đó cậu cũng nhìn thấy nó. Nó lềnh phềnh trôi xuống con phố về phía chúng, đập vào mặt tiền của toà nhà, đờ đẫn, mềm oặt và nửa chìm nửa nổi. Đó là xác của một người phụ nữ mặt úp xuống nước, đã bị chết đuối. “Chúng ta nên làm gì đây?” Asta thì thầm. “Chẳng có gì chúng ta làm được cả.” “Tớ nói là nên mà. Khác nhau đấy.”

“Tớ nghĩ... chúng ta nên kéo bà ấy ra rồi đặt nằm xuống. Kiểu như tỏ ra tôn trọng bà ấy đó. Tớ không biết nữa. Nhưng nếu người chủ về mà thấy một người phụ nữ đã chết trong cửa hàng của mình thì...” Trong một lúc, trông cứ như thể người phụ nữ tội nghiệp đã chết đang cố nằm lại giữa mặt tiền cửa hàng và chiếc xuồng. Malcolm kinh hãi với suy nghĩ phải với lấy mái chèo và đẩy bà đi, nhưng cuối cùng dòng nước đã cuốn bà đi tiếp xuống dưới phố. Malcolm và Asta không nhìn theo: như vậy có vẻ thiếu tôn trọng. “Chuyện gì xảy ra với linh thú khi người ta chết nhỉ?” Asta thì thầm. “Tớ không biết... có lẽ linh thú của bà ấy nhỏ, một con chim chẳng hạn, và đang ở trong túi áo của bà hay gì đó...” “Có khi nó bị bỏ lại phía sau.” Nhưng điều đó quá khủng khiếp để mà nghĩ tới. Chúng nhìn lại thêm một lần về phía người đàn bà đã chết, lúc này đã cách xa một đoạn, rồi cố gắng nghĩ sang chuyện khác. “Đồ dự trữ, ” Malcolm nói. “Chúng ta phải chất đồ lên thuyền nhiều nhất có thể.” “Tại sao?” Alice gặng hỏi. Cô đang đứng ngay phía sau chúng, để cho Lyra nghỉ giải lao. Cậu không hề biết rằng cô đang ở đó. “Phòng trường hợp chúng ta không quay lại được, ” Malcolm bình tĩnh đáp. “Chị thấy dòng lũ mạnh thế nào rồi đấy. Phòng khi chúng ta bị cuốn đi xa xuống phía dưới, tới mấy nơi sẽ chẳng có hàng quán, nhà cửa hay gì cả.” “Chúng ta có thể ở lại đây.” “Nếu làm vậy thì Bonneville sẽ tìm ra chúng ta mất.” Cô ngẫm nghĩ. “Phải,” cô nói. “Có thể.” Cô vỗ lên lưng Lyra, khiến đứa bé ợ lên rõ to. “Mà hắn muốn nó để làm gì thế nhỉ?” “Có lẽ hắn muốn giết cô bé. Để trả thù.” “Cho điều gì?” “Trả thù cha mẹ cô bé. Em không biết. Dù sao thì...”

