phần cánh tay mới của anh. Anh cẩn thận đưa súng nhắm vào màn nước bên ngoài cửa xe, đồng thời nhớ lại kiến thức đào tạo sử dụng súng của mình. Luôn giả định mọi vũ khí được nạp đạn và sẵn sàng khai hỏa, không bao giờ chĩa vũ khí vào bất kỳ thứ gì ta chưa sẵn sàng ghim đạn vào, không bao giờ nổ súng nếu không thấy chính xác đằng sau mục tiêu là gì, không bao giờ đặt ngón tay lên cò nếu chưa chuẩn bị nổ súng. Là nhà khoa học, Rhyme thực ra cũng là một tay súng khá thiện xạ, bởi anh sử dụng vật lý để tính toán cách găm viên đạn vào đúng đích của nó. “Được lắm,” anh nói lần nữa rồi luồn súng vào túi trong áo khoác. Họ ra khỏi xe rồi khảo sát khu vực: nào ống nước và máng xối dẫn nước thải ra ngoài đại dương, nào hàng tá đống bùn đặc chất cao như những ụ kiến khổng lồ, nào gạch, xỉ than, nào linh kiện xe và đồ điện gia dụng, nào máy móc công nghiệp hoen gỉ nằm la liệt trên nền đất. Cấm Bơi… Thật chứ chẳng chơi.
Thom nói, “Khói mù nhiều mà khách sạn thì xa quá. Làm sao hắn nhìn rõ để xác định mục tiêu chứ?” Poitier nói, “Tôi cho là hắn dùng một ống kính đặc biệt. Công nghệ quang học thích nghi, laze.” Rhyme phấn khởi. Rõ ràng cậu hạ sĩ này đã nghiên cứu nhiều về vụ án hơn những gì cậu tiết lộ - hoặc là nhiều hơn mức độ hài lòng của ông phó cảnh sát trưởng McPherson. “Cũng có thể hôm ấy trời trong hơn.” “Ở đây chẳng bao giờ trời trong nổi,” Poitier vừa nói vừa khua tay về phía một ống khói thấp tè mọc trên nhà máy lốp xe. Nó phun ra toàn khói màu xanh mật và màu be. Rồi, bị bủa vây trong cái mùi trứng thối và cao su nóng đáng lộn mửa bắt nguồn từ sự ô nhiễm nơi đây, họ đi đến gần bờ biển hơn. Rhyme nghiên cứu mặt đất để tìm chỗ tốt nhất mà kẻ bắn tỉa có thể ẩn nấp - phải là chỗ ngụy trang tốt và có một chỗ lõm cho phép gác súng bắn tỉa lên trên. Có nửa tá địa điểm như thế. Không ai cản trở cuộc tìm kiếm, gần như chỉ có họ ở đây. Một chiếc xe bán tải giảm tốc độ rồi đỗ ngay bên kia con đường. Tay tài xế, mặc áo xám ố mồ hôi, đang nói chuyện điện thoại, bước ra sau chiếc xe tải của mình rồi bắt đầu quăng mớ túi rác vào một con mương cạnh đường. Cái khái niệm “tội xả rác” dường như không tồn tại ở Bahamas. Rhyme còn nghe thấy tiếng cười hô hố và tiếng la ó từ bên kia hàng rào vây quanh nhà máy luyện kim, nhưng ngoại trừ chuyện đó ra thì họ mặc sức tung hoành nơi đây.
Khi tìm kiếm nơi ẩn nấp của kẻ bắn tỉa, Thom, Poitier và Rhyme, kẻ cuốc bộ, người lăn xe, xuyên qua đám cỏ dại và nhiều mảng đất cát, chiếc xe lăn Storm Arrow bám đất khá tốt trên địa hình gồ ghề. Vì Poitier và Thom ra được sát chỗ mé nên anh bảo họ thứ cần tìm: bụi cây bị xén, vết lõm, dấu chân hoặc dấu ủng dẫn đến một khu vực bằng phẳng, “Xem xét các mảng cát nữa.” Ngay cả một vỏ đạn cũng để lại một dấu vết đặc trưng. “Hắn nhất định là dân nhà nghề,” Rhyme giải thích. “Hắn chắc đã dùng kiềng đỡ hoặc bao cát để gác súng lên nhưng cũng có thể hắn dùng đá và để nguyên đội hình như vậy. Tìm hòn đá nào lạc chỗ đi, có thể là một hòn nằm cân bằng trên một hòn khác. Ở khoảng cách như thế thì cây súng bắn tỉa phải tuyệt đối nằm vững.” Rhyme nhíu mắt - sự ô nhiễm và cơn gió nơi đây làm cay mắt anh. “Tôi muốn tìm cho ra vỏ đạn,” anh nói. Nhưng anh không nghĩ kẻ bắn tỉa sẽ để lại bất kỳ vỏ đạn nào, dân nhà nghề luôn luôn nhặt lại vỏ đạn bởi vì chúng chứa cả kho tàng thông tin về hung khí và tay súng. Dẫu vậy, anh nhòm xuống lòng nước, tự hỏi liệu một vỏ đạn có bị văng xuống đấy không. Biển đen ngòm và anh chắc là nó khá sâu. “Có thợ lặn thì tốt quá.” “Thợ lặn chính thức của chúng tôi thì không có rồi, thưa đại úy,” Poitier nói một cách đầy tiếc nuối. “Dĩ nhiên đây có phải cuộc điều tra chính thức đâu.” “Chẳng qua là một chuyến tham quan đảo thôi.” “Phải, chính xác là vậy.”
