hồi còn là trẻ sơ sinh cả. Nhìn kia, Alice đến rồi. Để xem chị ấy nói gì nào.” “Ông ta nói chúng ta không được ở lại lâu, ” cô nói với cậu. “Chị nói rằng chúng ta phải nhóm lửa để cho em bé ăn, mà dù sao chúng ta cũng chẳng muốn ở lại lâu. Chị cho là có chuyện kì cục nào đó đang xảy ra. Ông ta có cái vẻ lạ lùng lắm.” “Ở đó có ai khác không?” Malcolm hỏi trong lúc nhổm dậy. “Không. Ít nhất thì chị cũng không thấy ai cả.” “Chị bế Lyra đi, em sẽ giấu chiếc xuồng thêm một chút, ” cậu nói rồi chìa đứa bé ra. Hai tay cậu run rẩy vì mệt.
Sau khi đã che được chiếc xuồng, cậu tập hợp các đồ cần thiết cho Lyra rồi bắt đầu trèo lên về phía căn nhà. Cánh cửa vĩ đại đang mở phía sau các cột chống, và còn nán lại bên cạnh đó là người đàn ông nọ: một cá nhân với gương mặt chua chát, ăn bận luộm thuộm, con linh thú chó ngao Anh đứng ngay cạnh đó, quan sát mà không hề cử động. “Mấy đứa sẽ không ở lâu đâu đấy, ” người đàn ông nói. “Không lâu lắm đâu ạ, ” Malcolm đồng tình. Rồi cậu nhận ra một điều: Người đàn ông đang hơi say xỉn. Malcolm biết cách đối phó với những kẻ say. “Căn nhà đẹp quá, ” cậu nói. “Chắc thế. Nó không phải của mày.” “Đây là nhà là của ông à?” “Bây giờ thì thế.” “Ông đã mua nó, hay giành được nó thế?” “Mày đang hỗn đấy à?” Con linh thú chó gầm gừ. “Không đâu ạ, ” Malcolm thoải mái đáp. “Chỉ là khi mọi thứ bị biến động bởi cơn lũ, cháu sẽ không ngạc nhiên nếu ông phải đấu tranh để giành lấy căn nhà. Giờ mọi thứ đều khác rồi. Và nếu ông đã đấu tranh để có được căn nhà thì nó thuộc về ông, rõ ràng rồi.” Cậu nhìn xuống bãi cỏ về phía dòng lũ đục ngầu. Trong ánh chạng vạng nặng nề, cậu hoàn toàn không thể thấy được con thuyền đang bơi. “Nó như một toà lâu đài vậy, ” cậu nói tiếp. “Có bị tấn công thì ông cũng sẽ dễ dàng phòng thủ được thôi.” “Ai sẽ tấn công nó chứ?” “Không ai cả. Cháu chỉ nói vậy thôi. Lựa chọn của ông tuyệt thật đấy.” Người đàn ông quay lại rồi dõi theo hướng nhìn của cậu trên mặt nước. “Nó có tên không ạ, căn nhà này ấy?” Malcolm hỏi.
“Sao nó lại cần tên?” “Trông căn nhà có vẻ quan trọng. Nó nhìn giống như thái ấp hay cung điện gì đó. Ông có thể dùng tên mình đặt cho căn nhà.” Người đàn ông khịt mũi. Có lẽ kèm cả tiếng cười nữa. “Ông có thể dựng một bảng thông báo ở mép nước, ” Malcolm nói. “Ghi là: Cấm vào, những kẻ xâm phạm sẽ bị khởi tố. Ông có đầy đủ thẩm quyền để làm điều đó. Như người đàn ông trong chiếc xuồng hơi ở đằng kia kìa, ” cậu tiếp tục, vì lúc này cậu đã thấy được con thuyền, dù vẫn còn cách xa một đoạn, đang đều đặn tiến về phía họ. “Hắn ta làm sao?” “Không sao cả, cho tới khi ông ta thử lên bờ rồi cướp căn nhà này của ông.” “Mày biết hắn à?” “Cháu nghĩ cháu biết ông ta là ai. Và có lẽ ông ta sẽ làm điều đó.” “Ta có một khẩu súng săn.” “À, ông ta sẽ không dám tấp vào bờ nếu bị đe doạ bằng thứ đó đâu.” Người đàn ông tỏ ra suy tính về điều đó. “Ta phải bảo vệ tài sản của mình, ” ông ta nói. “Đương nhiên rồi ạ. Ông có đủ thẩm quyền mà.” “Mà hắn là ai vậy?” “Nếu đó đúng là người cháu nghĩ thì ông ta tên là Bonneville. Ông ta vừa mới ra tù không lâu.” Con linh thú chó ngao Anh, dõi theo ánh mắt của chủ thể, gầm gừ. “Hắn đuổi theo mấy đứa à?” “Vâng. Ông ta đã theo đuôi bọn cháu từ Oxford.” “Hắn muốn gì?” “Ông ta muốn cướp em bé.”
