Chương mười hai. Về giấy.” Sachs đi xuống mép nước, xem xét chiếc thuyền nhỏ. Cô không tìm thấy gì. Rồi cô hỏi: “Jesse, anh có thể chèo thuyền đưa tôi sang bên kia được chứ?” Anh ta, tất nhiên, còn hơn cả mừng rỡ. Và cô tự hỏi liệu bao lâu nữa thì anh ta sẽ đưa ra lời đề nghị đi uống cà phê lần đầu tiên. Chẳng được mời, Lucy cũng trèo vào xuồng và họ đẩy cho nó rời khỏi bờ. Ba người lặng lẽ chèo sang bên kia sông, dòng nước dập dềnh sóng một cách đáng ngạc nhiên. Trên bờ bên kia, Sachs tìm thấy các dấu chân trên bùn: giày của Lydia - giày vải y tá đế mịn. Và dấu chân Garrett - một chân đi đất, một chân đi chiếc giày chạy mà cô đã biết kiểu đế. Cô đi theo các dấu chân vào rừng. Chúng dẫn đến cái chòi săn nơi Ed Schaeffer bị ong bắp cày đốt. Sachs dừng lại, vô cùng thất vọng. Chuyện quái quỷ gì đã xảy ra ở đây vậy? “Lạy Chúa, Rhyme, trông giống như người ta đã quét hiện trường.” Các đối tượng tội phạm hay sử dụng chổi hoặc thậm chí cành lá để phá hủy hoặc làm lộn xộn chứng cứ tại nơi gây án. Nhưng Jesse Corn nói: “Ồ, đó là do chiếc cánh quạt”. “Máy bay trực thăng ấy à?”, Sachs hỏi, điếng cả người. “Chà, phải. Chiếc Medevac - để đưa Ed Schaeffer đi.” “Nhưng gió hút từ những cánh quạt đã làm hỏng hiện trường”, Sachs nói. “Quy trình chuẩn là chuyển nạn nhân bị thương sang chỗ khác rồi mới đáp máy bay xuống.” “Quy trình chuẩn?” Lucy Kerr hỏi, giọng khó chịu. “Xin lỗi, nhưng chúng tôi hơi lo lắng cho Ed. Phải cố gắng cứu sống ông ấy, cô biết
đấy.” Sachs chẳng đáp lời. Cô từ từ khẽ khàng bước vào chòi sao cho không làm xáo động hàng chục con ong bắp cày đang lượn xung quanh cái tổ vỡ. Tuy nhiên, tấm bản đồ hay bất cứ manh mối nào mà cảnh sát Schaeffer nhìn thấy bên trong bây giờ đã biến mất và gió từ chiếc máy bay trực thăng đã thổi tung lớp đất bề mặt tới nỗi thậm chí nếu lấy mẫu đất cũng sẽ là vô ích thôi. “Chúng ta hãy trở về la-bô.” Sachs bảo Lucy và Jesse. Khi họ đang quay lại bờ sông thì có tiếng loạt soạt đằng sau lưng cô và một gã đàn ông khổng lồ bước ra từ đám cây bụi rậm rạp mọc xung quanh cụm liễu đen, khuềnh khoàng tiến đến phía họ. Jesse Corn chưa kịp rút vũ khí thì Sachs đã rút khẩu Smittie được cho mượn ra khỏi bao, lên cò và chĩa súng vào ngực kẻ vừa đột ngột xuất hiện. Gã đứng sững, giơ hai bàn tay về phía trước, chớp mắt ngạc nhiên. Gã có râu quai nón, cao và to béo, tóc tết. Quần bò, áo phông xám, gi lê bò. Giày cao cổ. Ở gã có cái gì đó quen quen. Sachs đã trông thấy gã ở đâu nhỉ? Jesse phải nhắc tên gã thì cô mới nhớ ra. “Rich.” Một trong ba gã lúc trước họ gặp bên ngoài trụ sở chính quyền quận. Rich Culbeau - Sachs nhớ cái họ đặc biệt. Sachs cũng nhớ gã và hai gã bạn đã liếc nhìn thân hình cô với sự đểu cáng ngấm ngầm và liếc nhìn Thom với vẻ khinh miệt. Vì thế mà cô chĩa khẩu súng lục vào gã lâu hơn một chút. Rồi cô chầm chậm chúc khẩu súng xuống đất, và đút lại vào bao. “Xin lỗi”, Culbeau nói. “Tôi không định làm ai hoảng sợ cả. Ê, Jesse.” “Đây là hiện trường một vụ án”, Sachs nhắc nhở. Qua bộ tai nghe, cô nghe thấy tiếng Rhyme: “Ai đấy?”. Sachs quay đi, thì thầm vào micro: “Một trong những nhân vật bước ra từ bộ phim Giải thoát[17] mà chúng ta gặp sáng hôm nay.” “Chúng tôi đang làm việc ở đây, Rich”, Lucy nói. “Anh không thể gây cản trở cho chúng tôi.” “Tôi không định gây cản trở cho các cô”, Cullbeau nói chuyển sang nhìn chằm chằm vào rừng. “Nhưng tôi có quyền thử vận may