Rhyme lăn xe đến gần mé và nhìn xuống. “Cẩn thận đấy,” Thom hô lên. “Nhưng mà,” Poitier nói, “tôi biết lặn đấy. Hay là bữa nào tôi quay lại xem thử có gì dưới đấy không. Tôi phải đi mượn vài chiếc đèn soi dưới nước từ cái đồn cạnh biển của chúng tôi.” “Cậu làm thật hả, đồng chí hạ sĩ?” Cậu ta cũng nhòm xuống mặt nước. “Phải. Ngày mai, tôi…” Chuyện xảy ra tiếp theo ập đến thật nhanh. Nhanh như cắt. Nghe tiếng nhíp ô tô loảng xoảng và tiếng động cơ nổ ọc ạch, kêu xì xì, Rhyme, Thom cùng Poitier ngoái lại nhìn con đường đất mà vừa nãy họ lái trên đó. Họ thấy cái xe Mercury vàng óng phóng thẳng về phía mình, lần này chỉ có hai tên trong xe. Rồi Rhyme hiểu ra. Anh liếc ra sau, thấy gã mặc áo thun xám, chính là kẻ xả rác từ chiếc xe bán tải, băng nhanh qua con đường hẹp rồi giằng co với Poitier khi cậu đang rút súng. Khẩu súng văng ra. Kẻ tấn công đứng phắt dậy rồi đá vào bên hông và đầu cậu hạ sĩ đang thở hổn hển, mạnh. “Không!” Rhyme la lên. Chiếc Mercury phanh rít lại và hai tên trong số những kẻ trước đó bám đuôi họ nhảy ra ngoài - một gã tóc tết lọn dài mặc áo ba lỗ vàng và tên đồng bọn, lùn hơn, mặc áo thun xanh lá. Tên mặc áo
xanh lá giật điện thoại ra khỏi tay Thom rồi lên gối khiến cậu ôm bụng. “Đừng!” Rhyme kêu lên - một tiếng kêu tự bộc phát và vô ích. Tên mặc áo thun xám nói với đồng bọn, “Ô kê, bọn mày thấy ai khác nữa không?” “Không.” Dĩ nhiên, đó là lý do vừa nãy gã nói chuyện điện thoại. Gã đến đây hoàn toàn không phải để quăng rác. Gã đã theo dõi họ và sử dụng điện thoại để báo bọn kia biết nạn nhân của chúng đã đến địa điểm ra tay. Poitier hổn ha hổn hển, tay ôm chặt hông. Rhyme cứng cỏi nói, “Bọn tao là cảnh sát Mỹ đấy. Bọn tao còn làm việc với FBI. Khôn hồn thì đừng lún sâu. Cút ngay.” Anh có nói cũng như không. Tên mặc đồ xám bước về phía khẩu súng lục của Poitier đang nằm trên nền đất bụi bặm cách đó ba mét. “Đứng lại,” Rhyme ra lệnh. Tên này đứng lại. Gã chớp mắt nhìn nhà khoa học hình sự. Mấy kẻ tấn công còn lại đứng im. Bọn chúng đang nhìn khẩu Glock trong tay Rhyme. Khẩu súng hơi run, nhất định rồi, nhưng từ khoảng cách này anh có thể dễ dàng ghim một viên đạn vào thân trên của kẻ tấn công.
Tên này vừa giơ bàn tay lên một chút vừa đứng dậy. Mắt dán vào khẩu súng lục. Trở lại nhìn Rhyme. “Ô kê, ô kê, ông anh. Đừng làm liều.” “Tất cả tụi bay, lùi lại nằm xuống đất, úp mặt xuống.” Hai tên ở trong xe nãy giờ quay sang nhìn tên mặc áo xám. Không ai cử động. “Tao không lặp lại đâu.” Rhyme tự hỏi nếu bắn thật thì sức giật của súng sẽ làm bàn tay anh ra sao. Anh cho là gân tay sẽ bị tổn thương. Nhưng sau khi bắn xong anh chỉ cần giữ chặt súng là được. Mấy tên còn lại sẽ tháo chạy sau khi anh giết tên đầu đảng. Nghĩ đến Mệnh lệnh Đặc nhiệm. Không theo trình tự pháp luật, chẳng xét xử. Tự vệ. Lấy mạng trước khi kẻ thù lấy mạng. “Ông định bắn tôi hả?” Tên đàn ông đang săm soi anh, bất ngờ tỏ vẻ thách thức. Rhyme hiếm khi có cơ hội mặt đối mặt với kình địch. Bọn chúng thường lẩn khỏi hiện trường từ lâu trước khi anh kịp thấy mặt, có thấy chăng thì thường là tại tòa án nơi anh làm nhân chứng chuyên gia cho bên công tố. Tuy nhiên, anh chẳng ngại đấu mắt với tên áo xám này. Tên đồng bọn của hắn, tên áo vàng với cơ bắp ấn tượng, tiến lên trước nhưng đứng gấp lại khi Rhyme xoay súng về phía gã. “Ấy, bình tĩnh, ông anh, bình tĩnh.” Hai bàn tay giơ lên.