“Vậy đó là con của hắn à?” Đôi mắt mờ đục của người đàn ông đảo quanh trước khi tập trung được vào gương mặt của Malcolm. “Không. Con bé là em gái của bọn cháu. Ông ta chỉ muốn cướp nó đi thôi.” “Trốn ngay đi!” “Cháu e là phải vậy ạ, ” Malcolm đáp. “Thằng khốn.” Gã đàn ông trên chiếc thuyền đang tiến lại gần hơn, rõ ràng là nhắm tới bãi cỏ, và giờ thì Malcolm không thể nhầm lẫn về danh tính của hắn được. “Cháu nên vào bên trong phòng khi ông ta thấy được cháu, ” cậu bảo. “Ông ta sẽ không gây rắc rối cho ông đâu. Chúng cháu sẽ đi ngay khi có thể.” “Đừng có lo lắng, con trai,” người đàn ông nói. “Tên cháu là gì?” Malcolm phải suy nghĩ. “Richard ạ, ” cậu đáp. “Chị cháu là Sandra, còn em bé là Ellie.” “Vào trong rồi tránh mặt đi. Để hắn cho ta lo.” “Cảm ơn ông,” Malcolm nói rồi lẩn vào bên trong. Người đàn ông cũng vào trong nhà rồi lấy ra khẩu súng săn từ cái tủ trong căn phòng ngay bên ngoài đại sảnh. “Xin hãy cẩn thận “ Malcolm nói. “Ông ta có thể nguy hiểm đấy ạ.” “Ta mới là kẻ nguy hiểm.” Người đàn ông loạng choạng bước ra ngoài. Malcolm nhìn quanh. Khu đại sảnh được trang hoàng với những tác phẩm thạch cao lộng lẫy, tủ làm từ gỗ quý, đồi mồi và vàng, các bức tượng cẩm thạch. Tuy nhiên, mặt lò sưởi khổng lồ lại bị nứt, còn lò sưởi thì rỗng tuếch. Alice hẳn đã tìm được đống lửa ở một phòng khác. Cậu sự phải gọi cô, nên bèn vội vã chạy hết phòng này sang phòng khác, căng tai lên lắng nghe tiếng súng nổ, nhưng chẳng
có âm thanh nào bên ngoài trừ tiếng gió và tiếng nước ì oạp. Cậu tìm thấy Alice trong nhà bếp. Có một đống lửa trong lò bếp bằng sắt, còn Lyra đã được thay tã mới, đang ngồi giữa chiếc bàn lớn bằng gỗ thông. “Ông ta nói gì?” Alice hỏi. “Ông ấy bảo chúng ta có thể ở lại đây làm gì mình thấy cần thiết. Ông ấy có một khẩu súng săn và sẽ bảo vệ căn nhà khỏi Bonneville.” “Hắn đang đến à? Chính là hắn ở trong con thuyền đó đúng không?” “Ừ.” Nước trong xoong đã sôi kể từ khi Malcolm bước vào. Alice lấy xoong xuống để cho nguội. Malcolm nhặt miếng bánh quy vừa rơi khỏi tay Lyra rồi đưa trả lại cho cô bé. Nó ríu rít tỏ vẻ cảm kích. “Nếu cô bé làm rơi bánh quy của mình, em phải nói cho nó biết nó rơi ở đâu, ” cậu nói với Pantalaimon, nó lập tức biến thành một con vượn galago rồi nhìn lên cậu bằng đôi mắt vĩ đại, không hề nhúc nhích hay kêu ca gì. “Nhìn Pan này” Malcolm nói với Alice. Cô liếc nhìn một cái thật nhanh, không tỏ ra hứng thú. “Sao nó biết cách biến thành loài này nhỉ?” Malcolm tiếp tục. “Hai đứa nó không thể nào lại từng nhìn thấy một con gì gì này. Vậy thì làm sao Pan biết...” “Chúng ta sẽ làm gì nếu Bonneville vượt qua được người đàn ông kia?” Alice hỏi, giọng cô đanh lại và cao vút. “Nấp. Sau đó chạy ra ngoài rồi trốn đi.” Gương mặt cô thể hiện suy nghĩ của mình về ý kiến đó. “Đi xem chuyện gì đang xảy ra đi,” cô nói với cậu. “Và đừng để hắn thấy được em đó.” Malcolm đi ra ngoài, rón rén dọc theo hành lang để tới sảnh chính. Vừa nép mình vào bóng tối bên cạnh cửa ra vào, cậu vừa