với một nghìn ấy giống như tất cả những người khác. Các cô làm sao yêu cầu tôi ngừng tìm kiếm được.” “Một nghìn nào?” “Chết tiệt.” Sachs buột thốt vào micro. “Người ta treo một giải thưởng, Rhyme.” “Ồ, không. Đó là thứ cuối cùng chúng ta cần.” Trong số các yếu tố chính làm hỏng hiện trường vụ án và gây cản trở cho việc điều tra thì giải thưởng và những kẻ thích tìm kiếm vật lưu niệm là tệ hại nhất. Culbeau giải thích: “Bà mẹ Mary Beth treo giải thưởng này. Bà ta có tiền và tôi cá là đến xẩm tối, nêu cô con gái vẫn chưa trở về, bà ta sẽ treo giải hai nghìn. Có khi còn cao hơn.” Rồi anh ta lại nhìn Sachs. “Tôi sẽ không gây bất cứ phiền phức nào, thưa cô. Cô chẳng phải người ở đây, cô nhìn tôi và nghĩ tôi đích thị là kẻ vô tích sự - tôi đã nghe thấy cô nói cái tên Giải thoát vào chiếc bộ đàm đáng yêu kia của cô. Dù sao, tôi cũng ưa cuốn sách hơn bộ phim. Cô đã đọc chưa? Chà, chẳng thành vấn đề. Có điều đừng căn cứ quá nhiều vào hình thức để đánh giá. Jesse, hãy nói cho cô ta biết ai đã cứu đứa con gái bị mất tích trong đầm lầy Sầu Thảm năm ngoái. Ai mà tất cả mọi người đều biết là đã xông pha vào chốn rắn rết, muỗi mòng và khiến toàn quận thương xót.” Jesse nói: “Rich và Harris Tomel đã tìm được cô bé. Bị mất tích ba ngày trong đầm lầy. Nếu không có họ, cô bé chắc chết.” “Chủ yếu là tôi”, Culbeau lẩm bẩm. “Harris có bao giờ thích giày bị bẩn.” “Anh đã làm một việc tốt”, Sachs nói bằng giọng thiếu thân mật. “Tôi chỉ muốn chắc chắn rằng anh không khiến chúng tôi mất cơ hội tìm thấy hai cô gái.” “Điều đó sẽ không xảy ra. Không có lý do gì để cô ném tất cả tro vào mặt tôi.” Cullbeau quay người và khuềnh khoàng bước đi. “Tro?” “Nghĩa là giận dữ ấy, cô biết chứ hả.” Sachs nói với Rhyme về vụ đụng độ. Anh gạt đi. “Chúng ta đâu có thời gian mà lo lắng về những người địa phương, Sachs. Chúng ta phải lần theo dấu vết. Và phải
lần theo một cách nhanh chóng. Hãy trở về đây, với các thứ em đã tìm thấy.” Trong lúc họ ngồi trên thuyền quay lại kênh, Sachs hỏi. “Anh ta sẽ gây rắc rối chừng nào?” “Culbeau ấy à?” Lucy đáp lời. “Anh ta là kẻ rất lười biếng. Hút ma túy và uống quá nhiều rượu, nhưng anh ta chưa bao giờ để xảy ra chuyện gì tệ hại hơn chuyện quại vỡ hàm ai đó ở chốn công cộng. Chúng tôi nghĩ anh ta chỉ loanh quanh tìm kiếm chỗ nào đấy thôi và thậm chí với một nghìn đô la tiền thưởng, tôi không thể tưởng tượng anh ta lại đạt được kết quả gì.” “Anh ta và hai người bạn thân làm gì?” Jesse hỏi: “Ồ, chị cũng trông thấy họ rồi à? Chà, Sean - anh chàng gầy giơ xương ấy - và Rich, họ không có cái mà chị gọi là nghề nghiệp thực thụ đâu. Bới rác và làm thuê theo ngày. Harris Tomel từng học đại học - dù sao cũng vài ba năm. Anh ta luôn cố gắng mua một cơ sở kinh doanh hay hùn hạp gì đó. Tôi chưa bao giờ nghe nói có việc nào đem lại nhiều tiền. Nhưng bộ ba này thuộc loại rủng rỉnh và như thế tức là họ dính dáng đến rượu lậu.” “Rượu lậu? Các anh không bắt họ sao?” Jesse nói, sau