Rhyme lại nhắm tên đầu đảng, mắt hắn dán vào khẩu súng, bàn tay hắn giơ lên cao. Gã mỉm cười. “Thật không? Thật ông định bắn tôi không? Chắc là không đâu.” Gã bước tới một hai mét. Khựng lại. Rồi lại bước thẳng về phía Rhyme. Chẳng còn gì để nói nữa. Rhyme gồng mình, hi vọng sức giật của súng sẽ không làm hoài công cuộc phẫu thuật mong manh trước đây, hi vọng anh có thể giữ súng trong tay. Anh ra lệnh ngón trỏ co lại. Nhưng không có chuyện gì xảy ra. Súng Glock - thứ súng lục đáng tin cậy do Áo sản xuất - chỉ đòi hỏi một lực bóp có cường độ một vài kilôgam lực. Vậy mà Rhyme vẫn không thể dồn đủ lực, không thể bóp đủ mạnh để cứu mạng hộ lý của mình và cậu cảnh sát đã đánh cược sự nghiệp bản thân để giúp anh. Tên áo xám tiếp tục tiến tới, có lẽ vì gã cho rằng Rhyme thiếu dũng khí nổ súng, mặc dù anh cố gắng bóp cò một cách tuyệt vọng. Đáng sỉ nhục hơn nữa, gã không tiến đến từ bên hông mà vẫn đi đều trên quỹ đạo hướng về cái họng súng đang lắc lư theo hướng hắn. Tên này cuộn bàn tay cơ bắp của hắn quanh khẩu súng và dễ dàng giật nó ra khỏi tay Rhyme. “Ông đúng là kẻ quái dị.” Gã thủ thế, đặt chân lên giữa ngực Rhyme rồi đạp mạnh.
Chiếc xe lăn Storm Arrow lăn lùi hơn nửa mét rồi rơi xuống mép đá. Rhyme và chiếc xe lăn đổ nhào vào lòng biển, nước bắn lên tung tóe một tiếng rõ kêu. Anh hít một hơi thật sâu rồi chìm xuống. Nước không sâu như anh tưởng, màu đen sẫm là do ô nhiễm nơi đây, hóa chất và chất thải. Chiếc xe lăn rơi xuống khoảng ba mét thì dừng lại dưới đáy. Đầu Rhyme giật liên hồi, phổi đau nhói khi hơi thở của anh cạn dần, Rhyme dùng hết sức xoay đầu, lấy miệng ngoạm chặt sợi dây đeo chiếc ba lô bạt được móc đằng sau xe lăn. Anh giật nó về phía trước và nó nổi lềnh bềnh trong tầm với của anh. Khó khăn lắm anh mới vòng được cánh tay quanh nó để giữ thăng bằng, đoạn dùng răng mở khóa kéo, hạ thấp đầu để câu ra ống thở của máy thông khí cầm tay. Anh giữ chặt cái ống rồi lần nó giữa hai môi. Mắt anh nóng hực, cay xè vì những chất gây ô nhiễm trong nước, anh nheo mắt lại nhưng vẫn giữ chúng mở để tìm công tắc điều khiển máy thông khí. Cuối cùng cũng thấy nó ở kia. Thế là xong. Anh bật công tắc. Đèn sáng lên. Chiếc máy kêu rừm rừm rồi anh hít vào một ít ôxy ngọt ngào, tuyệt diệu. Một lần nữa. Nhưng không có lần thứ ba. Có vẻ như nước đã chui được qua vỏ máy, làm đoản mạch thiết bị. Chiếc máy thông khí tối sầm lại. Không khí chấm dứt. Vào khoảnh khắc đó anh nghe một tiếng khác, cái tiếng dù bị chặn lại qua làn nước nhưng rõ mồn một: Thật ra là hai tiếng.
Tiếng súng. Báo hiệu cái chết của bạn bè anh: một người anh quen từ tận thuở nào, một người anh đang dần thân hơn chỉ trong vài giờ vừa qua. Hơi thở tiếp theo của Rhyme chỉ còn nước. Anh nghĩ đến Amelia Sachs rồi cơ thể anh thả lỏng.