căng tai lên lắng nghe, rồi khi không nghe thấy gì, bèn thận trọng nhìn quanh quất. Căn sảnh trống trơn. Giờ thì sao đây? Chẳng có âm thanh gì ngoài tiếng gió và tiếng nước, không một giọng nói, chắc chắn là không có tiếng súng nổ. Có khi họ đang nói chuyện ở bên mép nước, cậu thầm nghĩ, rồi, vừa nép sát vào tường, cậu vừa nhẹ nhàng di chuyển qua mặt sàn lát đá cẩm thạch về phía những ô cửa sổ lớn. Nhưng Asta trong dạng bướm đêm đã tới đó trước, và Malcolm cảm thấy một cú sốc kinh hoàng khi con linh thú nhìn thấy điều gì đó bên ngoài rồi ngã khỏi tấm rèm, rơi vào bàn tay cậu. Ông chủ nhà đang nằm trên bãi cỏ với đầu và hai tay chìm trong dòng nước bên cạnh chiếc xuồng hơi của Bonneville, bất động. Không có dấu hiệu nào của Bonneville, khẩu súng cũng biến mất dạng. Trong cơn hoảng hốt, Malcolm liều lĩnh bước tới gần cửa sổ rồi nhòm ra ngoài từ trái sang phải. Những chuyển động duy nhất là sự dập dềnh của chiếc xuồng hơi đang được buộc vào một cái cọc mà Bonneville đã đóng xuống nền cỏ mềm, và sự đu đưa từ hướng này sang hướng kia của nửa trên xác người đàn ông. Ánh sáng quá u ám và mờ nhạt nên cậu không thể đoán chắc, nhưng Malcolm nghĩ cậu có thể thấy một dòng chảy màu đỏ tươi kéo thành vệt từ cổ họng người đàn ông. Cậu ép người xuống lớp cỏ, cố gắng nhìn về nơi mình đã giấu La Belle Sauvage. Theo như cậu thấy thì những bụi cây vẫn chưa bị động tới. Cái tủ mà người đàn ông đã mở ra để lấy khẩu súng là cái nào nhỉ? Trong căn phòng phía bên kia của sảnh lớn... Nhưng Malcolm lại không biết cách nạp đạn và bắn, kể cả nếu... Cậu chạy trở lại nhà bếp. Alice đang rót sữa vào bình của Lyra. “Gì thế?”
“Suỵt. Bonneville đã giết người đàn ông rồi cướp súng của ông ấy, em không thấy hắn ở đâu cả.” “Súng nào cơ?” Cô hỏi, thật sự hoảng hốt. “Ông ấy có một khẩu súng săn. Em nói với chị rồi đó. Ông ấy đã định bảo vệ nơi này. Nhưng giờ thì Bonneville đã có được khẩu súng và giết ông ấy rồi. Ông ấy đang nằm chìm trong nước...” Cậu nhìn xung quanh, gần như hổn hển thở vì sợ hãi. Cậu thấy cái vòng sắt trên một cánh cửa sập bằng gỗ, và trong cơn hốt hoảng, cậu lập tức nâng cánh cửa lên. Một đợt cầu thang dẫn xuống vào trong bóng tối sâu thăm thẳm. “Nến - trên giá ở đằng kia...” Alice chỉ ra, ẵm Lyra cùng bình sữa lên và nhìn xung quanh xem có bất cứ thứ gì có thể khiến chúng bị lộ hay không, nhưng có quá nhiều thứ để cầm theo. Malcolm chạy đến chỗ cái giá và tìm thấy cả một hộp diêm ở đó nữa. “Chị đi xuống trước đi. Em sẽ kéo cửa sập xuống sau khi bước vào, ” cậu nói. Alice thận trọng bước xuống bóng tối. Lyra oằn èo, vùng vẫy, còn Pantalaimon thì rúc lên như một con chim đang hoảng loạn. Asta bay đến chỗ nó, đậu trên lớp chăn của Lyra, rồi cất lên những tiếng gù gù nhẹ nhàng. Malcolm đang vật lộn với cánh cửa sập. Có một tay cầm bằng dây thừng ở phía bên trong, nhưng bản lề cửa cứng ngắc khiến nó nặng khủng khiếp. Cuối cùng cậu cũng kéo được cánh cửa rồi hạ xuống nhẹ nhàng nhất có thể. Sức căng vì phải ở xa linh thú của mình bắt đầu biểu lộ. Hai tay cậu run lẩy bẩy còn trái tim thì lắc lư một cách đau đớn. “Đừng đi xa thêm nữa, ” cậu thì thầm với Alice. “Tại sao...” “Linh thú.” Cô bé hiểu ra ngay và bước lùi lại một bước, đứng hơi sát vào phía cậu khi cậu cố gắng quẹt diêm. Cậu thắp sáng được ngọn nến, Asta liền bay trở lại chỗ cậu vì bản thân ngọn lửa nhỏ đã đủ