một chút im lặng: “Đôi khi, ở đây, người ta không ngại sờ tới những thành phần phức tạp. Đôi khi người ta lại ngại.” Đây là một triết lý về thực thi pháp luật mà, Sachs biết, hầu như chẳng giới hạn riêng cho miền Nam. Họ cập lại bờ phía nam con sông, bên cạnh hiện trường vụ án, và Sachs trèo được khỏi thuyền trước khi Jesse kịp chìa bàn tay ra - dù sao anh ta cũng vẫn chìa ra. Một hình dáng khổng lồ, tối thẫm bỗng dưng xuất hiện trong tầm nhìn. Chiếc xà lan đen sì, dài bốn mươi feet, từ từ trôi xuôi dòng kênh, vượt qua họ và đi ra sông. Sachs đọc được hàng chữ trên thành: CÔNG TY DAVETT. Sachs hỏi: “Công ty gì thế?” Lucy trả lời: “Một công ty không thuộc thị trấn này. Họ vận chuyển hàng hóa ra hệ thống đường thủy ven biển xuyên kênh đào đầm lầy Sầu Thảm và vào Norfolk. Nhựa đường, giấy dầu, đại loại vậy.”
Rhyme nghe được điều này qua bộ đàm và nói: “Hãy hỏi xem có chuyến hàng hóa nào xung quanh thời điểm xảy ra vụ giết người không. Lấy tên của đội chạy xà lan.” Sachs nói lại với Lucy, nhưng cô bảo: “Tôi làm việc đó rồi. Một trong những bước đầu tiên mà Jim và tôi tiến hành.” Cô trả lời giọng nhát gừng. “Không có chuyến hàng nào. Nếu cô quan tâm, xin bổ sung thêm rằng chúng tôi cũng đã gặp tất cả những người ở thị trấn bình thường vẫn đi lại dọc đường Kênh Đào và đường 112. Chẳng đạt được kết quả gì.” “Một cách hay đấy”, Sachs bình luận. “Chỉ là quy trình chuẩn thôi.” Lucy lãnh đạm nói, rồi sải bước về xe của mình giống như một nữ sinh vụng về ở trường trung học rốt cuộc đã hất được cả xô nước lạnh vào đội trưởng hoạt náo viên.
T CHƯƠNG BẢY ôi sẽ không cho anh ấy làm bất cứ việc gì cho đến khi các vị chưa đưa được một máy điều hòa nhiệt độ đến đây.” “Thom, chúng ta không có thời gian cho chuyện này đâu”, Rhyme quát. Rồi anh chỉ chỗ để người công nhân tháo dỡ các thiết bị vừa được chở từ cơ quan cảnh sát bang tới. Bell nói: “Steve đã ra ngoài lùng một cái. Không dễ dàng như tôi tưởng.” “Tôi chẳng cần đâu.” Thom kiên nhẫn giải thích: “Tôi lo sợ tình trạng tăng phản xạ tự phát.” “Thom, tôi không nhớ mình đã nghe nói rằng nhiệt độ cao sẽ ảnh hưởng xấu tới huyết áp”, Rhyme đáp lời. “Cậu đã đọc ở đâu à? Tôi thì chưa đọc ở đâu cả. Có thể cậu sẽ chỉ được cho tôi là cậu đã đọc nó ở đâu.” “Tôi không cần sự mỉa mai của anh, Lincoln.” “Ồ, tôi đang mỉa mai đấy ư?” Anh chàng phụ tá kiên nhẫn nói với Bell: “Cái nóng khiến cho mô phình ra. Mô phình ra dẫn đến tăng huyết áp, đồng thời tăng cảm giác cáu bẳn. Và cái đó có thể dẫn đến tăng phản xạ tự phát, tình trạng có thể giết chết anh ấy. Chúng tôi cần một máy điều hòa nhiệt độ. Đơn giản thế thôi.” Thom là người phụ tá điều dưỡng duy nhất trụ lại được sau vài tháng đầu tiên phục vụ nhà hình sự học. Những người khác hoặc là tự bỏ việc hoặc là bị đuổi thẳng. “Cắm cái kia vào”, Rhyme ra lệnh cho một cảnh sát đang đẩy chiếc máy tách hợp chất gắn bánh xe vào góc phòng. “Không.” Thom bắt chéo hai cánh tay và đứng trước đoạn dây điện được kéo ra. Viên cảnh sát trông thấy vẻ mặt anh chàng phụ tá và băn khoăn dừng lại, không chuẩn bị tinh thần đối đầu với người thanh niên kiên định này. “Khi nào có máy điều hòa... khi đó chúng ta sẽ cắm cái kia vào.”