42 TẮC KÈ HOA Không. Ôi, không. Gần 5 giờ chiều, cô đỗ xe trước chung cư của Lydia Foster trên Đại lộ Số 3. Sachs không đến gần được, xe cảnh sát và xe cứu thương nằm la liệt chặn con đường. Lô-gíc mách bảo cô lý do những chiếc xe này có mặt tại đây không thể nào là vì cái chết của cô phiên dịch viên. Sachs đã theo dõi tên bắn tỉa trong nửa tiếng qua. Hắn vẫn còn ở văn phòng của mình tại trung tâm thành phố cơ mà. Cô chỉ đi khỏi sau khi tổ trinh sát Đơn vị Công tác Đặc biệt của Myers đến. Vả lại, làm sao tên bắn tỉa biết được tên và địa chỉ của cô phiên dịch viên? Cô đã thận trọng gọi từ bốt điện thoại và điện thoại trả trước. Đó là điều lô-gíc bảo cô. Song trực giác mách bảo cô một điều khác hẳn: Lydia đã chết và Sachs phải chịu trách nhiệm. Bởi vì trước đó cô chưa hề xét đến một sự thật mà giờ đây cô đã nhận ra: Chúng có hai tên hung thủ. Một tên là kẻ cô đã theo đuôi khắp hang cùng ngõ hẻm của trung tâm thành phố New York - kẻ bắn tỉa, cô đoan chắc như vậy, bởi phân tích giọng nói cho kết quả khớp - và tên còn lại, kẻ giết Lydia Foster, một đối tượng chưa xác định. Hắn là một người hoàn toàn khác, có lẽ là đồng bọn của tên bắn tỉa, một tên chỉ điểm mục tiêu, thuật ngữ được nhiều lính bắn tỉa sử dụng. Hoặc là một tay giết thuê
riêng, một chuyên viên, do Shreve Metzger thuê hòng phi tang chứng cứ ám sát. Cô đỗ xe nhanh, quăng thẻ Sở cảnh sát New York lên bảng điều khiển rồi bước ra ngoài, hối hả chạy về phía cái chung cư xoàng xĩnh, mặt tiền nhợt nhạt của nó bị ố nước trắng ngà như thể các cụm điều hòa không khí vừa mới khóc. Cúi người qua dây giăng cảnh sát, cô hối hả đi tới chỗ một thám tử, người đang chuẩn bị một tổ khảo sát. Viên cảnh sát mảnh dẻ người Mỹ gốc Phi này nhận ra cô và gật đầu chào, mặc dù cô không quen anh ta. “Đồng chí thám tử.” “Có phải là Lydia Foster không?” Cô chợt thắc mắc tại sao mình lại mất công hỏi. “Đúng rồi. Vụ này có dính líu đến vụ án cô đang điều tra hả?” “Phải. Lon Sellitto là điều tra viên chính, Bill Myers giám sát. Tôi chạy vặt.” “Vậy thì giao hết cho cô đấy.” “Chuyện gì đã xảy ra vậy?” Cô để ý thấy viên cảnh sát thất sắc, mắt giần giật né tránh ánh mắt cô trong khi tay mân mê bút. Anh nuốt nước bọt rồi nói, “Phải nói hiện trường khá ghê. Nạn nhân bị tra tấn. Xong hắn đâm cô ấy. Chưa bao giờ thấy cảnh nào như vậy.” “Tra tấn?” cô hỏi khẽ.
“Xắt da ra khỏi các ngón tay nạn nhân. Chầm chậm.” Chúa ơi… “Sao hắn vào nhà được?” “Lý do gì đấy, không hiểu sao nạn nhân lại cho hắn vào. Không có dấu hiệu đột nhập.” Tuy ngỡ ngàng nhưng Sachs liền hiểu ra. Đối tượng chưa xác định này đã nghe trộm một đường dây - có lẽ là đường dây cố định mà cô gọi gần quán Java Hut - nên hắn biết về cô phiên dịch viên. Hắn đã mạo danh cảnh sát, trình ra phù hiệu giả, nói mình làm việc cùng Sachs, tức là hắn đã biết tên cô. Cuộc nói chuyện giữa Sachs và Sellitto chính là Mệnh lệnh Đặc nhiệm dành cho riêng Lydia Foster. Cô cảm thấy trào dâng một sự căm giận tột cùng đối với tên sát nhân. Những gì hắn đã làm với Lydia - nỗi đau hắn gây ra - là không cần thiết. Để moi tin từ dân thường, ta chỉ cần hăm dọa là đủ. Tra tấn thể xác luôn luôn là vô nghĩa. Trừ khi ta thích làm vậy. Trừ phi ta thỏa thuê khi khua dao, xắt lát một cách chính xác, một cách điêu luyện. “Sao anh nhận được tin báo?” cô hỏi. “Thằng khốn này cắt nạn nhân đến nỗi máu chảy nhiều, máu thấm qua trần nhà. Hàng xóm dưới lầu thấy máu trên tường. Họ gọi 911.” Viên thám tử nói tiếp, “Nơi này đã bị xới tung cả lên. Tôi chẳng