để làm Lyra phân tâm. Dưới ánh sáng của ngọn nến, Alice cẩn thận bước xuống sàn phòng tầng hầm. “Không sao đâu, Lyra, suỵt, bé ngoan, ” cô thì thầm rồi ngồi xuống nền đất lạnh lẽo, lưng dựa vào tường. Một tiếng bú sữa ồn ào vang lên gần như lập tức, linh thú của Alice dưới dạng một con quạ đậu xuống gần con gà con Pan. Tiếng rúc đầy lo âu của con linh thú nhỏ ngừng bặt. Malcolm ngồi trên bậc thang dưới cùng, nhìn quanh. Đây là một phòng trữ rau củ, gạo và những thứ khác tương tự: đủ khô ráo, nhưng lạnh thấu xương. Một cánh cổng vòm thấp tè dẫn vào trong một căn hầm xa hơn. “Tất cả những gì hắn phải làm,” Alice run rẩy nói, “là dịch chuyển một vật nặng đè lên cửa sập, và...” “Đừng có nghĩ đến chuyện đó. Nghĩ như vậy cũng chẳng ích gì đâu. Một lúc nữa em sẽ đi qua cổng vòm kia để xem nó dẫn đến đâu. Chắc chắn phải có một lối ra khác.” “Tại sao?” “Vì hầm là nơi trữ rượu. Khi người ta cử quản gia xuống để lấy vài chai vang đỏ hay gì đấy, ông ta sẽ không vật lộn với cái cửa sập rồi lập bập trèo xuống các bậc thang như chúng ta đã làm đâu. Sẽ có một cầu thang hẳn hoi ở đâu đó...” “Suỵt!” Cậu ngồi im, căng thẳng sợ hãi, cố gắng không để lộ nỗi sợ của mình. Những tiếng bước chân thong dong đi qua sàn nhà phía trên vang lên. Chúng dừng lại ở cuối nhà bếp, ngừng một chút, rồi lại đi qua sàn nhà. Những bước chân một lần nữa ngừng lại, gần với cửa sập. Không có gì xảy ra trong cả phút. Rồi có âm thanh như thể một chiếc ghế gỗ vừa bị kéo ra khỏi bàn, chỉ có vậy; nhưng chúng không thể đoán được liệu có phải Bonneville đã đặt nó lên cửa sập hay hắn chỉ đơn thuần dịch chuyển nó rồi đi ra ngoài. Một phút nữa trôi qua, rồi lại một phút nữa.
Dồn toàn bộ sự thận trọng, Malcolm đứng dậy rồi bước xuống sàn đất. Cậu đặt cây nến đã được thắp sáng trên mặt đất gần chỗ Alice, vít nó vào trong đất để đứng được vững, rồi rón rén luồn dưới cổng vòm thấp để vào phần kế bên của căn hầm. Khi đã ở đó, cậu thắp một cây nến khác. Đây là một phòng kho thứ hai, nhưng được dành cho đồ nội thất không cần tới thay vì đồ ăn, vì vậy cậu nhìn quanh thật nhanh rồi tiếp tục đi qua cổng vòm tiếp theo. Tại đầu bên kia của căn phòng này có một cánh cửa gỗ nặng nề với bản lề bằng sắt vĩ đại và cái khoá to như một cuốn sách lớn. Không có chìa khoá treo cạnh đó, và dù có nhìn kĩ đến mấy thì cậu cũng chẳng thể đoán được là cánh cửa có khoá hay không. Đúng lúc đó, một giọng nói thật khẽ vang lên ở phía bên kia. Đó là Bonneville. Asta, đang ngồi trên vai cậu trong dạng vượn cáo, suýt nữa thì ngất xỉu, cậu tóm được con linh thú và ôm nó sát vào người. “Chà, Malcolm,” Bonneville lên tiếng, giọng hắn thâm trầm và đầy vẻ giãi bày. “Giờ hai chúng ta đang ở hai bên của một cánh cửa bị khoá, nhưng chẳng ai có chìa khoá cả. Ít nhất thì ta cũng không có, và ta tự cho là cháu cũng không, vì nếu có cháu đã mở nó ra và bước qua rồi, đúng không? Như thế sẽ thật bất hạnh cho cháu.” Malcolm suýt nữa thì làm rơi cây nến. Tim cậu đang đập như đôi cánh của một con chim bị bắt nhốt, còn Asta thì biến hoá loạn xạ từ vượn cáo sang bướm rồi sang quạ trước khi lại trở về hình dạng vượn cáo, nép sát vào vai Malcolm, đôi mắt to thô lố nhìn vào ổ khoá không rời. “Đừng nói gì cả, ” nó thì thầm vào tai cậu. “Ôi, ta biết cháu đang ở đó mà, ” Bonneville nói. “Ta có thể nhìn thấy ánh sáng từ cây nến của cháu. Ta đã thấy cháu trên ban công, nói chuyện với ông chủ nhà quá cố của chúng ta - nhân tiện, cháu có biết rằng đây là một hòn đảo không? Chiếc xuồng của cháu mà gặp tai nạn gì thì cháu sẽ bị bỏ lại tại đây mất. Làm sao mà cháu lại muốn điều đó được?”