“Dù sao thì cái gì?” “Cái vụ xin nương náu kia... Có lẽ chúng ta chẳng thể đưa cô bé vào Học viện Jordan được, kể cả nếu có tới được đó đi chăng nữa, vì ta sẽ phải nói một câu bằng tiếng Latinh, mà em thì không biết nó là gì cả. Vậy nên có khi...” Alice chăm chú nhìn cậu. Có điều gì đó đã thay đổi. “Gì thế?” Cậu hỏi. “Em chưa từng có ý dừng ở Jordan đúng không?” “Dĩ nhiên là em có...” “Không hề. Chị đi guốc trong bụng em rồi, đồ chết giẫm ạ.” Đột nhiên cô với tới trước rồi chộp lấy tấm thẻ nhỏ màu trắng từ túi áo cậu. Cô đọc cả hai mặt, gương mặt nhăn nhúm lại vì giận dữ, rồi quẳng tấm thẻ xuống sàn. Rồi cô đá thật lực vào chân cậu. Cô chẳng thể làm gì khác với đứa bé trong tay, và giờ thì Lyra đã nhận thấy cơn giận dữ của cô, trông cô bé có vẻ hoảng hốt. Malcolm liền dịch ra khỏi tầm với. “Chị chỉ đang tưởng tượng đấy thôi...” “Không hề! Cậu có ý định đó, đúng không? Hả? Tôi đã thấy cậu nhìn cái này trong xuồng khi nghĩ rằng tôi đang ngủ. Cậu đã định đưa tôi đi cùng để chăm sóc con bé. Đồ lợn đáng nguyền rủa. Thế mà tôi lại bị lừa.” Cô lại đá cậu liên hồi, con linh thú của cô gầm ghè, cố gắng tóm lấy Asta nhưng nó đã dễ dàng hoá thành chim rồi bay lên khỏi tầm với. Gương mặt Alice trắng bệch, đôi mắt xanh da trời nhạt nở rộng vì giận dữ. Malcolm chỉ lùi lại và cầm cái ghế đẩu lên. “Vậy cậu định làm gì với cái đó, hả? Đập lên đầu tôi sao? Làm thử xem nào. Cậu mà dám thử là tôi giết luôn đó. Tôi sẽ đặt Lyra xuống rồi bẻ gãy mấy cánh tay chết tiệt của cậu. Để xem lúc đó cậu còn chèo nổi cái xuồng khỉ gió của mình hay không - suỵt, suỵt, bé ngoan. Đừng khóc chứ. Alice chỉ nổi nóng vì mẩu rác cống ở đằng kia thôi, không phải với em đâu, bé yêu của chị ạ. Đặt cái ghế quỷ đó xuống nơi vốn có đi, đồ cặn bã. Tôi vẫn chưa

ặg q ỷg ặ cho con bé ăn xong đâu. Rồi cho thêm một khúc củi nữa vào lửa. Sau đó thì tránh xa khỏi tầm với của tôi ra.” Malcolm làm theo những gì cô bảo. Khi cô đã ngồi xuống và đưa bình sữa trở lại miệng của Lyra, cậu nói: “Hãy nghĩ đến chuyện xảy ra đêm qua. Chúng ta không có lựa chọn nào cả. Mình chẳng thể làm được điều gì khác. Ta đã phải đến quán Cá Hồi - rồi thấy rằng tất cả các cửa đều đã bị khoá vì ba mẹ nghĩ em đang an toàn ở trên tầng - họ không thể nghe thấy tiếng chúng ta đập rầm rầm lên cửa - chẳng có chỗ nào khác để đi, không có cách nào khác để được an toàn. Chỉ có mỗi chiếc xuồng. Chúng ta phải bước vào và...” “Im đi. Đừng có lảm nhảm phiền phức nữa. Giờ tôi phải nghĩ xem nên làm gì đây.” “Chúng ta không thể ở lại đây được. Hắn sẽ tìm thấy chúng ta.” “Im!” Có thứ gì đó đang rỉ xuống trán rồi chảy vào con mắt bên phải của cậu. Đó là máu: Các vết xước đã bị há miệng. Cậu lau nó bằng khăn tay, vẫn còn ẩm như mọi thứ khác, rồi rút lui vào phòng kho. “Kiểu gì mà cuối cùng chị ấy chẳng nhận ra, ” Asta thì thầm. “Ừ, nhưng...” “Và chúng ta cũng biết chị ấy nóng tính.” “Ừmm.” Sự thật là, cả hai đứa đều bị bàng hoàng. Cơn thịnh nộ của Alice còn khó đối phó hơn người phụ nữ chết trong dòng nước, khó hơn cả ý nghĩ về Gerard Bonneville. Malcolm quay sang các giá đồ, nhưng cậu chẳng thể nhìn thấy gì cả. Cậu không thể nghĩ tới việc chất đồ dự trữ lên xuồng hay bất cứ việc gì khác, tâm trí cậu cứ cuộn xoáy chẳng khác gì dòng lũ. “Chúng ta phải giải thích thôi,” cậu khẽ nói với Asta. “Cậu có nghĩ chị ấy sẽ lắng nghe không?” “Ít nhất là nếu chị ấy vẫn đang ôm Lyra trong lòng...”