biết hắn tìm gì nhưng hắn lục hết đồ đạc của nạn nhân. Không chừa một ngăn kéo nào. Lục cả máy vi tính và điện thoại di động. Hắn lấy đi tất.” Hồ sơ về thương vụ phiên dịch cho Moreno chắc đã bị xé vụn hoặc đốt ra tro. “Tổ hiện trường trên đường tới đây chưa?” “Tôi gọi cho một tổ từ Queens rồi. Họ đến ngay thôi.” Sachs có một bộ đồ nghề khám hiện trường cơ bản trong cốp chiếc Torino. Cô trở ra xe rồi bắt đầu tròng vào bộ áo liền quần xanh lơ và ủng cùng mũ trùm. Cô phải bắt đầu ngay. Mỗi phút trôi qua là mỗi phút chứng cứ biến chất. Và mỗi phút trôi qua là mỗi phút con quái thú gây án được nước chạy càng lúc càng xa. • • • Đang rà lưới. Vận đồ như bác sĩ ngoại khoa, Amelia Sachs đang di chuyển khắp căn hộ của Lydia Foster theo mô hình khám hiện trường vụ án kinh điển, hình lưới: bước từng nhịp một từ tường này đến tường khác, xoay người, bước ngang một chút rồi trở lại. Và khi hoàn thành, ta khám xét lại hiện trường theo cùng cách đó, có điều lần khám này vuông góc với lần khám trước. Đây là phương pháp khám hiện trường tốn thời gian nhất nhưng cũng thấu đáo nhất. Đây là cách Rhyme từng khám hiện trường vụ
án và cũng là phương thức anh buộc những ai làm việc cho mình phải sử dụng. Khám hiện trường có thể nói là công đoạn quan trọng nhất của công tác điều tra vụ án. Ảnh chụp, phim quay và bản vẽ phác thảo rất quan trọng. Các lộ trình ra vào, các địa điểm tìm thấy vỏ đạn, dấu vân tay, vệt tinh dịch và những vùng máu bắn. Nhưng tìm ra dấu vết trọng yếu mới chính là mục đích thật sự của công tác khám hiện trường. Merci, M. Locard[57] . Khi rà lưới, ta cần phải để toàn bộ cơ thể cảm nhận hiện trường, hít ngửi, lắng nghe, sờ chạm và, dĩ nhiên - quan sát. Quét mắt không ngừng nghỉ. Chính là điều mà Amelia Sachs đang làm lúc này. Cô không nghĩ mình có khiếu phân tích pháp y. Cô chẳng phải là nhà khoa học gì. Đầu óc cô không đưa ra những suy luận tài tình mà Rhyme nghĩ ra rất nhanh. Nhưng sự thấu cảm chính là lợi thế của cô. Hồi hai người bắt đầu hợp tác, Rhyme dường như đã nhìn ra ở cô một kỹ năng mà bản thân anh không có: khả năng đi guốc trong bụng hung thủ. Khi rà lưới, cô nhận thấy mình thật sự có khả năng tưởng tượng bản thân trở thành hung thủ, tội phạm hiếp dâm, bắt cóc hoặc trộm cắp. Đó có thể là một nỗ lực nhọc nhằn và ghê rợn. Nhưng một khi có tác dụng, quy trình này đồng nghĩa với việc cô sẽ nghĩ được nhiều chỗ để khám xét tại hiện trường mà một nhân viên khám xét bình thường có thể không nghĩ ra, chính là những nơi nấp, những lộ trình ra vào ít có khả năng, những vị trí thuận lợi. Chính tại đó cô sẽ phát hiện ra các chứng cứ có nguy cơ bị chôn giấu vĩnh viễn.
Các kỹ thuật viên từ tổ Hiện trường tại Queens đã đến. Nhưng, như lúc trước, cô đang xử lý công việc sơ bộ này một mình. Người ta thường nghĩ càng có nhiều người thì việc khám xét càng kỹ lưỡng nhưng điều đó chỉ đúng trong một khu vực rộng, chẳng hạn như hiện trường nổ súng hàng loạt. Trong một hiện trường tiêu biểu, một người khám xét làm việc độc lập thì ít bị phân tâm hơn - và bởi họ nhận thức được chẳng có ai khác nhặt lại thứ họ bỏ sót, nên họ tập trung cao độ hơn hẳn. Và một sự thật về công tác khám hiện trường vụ án: Ta chỉ có duy nhất một cơ hội để tìm ra manh mối trọng yếu, không thể quay lại hiện trường để khám xét lại. Khi cô bước khắp căn hộ nơi đặt xác của Lydia Foster, bê bết máu và đầu ngả ra sau, bị cột vào ghế, Sachs nóng lòng muốn kể ngay với Rhyme mình đang thấy gì, ngửi gì, nghĩ gì. Và một lần nữa, như lúc rà lưới tại quán Java Hut, sự trống rỗng khi không thể nghe giọng anh làm tim cô buốt lạnh. Rhyme cách xa chỉ hơn nghìn cây số mà cô cảm thấy tựa như anh không còn tồn tại. Bất giác cô nghĩ về ca phẫu thuật được lên lịch trong cuối tháng. Cô không muốn nghĩ về nó, nhưng không tài nào cưỡng lại. Rủi thay anh không sống sót nổi thì sao? Cả Sachs lẫn Rhyme đều sống rất bấp bênh - lối sống tốc độ và đầy nguy hiểm của cô, tình trạng thể chất của anh. Có khả năng, có lẽ, yếu tố rủi ro này làm cuộc sống chung của hai người mãnh liệt hơn, sự nối kết giữa hai người chặt chẽ hơn. Và cô gần như luôn chấp nhận điều này. Nhưng giờ đây, khi anh đang ở xa vời vợi, còn cô đang khám xét một hiện trường đặc biệt khó khăn có liên quan