ạ ợ Malcolm lại cố gắng kiềm chế không nói gì. “Ta biết đó là cháu vì đó phải là cháu, ” Bonneville tiếp tục. Hắn đang nói rất khẽ và đầy vẻ tâm sự, giọng hắn chỉ vừa đủ to để xuyên qua cánh cửa. “Không thể là ai khác được. Đứa con gái đang cho em bé ăn - nó sẽ không đi lảng vảng với một cây nến trong tay. Và ta biết cháu đang lắng nghe. Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ được mặt đối mặt thôi. Giờ thì cháu sẽ không chạy thoát khỏi ta đâu. Với cả, cháu có thấy được chúng không?” “Thấy ai cơ?” Malcolm tự nguyền rủa bản thân ngay khi cất tiếng. “Ở đây chẳng có ai ngoài tôi cả, ” cậu nói tiếp. “Ôi, đừng bao giờ nghĩ như vậy, Malcolm ạ. Cháu không bao giờ đơn độc đâu.” “À, có linh thú của tôi...” “Ta không ám chỉ nó. Cháu và nó vốn sẵn thuộc cùng một thể. Ý ta muốn nói rằng có người khác ở bên cạnh cháu.” “Vậy ý ông là ai?” “Ta không biết phải bắt đầu từ đâu nữa. Để bắt đầu thì có những linh hồn trong không khí và trong lòng đất. Một khi đã học được cách nhìn chúng, cháu sẽ nhận ra rằng thế giới này đầy rẫy những thứ đó. Và rồi tại những nơi tội lỗi như thế này sẽ có những con quỷ bóng đêm thuộc đủ dạng. Cháu có biết chuyện gì từng diễn ra ở đây không, Malcolm?” “Không,” Malcolm đáp, cậu chẳng hề muốn biết một tẹo nào. “Đây là nơi Ngài Murdstone thường đem những nạn nhân của mình đến, ” Bonneville tiến lại gần hơn với cửa và nói vẻ bí mật. “Cháu đã nghe nói tới tên ông ta chưa? Người ta từng gọi ông ta là Quý ngài Sát Nhân. Cũng không phải cách đây quá lâu.” Tim Malcolm đang nện đến mức đau nhói. “Có phải ông ta...” Cậu chẳng thể nói cho tròn tiếng được nữa. “Có phải ông ta là chủ căn nhà này không?” “Ông ta có thể làm bất cứ điều gì mình thích ở đây, ” cái thứ giọng chầm chậm, u tối đó tiếp tục xuyên qua cánh cửa. “Chẳng
có ai để ngăn cản ông ta. Nên ông ta thường dẫn trẻ con xuống đây rồi chặt chúng.” “Chặt - cái gì cơ?” Malcolm chỉ có thể thì thào. “Cắt chúng ra thành nhiều mảnh trong lúc chúng vẫn còn sống. Đó là khoái cảm đặt biệt của ông ta. Và dĩ nhiên, nỗi đau đớn khủng khiếp của những đứa trẻ đó quá lớn để có thể biến mất mãi mãi sau khi chúng cuối cùng cũng chết. Nó thấm đẫm vào từng thớ đá. Nấn ná trong không khí. Không có ngọn gió trong sạch nào thổi qua những căn hầm này, Malcolm ạ. Thứ không khí mà cháu đang hít thở bây giờ đây đã tồn tại trong phổi của những đứa trẻ bị hành hạ đó.” “Tôi không muốn nghe nữa, ” Malcolm kêu lên. “Ta không trách cháu đâu. Ta cũng sẽ chẳng muốn nghe về nó. Ta sẽ muốn bịt tai lại rồi ước gì nó sẽ biến đi. Nhưng không có chuyện thoát được khỏi nó đâu, Malcolm ơi. Lúc này chúng đang vây lấy xung quanh cháu rồi, những linh hồn của nỗi thống khổ đó ấy. Chúng cảm nhận được nỗi sợ của cháu nên đang túm tụm lại phía cháu để ngấu nghiến cháu. Tiếp theo cháu sẽ bắt đầu nghe thấy tiếng chúng - một kiểu thì thầm khe khẽ đầy tuyệt vọng - và rồi cháu sẽ bắt đầu nhìn thấy chúng.” Lần này thì đến lượt Malcolm suýt ngất. Cậu tin mọi điều Bonneville nói, nghe nó hợp lí đến mức cậu tin ngay lập tức mà không thể cưỡng lại. Rồi một dòng không khí nhỏ thổi tới ngọn lửa trên cây nến của cậu và khiến nó nghiêng sang bên trong một lúc. Khi nhìn vào đó, ngay lập tức trong tầm nhìn của cậu là thứ hạt nhỏ trôi nổi của ánh sáng và chuyển động, hạt giống cực quang của cậu. Một dòng suối nhỏ của sự nhẹ nhõm và hi vọng bắt đầu tuôn chảy vào tâm trí cậu. “Ông nghĩ sai về em bé rồi,” cậu nói, ngạc nhiên khi thấy giọng mình thật vững vàng. “Sai à? Sai như thế nào?” “Ông nghĩ cô bé là con của ông, nhưng không phải vậy.” “À, cháu cũng nghĩ sai về nó đấy.”