Cậu tìm thấy một chai nước cam rồi vặn mở nắp ra. “Cái đó để làm gì?” Alice gắt khi cậu đưa nó cho cô. “Bữa sáng.” “Cắm nó vào mông cậu ấy.” “Cứ nghe đã. Để cho em giải thích.” Cô trừng mắt nhìn để đáp lại, nhưng không nói gì cả. Cậu nói tiếp: “Dù có ở đâu thì Lyra cũng sẽ gặp nguy hiểm, ít nhất là ở bất cứ nơi nào tại Oxford. Kể cả nếu tu viện vẫn an toàn, tất cả các sơ đều sống sót, vẫn có ít nhất hai phe đang cố gắng bắt được cô bé. Một là Bonneville. Em không biết hắn dự tính gì, nhưng hắn muốn cô bé, hắn lại rất bạo lực và còn bị điên nữa. Hắn đánh đập linh thú của chính mình. Em nghĩ chính hắn đã làm gãy chân nó nên nó bị mất một chân. Chúng ta không thể để hắn có được Lyra. Rồi còn...” “Văn phòng Bảo trợ Trẻ em,” Asta nói. “Văn phòng Bảo trợ Trẻ em. Chị đã nghe thấy khi em đang kể với mẹ về họ rồi đấy. Linh thú của chị đã...” “À phải,” Alice nói. “Lũ đê tiện.” “Nhưng còn có nơi nương náu của các học giả. Như em đã nói với chị hồi đêm đó.” “À phải. Nếu cái đấy có thật. Và nếu chúng ta có thể quay trở lại Học viện Jordan trong tình trạng lũ như thế này. Dù sao thì họ cũng chẳng bao giờ tiếp nhận chúng ta đâu. Ý tưởng đó sẽ không thành công.” “Nhưng còn Ngài Asriel. Cha của Lyra. Chị nhớ không, em đã kể với chị... Ông ấy thuộc phe đối nghịch với TCK. Và rõ ràng là ông ấy rất yêu mến cô bé, chắc chắn luôn. Vì vậy em đã nghĩ chúng ta nên đưa cô bé đến với ông ấy bởi vì sẽ chẳng có ai khác bảo vệ được nó cả. Đám người ở Văn phòng Bảo trợ Trẻ em sẽ quay lại tu viện, các sơ đều sẽ bận rộn với việc dọn dẹp và xây mới, họ sẽ không thể chăm lo cho nó hẳn hoi, kể cả sơ Benedicta. Rồi còn Bonneville. Hắn... à, hắn man rợ lắm. Hắn nằm ngoài tầm kiểm soát. Hắn có thể cướp cô bé bất cứ lúc nào. Còn sơ Katarina, cô ta sẽ giao cô bé cho hắn...”

g Alice cân nhắc điều đó rồi nói: “Còn cha mẹ em thì sao? Sao họ không thể trông nom con bé được?” “Họ đang bận túi bụi với quán trọ rồi. Đám TCK lại có thể đến nữa. Chị biết ông Boatwright chứ? George Boatwright ấy?” “Ông ta làm sao?” “Một tối nọ, họ đến và định bắt giữ ông ấy. Ông ấy đã cố chống đối họ trong khi không ai khác dám. Nhưng không có chuyện chống lại được TCK. Nếu muốn lục soát quán trọ từ trên xuống dưới, họ có thể làm và chẳng ai ngăn nổi họ. Rồi còn Liên hiệp Thánh Alexander. Ai đó có thể sẽ nói với con của họ rằng Lyra đang ở đấy trong khi đứa trẻ đó có thể là một thành viên và nó sẽ tố giác cô bé.” “Ừmm,” Alice ậm ừ. Cô đặt bình sữa xuống rồi nâng Lyra lên để vỗ vỗ vào lưng nó. “Có mẹ của cô bé nữa mà.” “Bà ta thuộc phe của TCK. Chính bà ta đã dựng nên cái Liên hiệp Thánh Alexander đó.” Alice đứng dậy rồi chậm rãi đi lên đi xuống. Pantalaimon bắt đầu trò chuyện líu ríu trong dạng chim nhạn con, sau đó Lyra tham gia, rồi đến Asta. Linh thú của Alice, đang nằm trên khoảng lát trước lò sưởi trong dạng chó ngao, hé một bên mắt ra để nhìn. Malcolm không nói gì và đứng yên. Cuối cùng Alice cũng quay lại nói. “Vậy cái ông Asriel này, cậu định sẽ tìm ông ta kiểu gì?” Malcolm nhặt tấm thẻ lên. “Đây là địa chỉ của ông ấy, ” cậu nói. “Đó là thứ đã khiến em nghĩ đến việc này. Dù sao thì những người du mục cũng sẽ biết. Nếu chúng ta gặp được một người du mục nào đó. Hơn nữa, ông ấy là một người nổi tiếng. Sẽ không khó để tìm được ông ấy đâu.” Alice khịt mũi. “Bò đội nón, ” cô nói. “Em không biết, bò đội được nón à?” “Thế thì nhìn vào gương hộ tôi cái.” Cậu không nói gì, vì như thế có vẻ an toàn hơn. Alice tiến tới bên cửa sổ rồi nhìn ra ngoài ít lâu.