đến một hung thủ biết quá rõ về cô, cô không khỏi nghĩ rằng sự đơn chiếc vĩnh viễn luôn cách họ chỉ một tiếng súng hoặc một nhịp tim mà thôi. Kệ đi, Sachs suy nghĩ một cách gay gắt. Có khi cô còn bật ra thành tiếng. Cô không biết. Bắt tay vào việc thôi. Tuy nhiên, cô nhận ra sự thấu cảm của mình chưa chịu khởi động tại hiện trường này. Khi đi khắp các phòng, cô cảm thấy đầu óc trống rỗng. Có lẽ chẳng khác nào một nhà văn hay nghệ sĩ không dẫn dắt được nàng thơ. Ý tưởng không chịu xuất hiện. Thứ nhất, cô không biết hung thủ là kẻ quái nào. Cái thông tin mới nhất này thật rối rắm. Kẻ gây án không phải tên bắn tỉa, nhưng nhiều khả năng là một chuyên viên khác của Metzger. Nhưng là ai? Lý do còn lại mà cô chưa xâu chuỗi được chính là cô không hiểu động cơ của kẻ ẩn mặt. Nếu hắn muốn trừ khử nhân chứng và cản trở công tác điều tra, tại sao lại tra tấn nạn nhân khủng khiếp nhường này, tại sao lại thực hiện các đường dao tỉ mỉ này? Tại sao lại rạch những chỗ hắn róc da một cách ung dung như vậy? Sachs bỗng thấy bị phân tâm khi nhìn chằm chằm vào những dải thịt trên nền nhà bên dưới chỗ ghế nơi Lydia bị trói. Máu. Hắn muốn gì đây? Có lẽ nếu bây giờ Rhyme nói vào tai cô, khám hiện trường cùng cô qua sóng vô tuyến hoặc hình ảnh truyền thì có lẽ sẽ khác, biết đâu cô sẽ thấu suốt được nhiều điều. Nhưng anh không ở đây, còn cô lại không nắm bắt nổi tâm can hung thủ.
Cuộc khám xét không mất nhiều thời gian. Dù động cơ của kẻ giết Lydia Foster là gì đi nữa thì hắn cũng rất thận trọng - đeo găng cao su. Cô biết được điều này từ các nếp nhăn trong một vài chỗ máu dây ra, những chỗ hắn đã chạm vào cơ thể nạn nhân trong khi lóc da. Hắn đã thận trọng tránh bước vào chỗ máu nên không có dấu giày nào rõ rệt. Và có quét thước tĩnh điện lên nền nhà không lót thảm này cũng không lộ được dấu vân tiềm ẩn nào. Cô thu thập dấu vết, vài tờ biên nhận và giấy ghi chú Post-It, những thứ nhét đầy trong túi chiếc quần bò treo trên cửa phòng tắm. Nhưng Sachs chỉ lần ra được bấy nhiêu chứng cứ tư liệu[58] . Cô xử lý thi thể, mắt lại chú ý đến các vết thương ghê sợ, nhỏ mà chính xác, mà kẻ ẩn mặt đã để lại khi lóc da từ ngón tay của nạn nhân. Vết thương trí mạng duy nhất là vết đâm xuyên ngực. Hình như có vết thâm quanh vùng bị rạch, như thể hắn đã sờ nắn mạnh da thịt của nạn nhân để tìm một nơi đâm vào tim mà không trúng xương. Tại sao vậy? Sachs bèn gọi bộ đàm xuống cho đồng nghiệp để báo họ biết là có thể lên lầu ghi hình và chụp ảnh. Tại ngưỡng cửa, cô dừng bước, mắt liếc lại phía sau để nhìn thi thể của Lydia Foster lần cuối. Tôi xin lỗi, Lydia. Tại tôi không biết suy nghĩ! Nhẽ ra tôi phải tính đến chuyện hắn sẽ nghe trộm các máy điện thoại cố định gần quán Java Hut. Nhẽ ra tôi phải nghĩ đến khả năng có hai hung thủ. Sachs còn một suy nghĩ khác: Cô hối hận vì đã đến quá muộn để lấy thông tin mà người phụ nữ này nhẽ ra sẽ cung cấp cho cô. Các tình tiết mà cô phiên dịch viên này biết và những hồ sơ lưu cô ấy giữ
rõ ràng mang tính trọng yếu. Nếu không thì việc gì phải tra khảo cô ấy? Rồi cô xin lỗi Lydia Foster lần thứ hai, vì đã có suy nghĩ ích kỷ này. Ra ngoài, cô cởi bỏ bộ áo liền quần rồi vứt nó vào một túi đốt, bộ áo dây đầy máu của Lydia. Cô thoa nước rửa tay trên cả hai bàn tay. Kiểm tra khẩu Glock của mình. Quét mắt qua khu vực này xem có bất kỳ mối đe dọa nào không. Cô chỉ thấy một trăm cánh cửa sổ đen thui, những hẻm cụt mờ mịt, những chiếc xe tạm dừng. Mỗi chỗ như thế đều là vị trí cực kỳ thuận lợi cho kẻ ẩn mặt đứng nhắm vào cô. Sachs sắp móc bao điện thoại vào đúng chỗ thì khựng lại. Cô nghĩ ngợi: Mình thật lòng muốn nói chuyện với Rhyme. Cô nhấn nút quay số nhanh trên chiếc điện thoại trả trước mới nhất của mình, chính là số của anh. Nhưng cuộc gọi chuyển thẳng đến hộp thư thoại. Sachs tính để lại lời nhắn nhưng lại ngắt máy. Cô nhận ra mình chưa biết nói gì. Có lẽ cô chỉ muốn nói mình nhớ anh.