“Tôi không sai đâu. Cô bé là con của Ngài Asriel và Phu nhân Coulter.” “Cháu đã sai khi cho rằng ta có hứng thú với nó. Ta có thể hứng thú với Alice chứ.” Asta thì thầm: “Đừng để hắn khiến chúng ta phải nói về những gì hắn muốn.” Malcolm gật đầu. Nó nói đúng. Tim cậu đang đập thình thịch. Rồi cậu nhớ tới thông điệp trong hạt sồi gỗ và nói: “Ông Bonneville, trường Rusakov là gì vậy?” “Cháu biết gì về nó?” “Chẳng gì cả. Thế nên tôi mới hỏi.” “Sao cháu không hỏi Tiến sĩ Hannah Relf?” Quả là một điều ngạc nhiên. Cậu phải trả lời thật nhanh. “Tôi đã hỏi rồi,” cậu nói, “nhưng đó không phải thứ mà cô ấy biết. Cô ấy biết về những thứ như lịch sử tư tưởng ấy.” “Ta cho là đúng ngành của cô ta đó chứ. Tại sao cháu lại hứng thú với trường Rusakov?” Cái vòng dát vàng đang lớn dần lên, như mọi khi. Giờ nó giống như một con rắn nhỏ đính đá quý vặn vẹo và uốn lượn cho riêng mình cậu. Cậu điềm tĩnh nói tiếp: “Bởi vì ông biết cái cách mà trường lực hấp dẫn tạo ra lực hấp dẫn, đúng không, và từ trường tạo ra loại lực đó, vậy thì trường Rusakov tạo ra lực gì?” “Chẳng ai biết cả.” “Nó có liên quan gì đến Nguyên lí Bất định không?” Bonneville im lặng trong một lúc. Rồi hắn nói: “Chà chà, cháu quả là một đứa bé ngoan cố. Ta mà ở vị trí của cháu thì sẽ muốn biết về những thứ rất khác đấy.” “À, tôi muốn biết đủ thứ, nhưng phải đúng thứ tự. Trường Rusakov là thứ quan trọng nhất, vì nó có liên hệ với Bụi...” Malcolm nghe thấy một tiếng động khẽ ở sau lưng mình, cậu quay lại và thấy Alice, tay cầm cây nến, đang bước qua cổng vòm. Cậu đặt ngón tay lên môi rồi làm khẩu hình một cách
cường điệu chữ “Bonneville” trong lúc chỉ về phía cửa. Cậu ra hiệu: Đi đi! Cô bé tròn mắt nhìn và đứng im như phỗng. Malcolm quay lại: Bonneville đang nói. Hắn đang giải thích: “... vì có vài điều mà người ta có thể giải thích với một học sinh tiểu học và những điều khác sẽ nhanh chóng vượt ra khỏi phạm vi lĩnh hội của đứa trẻ ấy. Đây là một trong số những điều đó. Cháu cần ít nhất một hiểu biết ở bậc cử nhân về thần học thực nghiệm trước khi trường Rusakov có thể mang tới một chút ý nghĩa nào với cháu. Kể cả giờ ta có bắt đầu giảng giải cũng chẳng ích gì.” Malcolm im lặng nhìn quanh và thấy rằng Alice đã rời khỏi đó. “Nhưng dù sao thì...” cậu nói trong lúc quay lại. “Sao cháu lại quay đi thế?” “Tôi nghĩ mình đã nghe thấy tiếng gì đó.” “Đứa con gái đó à? Alice? Là nó đúng không?” “Không phải. Ở đây chỉ có tôi thôi.” “Ta cứ nghĩ chúng ta đã loại bỏ cái ý niệm đó rồi mà, Malcolm. Những đứa trẻ đã chết đó - ta đã kể cho cháu nghe ông ta đã làm gì với linh thú của chúng chưa nhỉ? Đó là thứ tài tình nhất...” Malcolm quay đi với cây nến cầm trong cả hai tay và quay trở về ngang qua căn hầm, bất chấp thành công của cậu trong việc làm phân tán sự chú ý của gã đàn ông, bất chấp vòng cực quang lúc này đang lấp lánh ở ngoài rìa tầm nhìn của cậu, căn hầm vẫn đang đầy nhóc những thứ khủng khiếp gần như hữu hình. Cậu dùng chân lần lên phía trước, cố gắng giữ thăng bằng và cố gắng giữ cho nến cháy sáng, suốt lúc đó giọng của Bonneville vẫn tiếp tục phát ra từ sau cánh cửa trong lúc Malcolm tự nhủ thầm: “Không đúng! Không phải sự thật!” Cuối cùng cậu cũng sang tới căn phòng bên kia. Alice và Lyra đã đi mất. Cậu lao lên cầu thang, suýt nữa thì vấp ngã trong lúc cố gắng giữ thăng bằng, rồi bắt đầu trèo, lặng lẽ, cẩn thận, chậm rãi.