“Đưa một cái chăn đây coi,” cô nói. Cậu lấy một cái, mở nó ra, rồi khoác nó quanh vai cô. “Sao cậu không nói với tôi?” Cô hỏi. “Vì mọi chuyện xảy ra nhanh quá.” “Nhưng cậu đã dự tính nó suốt mà. Đống đồ cậu chuẩn bị sẵn trong xuồng đó.” “Em đã không nghĩ tới việc đi xa, chưa phải ngay lập tức. Em không biết cơn lũ lại đến sớm đến vậy. Mà nếu biết được, có khi em đã đưa sơ Fenella đi cùng rồi, vì em không thể chăm sóc một đứa bé và chèo...” “Sơ Fenella? Tôi đã gọi cậu là gì nhỉ? Bò đội nón à? Cậu là một thằng đần ngu si tứ chi phát triển.” “Nhưng, ai đó...” “Sẽ luôn phải là tôi. Không có ai khác cả.” “Vậy sao lúc đó chị lại đá em?” “Vì cậu đã không nói với tôi. Hay đúng hơn là hỏi tôi.” “Em chỉ vừa nghĩ tới chuyện đó hồi đêm, khi chúng ta neo lại bên cái cây đó thôi mà.” Cô quay lại bên đống lửa rồi cho khúc củi cuối cùng vào. “Vậy kế hoạch là gì đây?” Cô hỏi. “Tiếp tục đi xuôi dòng. Tránh xa khỏi Bonneville. Tìm đường tới chỗ Ngài Asriel.” Cậu lại phải lau máu ra khỏi mắt. Cậu chùi tay lên cái quần lúc này đã gần khô. “Ngồi xuống và bế Lyra đi, ” Alice nói. “Tôi sẽ dán băng cá nhân lên đó, tôi không quan tâm cậu nói gì nữa. Cậu mà cứ chớp chớp để gạt máu ra khỏi mắt như thế suốt thì tôi sẽ phát điên lên mất.” Cô làm điều đó dịu dàng hơn trước. Rồi cô chìa ra túi băng cá nhân và tuýp kem khử trùng. “Đầu tiên, cậu có thể cho mấy cái này vào trong thuyền. Thêm chăn và vài cái gối nếu ở đây có. Đêm qua lạnh thấy mả.