“Lạy Chúa.” Rhyme nhăn nhó. Một trong những điều đáng chán nhất của tình trạng liệt tứ chi là không thể xả nỗi tức giận. Sau khi bị tai nạn, Rhyme nhanh chóng nhận ra rằng bằng hành động đơn giản như đi đi lại lại hay nắm chặt bàn tay - chứ chưa kể việc vớ lấy các vật nặng mà ném (thú giải trí của Blaine, vợ cũ của Rhyme) - người ta sẽ làm tiêu tan được các cơn thịnh nộ. “Nếu tôi tức giận tôi có thể bị chuột rút hoặc co cơ”, Rhyme nêu vấn đề một cách bực bội. “Các điều đó sẽ không giết chết anh - như tình trạng tăng phản xạ tự phát.” Thom nói với sự vui vẻ đầy mưu lược, khiến Rhyme cáu tiết thêm. Bell nhiệt tình bảo: “Cho tôi năm phút”. Anh ta biến mất và đám nhân viên tiếp tục đẩy các thiết bị vào. Thiết bị tách hợp chất chưa được cắm điện mất một lúc. Lincoln Rhyme xem xét đống máy móc. Lòng tự hỏi sẽ như thế nào khi những ngón tay anh lại thực sự nắm lấy các vật. Anh có thể động chạm bằng ngón đeo nhẫn bên trái và mơ hồ cảm thấy sự động chạm. Nhưng thực sự nắm lấy cái gì đó, cảm nhận bề mặt của nó, trọng lượng, nhiệt độ… tất cả đều vượt quá sức tưởng tượng. Terry Dobyns, bác sĩ trị liệu của Sở Cảnh sát New York người ngồi bên canh giường Rhyme khi anh tỉnh lại sau tai nạn xảy ra tại một hiện trường vụ án biến anh thành bệnh nhân liệt tứ chi, đã giải thích với nhà hình sự học tất cả các cung bậc mà thiên hạ vốn vẫn mô tả về nỗi đau khổ. Rhyme chắc chắn anh đã trải qua - và đã vượt qua - tất cả những cung bậc đó. Nhưng điều người bác sĩ không nói cho anh biết là có những cung bậc sẽ lén trở về. Rằng anh mang chúng trong mình như mang virus gây buồn ngủ vậy, và rằng chúng có thể bùng lên bất cứ lúc nào. Vài năm vừa qua, Rhyme đã trải nghiệm lần nữa cảm giác tuyệt vọng và muốn phủ nhận thực tế. Bây giờ, nỗi tức giận xâm chiếm anh. Sao, ở đây, hai cô gái trẻ bị bắt cóc và một kẻ sát nhân đang chạy trốn. Anh muốn biết chừng nào được ào ra hiện trường vụ án, đi ngang, đi dọc, nhặt từ dưới đất lên những chứng cứ khó xác định, chăm chăm quan sát chúng qua các lớp thấu kính đắt tiền của một kính hiển vi kép, đấm xuống bàn phím máy vi tính và các nút điều khiển trên các thiết bị khác, đi tới đi lui trong lúc rút ra kết luận.