43 TẮC KÈ HOA Lincoln Rhyme chớp mắt. Mắt anh bỏng rát và trong miệng anh là những mùi vị trái nghịch nhau, cái ngọt lịm của dầu và cái chua gắt của hóa chất. Anh vừa tỉnh lại, kinh ngạc vì không ho sặc sụa như anh tưởng. Một chiếc mặt nạ ôxy đặt trên miệng và mũi anh. Anh đang hít từng hơi thật sâu. Cổ họng đau nên anh đoán trước đó mình đã ho rất nhiều, khi còn bất tỉnh nhân sự. Anh nhìn quanh, để ý thấy bản thân đang nằm trong khoang sau một chiếc xe cứu thương, nóng cực độ, đang đỗ trên mũi đất nơi vụ tấn công đã xảy ra, anh có thể thấy khách sạn South Cove ở đằng xa, bên kia cái vịnh ngọc lam dậy sóng. Một nhân viên y tế béo tốt có gương mặt đen tròn đang nhoài người tới, dùng một chiếc đèn pin soi mắt anh. Ông ta tháo cái mặt nạ ôxy ra để xem xét miệng, mũi Rhyme. Gương mặt người đàn ông này rất tối, không biểu lộ điều gì. Cuối cùng ông ta nói bằng ngữ điệu Mỹ, không phải giọng Anh: “Cái nước đó. Ghê lắm. Chất thải. Hóa chất. Đủ thứ. Nhưng có vẻ cũng không nặng lắm. Kích ứng. Đau không?” “Rát. Nặng. Phải.” Cứ như cái cú pháp ngắt âm của nhân viên y tế này lây nhiễm sang anh vậy. Rhyme hít sâu vào. “Nhưng làm ơn, anh phải cho tôi biết! Hai cậu đi chung với tôi? Họ…?”
“Phổi anh ta sao rồi?” Đây là câu hỏi của Thom Reston, người đang tiến đến phía sau chiếc xe cứu thương. Cậu hộ lý ho mạnh một, hai cái. Rhyme nén cơn ho của mình rồi lẩm bẩm trong sửng sốt, “Cậu… cậu không sao hả?” Thom chỉ vào mắt mình, hai con mắt đỏ ngầu. “Không có gì nghiêm trọng hết. Chẳng qua cái nước đấy đầy chất thải thôi.” Ghê lắm. Chất thải… Rhyme để ý thấy áo quần Thom ướt sũng, chi tiết này nói lên nhiều điều. Thứ nhất, cậu hộ lý là người đã cứu anh. Và, thứ hai, hai phát súng anh đã nghe là dành cho Mychal Poitier. Tôi có vợ và hai đứa con phải nuôi. Tôi yêu họ lắm… Rhyme đau lòng trước cái chết của cậu ta. Sau khi cậu hạ sĩ bị giết, hẳn Thom đã lặn xuống nước cứu Rhyme khi mấy tên tấn công bỏ trốn. Người nhân viên y tế lại nghe ngực anh. “Lạ quá. Còn tốt lắm, phổi anh đấy. Tôi thấy vết sẹo, máy thông khí, nhưng đây là sẹo cũ. Anh giỏi lắm. Anh tập luyện. Còn cánh tay phải của anh, hệ thống tay giả. Tôi đọc sách về nó rồi. Ấn tượng lắm.” Có điều không đủ ấn tượng để cứu Mychal Poitier. Người nhân viên y tế đứng dậy rồi nói, “Anh phải rửa sạch mắt với miệng. Nước. Không dùng thứ khác. Đóng chai. Ba, bốn lần một
ngày. Rồi đi khám bác sĩ riêng của anh. Khi anh về nhà. Lát tôi trở lại.” Ông ta xoay người bước đi, bàn chân lạo xạo trên cát sỏi. Rhyme nói, “Cảm ơn cậu, Thom. Cảm ơn. Cậu lại cứu mạng tôi lần nữa mà không dùng clonidine.” Chính là thuốc hạ huyết áp sau khi bị tăng phản xạ tự phát. “Tôi thử cái máy thông khí rồi.” “Tôi biết mà. Nó rối quanh cổ anh. Tôi phải gỡ nó ra. Phải chi tôi có con dao bấm của Amelia.” Rhyme thở dài. “Nhưng Mychal. Thật kinh khủng…” Thom nhấc một máy đo huyết áp lên từ giá đỡ trong chiếc xe cứu thương. Cậu đo huyết áp của Rhyme. Vừa đo, cậu vừa nhún vai. “Không nghiêm trọng lắm.” “Huyết áp hả?” “Không, Poitier ấy. Im nào. Tôi cần nghe mạch.” Rhyme chắc chắn mình đã nghe nhầm, tai anh vẫn ứ đầy nước. “Nhưng mà…” “Suỵt.” Cậu hộ lý cầm một ống nghe mượn trộm đặt lên cánh tay Rhyme. “Cậu nói…” “Im lặng!” Một chốc sau, cậu gật gù. “Huyết áp ổn.” Một cái liếc về hướng mà người nhân viên y tế vừa đi khỏi. “Không phải tôi không tin tưởng anh ta nhưng tôi chỉ muốn tự mình khám…” “Cậu nói không nghiêm trọng lắm là sao, nói Mychal hả?”