Rồi một chồng tã có thể vứt đi được. Diêm. Rồi cái xoong đó. Tất cả chỗ bánh quy...” Cô cứ thế liếng thoắng không ngừng, liệt kê ra nhiều đến nỗi chiếc xuồng sẽ chìm nghỉm dưới sức nặng của tất cả những thứ đó. Malcolm sốt sắng gật đầu với mọi thứ. “Rồi, vậy thì đi tiếp thôi,” cô nói. Vậy là Malcolm bắt đầu. Cậu thu thập đồ đạc theo thứ tự mà mình cho là quan trọng, nên gối và chăn đi trước, sau đó là tã lót, sữa trẻ em và những thứ khác cho Lyra. Alice không tỏ ra sẵn sàng giúp đỡ, mà cậu thì chẳng dám hỏi, vậy là với mỗi lần tay ôm đầy hàng hoá, cậu lại phải ngả người ra khỏi cửa sổ, kéo chiếc xuồng lại gần, thả chỗ đồ vào, sau đó trèo xuống rồi sắp xếp chúng ngăn nắp nhất có thể. Cậu đặt vài tấm chăn trên mũi thuyền để Alice ngồi lên, để ngăn hơi lạnh của nước bên dưới thân xuồng không tới được cô, thêm vài cái gối ở đó để cô tựa vào. “Cô nàng thật kì quặc, ” Asta thì thầm khi chúng đang ở bên ngoài. “Chị ấy có thể kêu ca, than vãn cả đêm nhưng lại chẳng nói gì.” “Nhưng tớ ước gì chị ấy không đá tớ.” “Nhưng chị ấy đã chăm sóc các vết xước cho cậu mà...” “Suỵt!” Malcolm vừa thấy một chuyển động ở cuối phố, rồi nó trở nên rõ ràng hơn: Một chiếc xuồng hơi với hai người đàn ông trong đó, không ai trong số họ là Bonneville cả. Một người đang chèo, để người còn lại có thể nhìn về phía trước, và ngay khi thấy Malcolm ngồi trong xuồng, ông ta đã nói gì đó với người chèo thuyền khiến người đó quay lại nhìn. “Này!” Một trong hai người hét lên. “Cháu đang làm gì thế?” Malcolm không trả lời. Thay vào đó cậu gọi với vào qua cửa sổ: “Alice, mang Lyra đến đây.” “Tại sao?” Cô hỏi, nhưng cậu đã quay đi. Chiếc xuồng hơi giờ đã tiến lại gần hơn nhiều: người đàn ông đang gấp rút chèo. Khi họ đã đến đủ gần để Malcolm không phảig g p ọg g p hét lên, cậu nói: “Chúng cháu có một em bé cần phải chăm sóc. Chúng cháu phải vào trong này vì cô bé bị lạnh.” Alice xuất hiện bên cạnh cậu và nhìn thấy hai người đàn ông, giờ họ đã đến đủ gần để với tay ra tóm lấy chiếc xuồng. “Các ông muốn gì?” Cô hỏi. Cô ôm Lyra trong vòng tay, đứa bé đang lơ mơ ngủ. “Chỉ đảm bảo mọi thứ đều ổn và không ai làm những chuyện họ không nên làm,” người đàn ông không chèo thuyền nói. “Hai đứa có một em bé ở đó à?” Người chèo thuyền hỏi. “Đây là em gái của cháu, ” Alice kể. “Nhà chúng cháu sắp sập khi cơn lũ kéo tới nên chúng cháu phải bỏ đi bằng thuyền. Nhưng chúng cháu đã ở ngoài cả đêm rồi, con bé bị lạnh quá nên chúng cháu phải dừng lại và tìm một nơi để cho nó ăn, thay tã cho nó. Nếu ở đây có người thì chúng cháu đã xin phép rồi, nhưng nơi này trống trơn.” “Hai đứa đang cho cái gì vào thuyền thế?” Người còn lại hỏi Malcolm. “Chăn và gối ạ. Chúng cháu định thử về nhà vì cha mẹ chúng cháu sẽ lo lắng lắm. Nhưng phòng khi chúng cháu lại phải ở trong thuyền thêm một đêm nữa...” “Sao các cháu không ở lại đây luôn?” “Vì cha mẹ bọn cháu, ” Alice đáp. “Ông không nghe à? Họ sẽ rất lo lắng. Chúng cháu phải cố gắng trở về ngay khi có thể.” “Về đâu?” “Ông là cảnh sát hay gì thế? Việc đó thì liên quan gì đến ông?” “Sandra, họ chỉ đang chăm lo cho nơi này thôi mà, ” Malcolm nói. “Chúng cháu sống ở Wolvercote. Đêm hôm qua chúng cháu bị cuốn thẳng xuống Port Meadow, chúng cháu sẽ thử quay về qua thành phố, nhưng trong trường hợp lại bị kẹt nữa...” “Tên cháu là gì?” “Richard Parsons ạ. Đây là chị gái cháu, Sandra. Còn em bé là Ellie.”