Anh muốn được bắt đầu công việc mà không phải lo lắng rằng cái nóng kinh khủng này sẽ giết chết anh. Anh lại nghĩ tới đôi bàn tay kỳ diệu của Tiến sĩ Weaver, tới cuộc phẫu thuật. “Anh im lặng”, Thom thận trọng nói. “Anh đang âm mưu gì đấy?” “Tôi chẳng âm mưu gì cả. Xin cậu cắm cái máy tách hợp chất và bật nó lên hộ. Cần có thời gian làm nóng nó.” Thom lưỡng lự rồi bước tới chỗ cái máy, khởi động nó. Anh đặt số thiết bị còn lại lên một chiếc bàn bằng gỗ ép công nghiệp. Steve Farr bước vào văn phòng, lôi theo chiếc máy điều hòa nhiệt độ hiệu Carrier to tổ chảng. Viên cảnh sát rõ ràng vừa cao lớn vừa khỏe mạnh và dấu hiệu duy nhất cho thấy anh ta phải nỗ lực là màu đỏ trên đôi tai vểnh ra. Anh ta hổn hển nói: “Đánh cắp nó từ bộ phận Quy hoạch và phân vùng. Chúng tôi vốn chẳng ưa bọn họ cho lắm.” Bell giúp đỡ Farr gắn chiếc máy điều hòa lên khung cửa sổ và lát sau thì khí lạnh được xình xịch đưa vào căn phòng. Một dáng người xuất hiện ở khuông cửa - thực tế anh ta choán kín khuông cửa. Một thanh niên khoảng hơn hai mươi tuổi. Vai ngang, trán dô. Cao sáu feet, nặng ngót nghét ba trăm pound. Trong một thoáng chốc gay go, Rhyme nghĩ đây có lẽ là bà con gì đó của Garrett đến để đe dọa họ. Nhung bằng chất giọng cao, rụt rè, anh ta nói: “Tôi, Ben đây ạ.” Ba người đàn ông nhìn anh ta chằm chằm, còn anh ta thì băn khoăn liếc qua đôi chân và chiếc xe lăn của Rhyme. Bell hỏi: “Anh cần gì?” “Ồ, tôi tìm ông Bell.” “Tôi là Cảnh sát trưởng Bell đây.” Ánh mắt vẫn bối rối quan sát đôi chân Rhyme. Rồi anh ta nhanh chóng liếc qua chỗ khác, hắng giọng và nuốt nước bọt. “À, ờ, thì… Tôi là cháu dì Lucy Kerr ạ?” Anh ta dường như đặt câu hỏi hơn là đưa ra câu khẳng định. “À, trợ lý khám nghiệm của tôi!”, Rhyme nói. “Tuyệt vời! Vừa kịp.” Lại liếc nhìn đôi chân, chiếc xe lăn. “Dì Lucy không nói...” Tiếp theo là gì đây? Rhyme tự hỏi. “Không nói về việc khám nghiệm”, Ben lí nhí. “Tôi chỉ là sinh viên cao học tại Đại học Tổng hợp Bắc Carolina ở Avery. Ừm, thưa ông,
ông muốn nói gì ạ, ‘vừa kịp’?” Câu hỏi Rhyme nhưng Ben lại nhìn viên cảnh sát trưởng. “Tôi muốn nói: hãy đến chỗ chiếc bàn kia. Tôi sẽ có các mẫu được đưa tới bất cứ lúc nào và cậu phải giúp đỡ tôi phân tích chúng.” “Các mẫu... Được rồi. Sẽ là loại cá nào ạ?”, Ben hỏi Bell. “Cá à?”, Rhyme đáp lại. “Cá à?” “Thưa ông, gì thế ạ?”, chàng thanh niên to lớn nói nhẹ nhàng, vẫn nhìn Bell. “Tôi hân hạnh được giúp đỡ ông, nhung tôi phải thú thực với ông rằng tôi có rất ít kinh nghiệm.” “Chúng ta không nói về cá. Chúng ta đang nói về các mẫu khám nghiệm hiện trường! Cậu nghĩ sao?” “Khám nghiệm hiện trường? Chà, tôi không biết trước”, Ben bảo viên cảnh sát trưởng. “Cậu có thể nói chuyện với tôi”, Rhyme nghiêm khắc chấn chỉnh. Mặt chàng thanh niên bừng đỏ và anh ta không chớp mắt. Đầu anh ta dường như run run khi anh ta bắt buộc mình nhìn Rhyme. “Tôi chỉ... Ý tôi là, ông ấy là cảnh sát trưởng.” Bell nói: “Nhưng ông Lincoln đây sẽ giải quyết vụ việc. Ông ấy là chuyên gia về khám nghiệm đến từ New York. Ông ấy đang giúp đỡ chúng tôi.” “Vâng.” Ánh mắt đặt vào chiếc xe lăn, đặt vào đôi chân Rhyme, đặt vào cái ống điều khiển. Rồi trở về chốn an toàn là sàn nhà. Rhyme đi đến kết luận là anh ghét tay thanh niên này, hắn cư xử như thể anh thuộc loại quái dị nhất trong số những kẻ quái dị biểu diễn ở rạp xiếc vậy. Và phần nào anh ghét cả Amelia Sachs - vì đã gây ra toàn bộ sự chuyển hướng này, kéo anh ra khỏi các tế bào của cá mập và đôi bàn tay của Tiến sĩ Weaver. “Chà, thưa ông...” “Cứ gọi Lincoln là được rồi.” “Vấn đề là tôi chuyên về động vật học xã hội, các loài sống dưới biển.” “Là thế nào?”, Lincoln sốt ruột hỏi. “Nói một cách cơ bản, đó là khoa học nghiên cứu hành vi của các loài động vật sống dưới biển.”