“Chậc, anh thấy rồi mà: Cậu ta bị đá, bị đánh. Nhưng cũng không nặng lắm.” “Cậu ta bị bắn mà!” “Bắn hả? Đâu có.” “Tôi nghe hai phát súng mà.” “À, ra thế.” Rhyme quát, “Cậu nói ‘ra thế’ nghĩa là sao?” Thom giải thích, “Cái thằng mặc đồ xám đã đá anh xuống nước ấy? Hắn bắn Ron.” “Pulaski hả? Trời ơi, cậu ấy có sao không?” “Cậu ấy cũng không sao.” “Cái mẹ gì xảy ra vậy?” Rhyme buột miệng. Thom cười. “Thấy anh khỏe lại vậy tôi mừng.” “Xảy ra chuyện gì?” “Ron xong việc ở South Cove nên đến đây. Anh bảo cậu ấy là chúng ta sẽ có mặt ở đây mà. Anh vừa xuống bơi là cậu ta lái xe thuê đến. Cậu ta hiểu chuyện gì đang xảy ra nên lái thẳng vào thằng cầm súng, hết tốc lực luôn. Thằng này bắn vào xe hai phát nhưng chắc hiểu ra Ron mới là chi viện đợt đầu thôi, mà khi ấy chỉ còn một đường thoát nên chúng nó nhảy vào chiếc Mercury và chiếc bán tải chuồn đi mất.” “Mychal không sao hả?”
“Thì tôi nói rồi mà.” Sự nhẹ nhõm này thật chẳng thể đo lường. Rhyme không nói gì trong một chốc khi mắt anh thu vào cảnh biển dậy sóng gần đó, một vòng cung bụi nước trong ánh dương, thấp về phía tây. “Cái xe lăn?” Thom lắc đầu. “Cái đấy thì không ổn lắm.” “Bọn khốn,” Rhyme làu bàu. Anh chẳng có cảm tình gì với thiết bị này nọ, dù là thiết bị chuyên nghiệp hay phổ thông. Nhưng thực tế, anh cảm thấy ngày càng gắn bó với chiếc xe lăn Storm Arrow bởi vì nó là một cỗ máy thật tinh xảo và anh đã nỗ lực biết bao mới điều khiển thành thạo nó. Điều khiển xe lăn là một kỹ năng thực sự. Anh căm giận lũ du côn đó. Cậu hộ lý nói tiếp, “Để tôi mượn một chiếc xe lăn của họ vậy.” Một cái liếc mắt về đội y tế. “Không chạy bằng động cơ. Mà chạy bằng tay tôi đây.” Một bóng người khác xuất hiện. “Chà, cậu tân binh cứu vãn tình thế.” “Trông anh cũng không bị nặng lắm,” Pulaski nói. “Ẩm ướt. Hình như tôi chưa bao giờ thấy anh ẩm ướt, Lincoln.” “Cậu tìm được gì ở khách sạn?” “Cũng không có thêm gì nhiều. Cô hầu bàn xác nhận gần hết những gì hạ sĩ Poitier cho ta biết. Một tên người Mỹ trông ngầu lắm hỏi về Moreno và dãy phòng 1200. Hắn nói mình là một người bạn và đang tính tổ chức tiệc mừng cho anh ta. Muốn biết ai đi cùng anh
ta, lịch làm việc như thế nào, người bạn kia là ai - tôi nghĩ chắc ý hắn là người vệ sĩ.” “Tiệc,” Rhyme hừ một tiếng rồi nhìn quanh xe cứu thương. Ông nhân viên y tế trở lại cùng những hộ lý vạm vỡ, một trong số đó đang đẩy một chiếc xe lăn cũ nát. Rhyme hỏi, “Anh có rượu brandy hay gì không?” “Brandy?” “Rượu thuốc brandy.” “Rượu thuốc brandy?” Gương mặt to bè của người đàn ông nhíu lại thành một cái chau mày. “Xem nào. Tôi nghĩ bác sĩ dưới này lâu lâu cũng dùng thứ đấy - vì là một hòn đảo thuộc thế giới thứ ba mà. Tôi sợ là đã lỡ mất lớp này tại Đại học Maryland