“Đêm qua cha mẹ các cháu ở đâu?” “Hôm qua bà của bọn cháu bị ốm. Cha mẹ đi thăm bà, rồi cơn lũ ập tới khi họ đang đi vắng.” Người lái thuyền đang điều chỉnh hai mái chèo để giữ cho con thuyền đứng yên trên mặt nước. Ông nói với người còn lại: “Cứ kệ chúng đi. Chúng sẽ ổn thôi.” “Cháu biết đây là trộm cắp chứ, việc mà các cháu đang làm ấy?” Người đàn ông còn lại vẫn tiếp tục. “Là ăn cướp?” “Đây không phải là ăn cướp, ” Alice kêu lên, nhưng Malcolm đã nói át tiếng cô: “Chúng cháu chỉ lấy đi những gì cần thiết để sống sót và cho em bé được ăn thôi. Ngay khi cơn lũ rút xuống, cha cháu sẽ đến đây và trả tiền cho những gì chúng cháu lấy.” “Nếu các cháu tiến vào thị trấn, ” người lái thuyền nói, “và tìm toà thị chính - các cháu biết nó ở đâu chứ? Đường Thánh Aldate ấy?” Malcolm gật đầu. “Ở đó có một trạm cấp cứu. Chỗ đấy đang đầy những người phải rời nhà vì lụt lội, và rất nhiều người cứu trợ. Các cháu sẽ tìm được mọi thứ mình muốn trên đó.” “Cảm ơn ông,” Malcolm nói. “Chúng cháu sẽ làm vậy. Cảm ơn các ông.” Hai người đàn ông gật đầu rồi bắt đầu chèo đi. “Sandra,” Alice nói với vẻ khinh miệt sâu sắc. “Cậu không nghĩ nổi cái gì hay ho hơn cái tên đó à?” “Không,” Malcolm đáp. Rồi mười phút sau, chúng lại bắt đầu di chuyển, Sandra/Alice quấn người thật ấm trong mũi thuyền, một Lyra sạch sẽ, khô ráo và được ăn no nằm ngủ say sưa trên ngực cô. La Belle Sauvage lún sâu trong nước hơn bao giờ hết kể từ khi Malcolm chở sơ Benedicta đến kho chứa bưu kiện, nhưng nó lại đang lướt đi với sự háo hức hoàn toàn mới, và phản ứng với mái chèo như một con chiến mã hùng mạnh phản ứng khi chủ nhân của mình chạm vào dây cương. Chậc, Malcolm nghĩ, mọi thứ có thể đã

diễn ra theo chiều hướng tồi tệ hơn nhiều. Cả bọn đều vẫn sống sót, và chúng đang tiến về phương Nam.

C 17 Tháp Hành Hương ũng vào khoảng thời gian đó, George Papadimitriou đang đứng bên ô cửa sổ phòng của mình trên đỉnh tháp Hành Hương, tổ hợp cao nhất trong Học viện Jordan, nhìn ra miền nước hoang tàn đang vây lấy toà tháp và chồm lên cửa sổ của các toà nhà học viện khác. Kể cả tại khu sân trong khép kín, gió vẫn đang quất tung thành vô vàn bụi nước. Bầu trời nặng trĩu, hứa hẹn còn nhiều mưa hơn nữa, còn căn phòng thì lạnh lẽo tới mức dù lửa đang cháy trong lò sưởi, ông vẫn phải mặc chiếc áo khoác ngoài nặng nề của mình. “Ông nghĩ cậu ấy sẽ tới lúc nào?” Ông hỏi. “Trong trận lũ như thế này...” Ngài Nugent nói, tiến lại gần ông bên cửa sổ. “Ai mà biết được. Nhưng cậu ta rất có tài xoay xở.” Nugent đã đến Oxford vào tối ngày hôm trước, một hay hai tiếng trước khi trận lũ ập tới thành phố. Phố Oakley đã nghe tin rằng Lyra đang gặp nguy hiểm, nên ông muốn đảm bảo việc thu xếp cho sự an toàn của cô bé. Đáng ra ông đã tìm cách đến tu viện vào sáng ngày hôm đó, bất chấp cơn lũ, nhưng do họ lại đang mong đợi một người lữ hành đến từ phương Bắc xa xôi, Bud Schlesinger, người đã được nhắc tới trong bức thư mã hoá của Coram van Texel từ Uppsala. Schlesinger xuất thân là người Tân Đan Mạch, và là một mật thám của Phố Oakley nhờ rèn luyện và thiên hướng. Ông đã lên phương Bắc để tìm hiểu nhiều nhất có thể các kiến thức của các phù thuỷ về Lyra, bởi vì dường như nguồn gốc của

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 66

Đang tải bình luận...