Cậu lên tới chỗ cửa sập rồi dừng lại: Liệu cậu có thể nghe thấy gì không? Niềm thôi thúc muốn đẩy bật mở cửa rồi lao ra bầu không khí trong lành gần như đã khuất phục được cậu, nhưng cậu ép mình phải lắng nghe. Chẳng có gì. Không một giọng nói, không tiếng bước chân, chẳng có gì ngoài tiếng đập thùm thụp của chính trái tim cậu. Vậy là cậu kê lưng vào cửa sập rồi đẩy lên, cánh cửa nâng lên khá êm và dễ dàng, rồi một luồng gió mạnh thổi bạt nến của cậu đi - nhưng cũng chẳng sao - vẫn có ánh sáng chiếu qua cửa sổ phòng bếp - cậu có thể nhìn thấy chiếc bàn, những bức tường - và vẫn còn ánh lửa rực rỡ. Một lúc sau cậu trèo ra ngoài, nhanh nhẹn và khẽ khàng hạ cửa sập xuống, rồi trước khi lao ra cửa và thế giới bên ngoài, cậu dừng lại. Đây là một nhà bếp, và nếu những đầu bếp ở đây có chút nào giống với mẹ cậu hay sơ Fenella thì hẳn sẽ phải có một ngăn kéo chứa dao trong đó. Cậu lần quanh bàn, tìm thấy một núm cầm, kéo nó mở ra, và chúng ở đó: một vài con dao chuôi gỗ lưỡi đã mòn, tất cả đều nằm sẵn sàng để được cầm lấy. Cậu lục trong đám chuôi cầm cho tới khi tìm thấy một cái không quá dài để giấu đi, có lưỡi nhọn chứ không phải tròn. Cậu gài nó vào thắt lưng phía đằng sau rồi tiến về phía cửa và bầu không khí lạnh lẽo trong sạch phía bên ngoài. Trong những tia sáng nhợt nhạt cuối cùng của ngày tàn, cậu có thể thấy Alice đang lập bập chạy qua bãi cỏ một cách hối hả, tay ôm Lyra. Con thuyền của Bonneville vẫn đang được buộc, nhưng xác của người đàn ông kia đã trôi đi, còn bản thân Bonneville thì chẳng có chút dấu vết nào. Cậu chạy tới chỗ chiếc xuồng hơi của Bonneville, nhổ cái cọc mà nó được buộc vào ra khỏi mặt đất; và bắt đầu đẩy con thuyền ra phía dòng chảy. Nhưng cậu dừng lại: Trong đó có một cái balô, bên dưới tấm ván ngang. Một ý nghĩ lập tức đến với cậu: Nếu có thứ này, chúng ta có thể thoả thuận với hắn; vậy là cậu với tay vào và lôi cái balô lên - nó khá nặng - thả xuống bãi cỏ, rồi đẩy con thuyền khỏi bờ.
Cậu chộp lấy cái balô rồi chạy lại về phía Alice. Cô đã đặt Lyra nằm xuống cỏ và đang kéo La Belle Sauvage ra khỏi những bụi cây nên Malcolm liền thả cái balô vào trong xuồng rồi kéo cùng cô. Nhưng chưa dịch chuyển nó được một thước thì chúng đã nghe thấy phía sau tiếng “Haaa haa! Haaa!” của con linh thú đáng ghê tởm đó. Chúng quay lại và thấy Bonneville đang nhàn nhã bước xuống từ lối vào của căn nhà, khẩu súng săn kẹp dưới cánh tay, con linh thú đi tập tễnh và lảo đảo bên cạnh như thể đang bị xích vào một cái dây vô hình. Ngay lập tức Malcolm thả chiếc xuồng ra rồi bế Lyra lên, còn Alice, khi quay lại và thấy chuyện đang diễn ra, liền thốt lên: “Ôi Chúa ơi, không.” Sẽ không có thời gian để đẩy xuồng xuống nước, mà kể cả có làm được như vậy thì gã đàn ông vẫn có khẩu súng kia. Mặc dù khuôn mặt hắn chỉ hiện lên lờ mờ trong bóng tối đang dần bủa vây, từng đường nét trên cơ thể hắn dường như đều toát ra rằng hắn biết mình sẽ thắng. Hắn dừng lại cách vài bước rồi chuyển khẩu súng sang tay trái. Hắn thuận tay trái sao? Malcolm không thể nhớ nổi, cậu nguyền rủa sự bất cẩn của mình vì đã không nhận ra. “Chà, cháu nên đưa con bé cho ta thì hơn, ” Bonneville nói. “Giờ thì cháu không có chút hi vọng nào để trốn thoát được đâu.” “Tại sao ông lại muốn có nó?” Malcolm hỏi, ôm chặt đứa bé vào ngực mình hơn. “Vì hắn là một tên biến thái,” Alice nói. Bonneville khẽ cười. Tim Malcolm đang dộng mạnh đến mức khiến cậu đau nhói. Cậu cảm thấy Alice đang căng thẳng đứng bên cạnh. Cậu cực kì muốn giữ cho Bonneville nhìn về phía chúng, vì gã đàn ông vẫn chưa nhận ra rằng thuyền của hắn đã biến mất. “Những gì ông nói ở trong kia, qua cánh cửa, ” cậu nói, “không phải là sự thật.”
Malcolm ôm Lyra trên cánh tay trái, áp sát vào ngực mình; Asta trong dạng chuột đang thì thầm với cô bé và Pan. Malcolm dùng tay phải lần ra phía sau lưng, cố gắng tìm con dao. Nhưng các thớ cơ trên cánh tay cậu run rẩy tới mức cậu sợ mình sẽ làm rơi con dao trước khi kịp dùng nó mất, mà dù sao thì liệu cậu có thật sự có ý định đâm người đàn ông kia không? Cậu chưa từng cố tình làm hại dù chỉ là một con ruồi, và những trận chiến duy nhất cậu từng tham gia chỉ là những vụ ẩu đả trên sân chơi. Kể cả khi đẩy một thằng bé xuống sông vì dám sơn chữ S lên trên chữ V của Sauvage, cậu đã lập tức kéo đứa đấy lên bờ. “Làm thế nào mà cháu biết được sự thật là gì chứ?” Bonneville nói. Malcolm đáp: “Giọng người ta thay đổi khi nói một điều không có thật.” “Ôi, cháu tin vào mấy thể loại đó sao? Ta đoán cháu cũng tin rằng thứ cuối cùng một người nhìn thấy sẽ in hằn lên võng mạc của họ?” Malcolm tìm thấy chuôi dao: “Không, tôi không tin vào điều đó. Nhưng ông định làm gì với cô bé?” “Nó là con gái của ta. Ta muốn nó được giáo dục tử tế.” “Không, đây không phải là con ông. Ông sẽ phải cho chúng tôi một lí do hợp lí hơn.” “Vậy thì được thôi. Ta sẽ quay nó lên rồi ăn thịt nó. Cháu có chút khái niệm nào về việc nó ngon...” Alice nhổ vào hắn. “Ôi, Alice, ” Bonneville thốt lên. “Em và ta đã có thể trở thành bạn bè thân thiết. Có khi còn thân hơn cả bạn. Chúng ta suýt chút nữa đã trở nên gần gũi đến thế nào, em và ta! Nhưng hãy xem cái chuyện này đã ngăn trở chúng ta thế nào. Chúng ta thật sự không nên để cho cái việc vặt vãnh thế này phá hỏng một khả năng tuyệt đẹp.” Malcolm đã lấy được con dao ra khỏi thắt lưng. Alice có thể thấy được cậu đang làm gì, dù trời đang tối, và ngày càng trở nên tối hơn, cô liền nhích lại gần hơn một chút.
“Ông vẫn chưa nói sự thật, ” Malcolm nói, chuyển trọng tâm của Lyra. Bonneville bước lại gần. Malcolm giữ Lyra cách xa khỏi ngực như thể định giao nó cho gã đàn ông, Bonneville chìa cánh tay phải ra như để đón lấy đứa trẻ. Vào giây phút hắn đến đủ gần, Malcolm vòng tay phải ra rồi dồn hết sức lực đâm con dao vào đùi Bonneville. Đó là