Ồ, tuyệt vời, Rhyme nghĩ. Tôi không chỉ kiếm được một trợ lý sợ người què quặt mà còn kiếm được một trợ lý là bác sĩ tâm thần cho cá mú nữa. “Ờ, chẳng thành vấn đề. Cậu là một nhà khoa học. Nguyên lý là nguyên lý. Quy tắc là quy tắc. Cậu từng sử dụng máy tách hợp chất bao giờ chưa?” “Rồi, thưa ông.” “Kính hiển vi kép và kính hiển vi đối chiếu thì sao?” Một cái gật đầu tuy không được quả quyết như Rhyme mong muốn. “Nhưng...” Ánh mắt thoáng nhìn sang Bell rồi lại ngoan ngoãn hướng về phía Rhyme. “Dì Lucy chỉ bảo tôi ghé qua. Tôi không biết ý dì là tôi được đề nghị giúp đỡ giải quyết một vụ án... Tôi không thực sự chắc chắn... Tôi muốn nói, tôi có giờ học...” “Ben, cậu phải giúp đỡ chúng tôi”, Rhyme nói cộc cằn. Viên cảnh sát trưởng giải thích: “Garrett Hanlon.” Cái tên đã ở đâu đó trong cái đầu to tướng của Ben. “Ồ, thằng nhãi ở Bến tàu kênh Nước đen.” Viên cảnh sát trưởng kể ra hai vụ bắt cóc và việc Ed Schaeffer bị ong bắp cày tấn công. “Ôi, tôi lấy làm tiếc về chuyện của Ed”, Ben nói. “Tôi đã gặp ông ấy một lần ở nhà dì Lucy và...” “Bởi vậy chúng tôi cần cậu”, Rhyme nói, cố gắng lái cuộc đối thoại trở về chủ đề chính. “Chúng tôi chưa có manh mối nào về nơi hắn đưa Lydia đến”, viên cảnh sát trưởng tiếp tục. “Và chúng tôi hầu như chẳng còn thời gian cứu hai cô gái. Và, ờ, như cậu thấy đấy - ông Rhyme, ông ấy cần người giúp đỡ.” “Chà...” Ánh mắt đưa sang, nhưng không nhìn thẳng vào Rhyme. “Chỉ là tôi sắp sửa có bài kiểm tra. Tôi đang đi học mà, thế thôi. Như tôi đã nói đấy.” Rhyme kiên nhẫn giải thích: “Chúng tôi thực sự không còn sự lựa chọn khác ở đây, Ben. Garrett đi trước chúng tôi ba tiếng đồng hồ và hắn có thể giết một trong hai nạn nhân bất cứ lúc nào nếu hắn chưa giết”. Nhà động vật học nhìn khắp căn phòng bụi bặm tìm kiếm sự cứu vớt, nhưng bất thành. “Tôi nghĩ là tôi có thể ở lại đây một lúc.”
“Cảm ơn cậu”, Rhyme nói. Anh thổi vào ống điều khiển và lượn tới chỗ chiếc bàn đặt các thiết bị. Anh dừng lại, xem xét chúng. Anh nhìn qua Ben. “Bây giờ, nếu cậu có thể thay cái ống thông hộ tôi, chúng ta sẽ bắt tay vào việc.” Anh chàng to lớn trông hoảng hốt. Anh ta thì thào: “Ông muốn tôi...” “Đùa đấy”, Thom nói. Nhưng Ben không hề mỉm cười. Anh ta chỉ lo lắng gật đầu và, với sự duyên dáng của một chú bò rừng, bước tới chỗ chiếc máy tách hợp chất bắt đầu nghiên cứu bảng điều khiển. Sachs đi như chạy vào la-bô vừa được tạm thời bố trí trong trụ sở chính quyền quận. Jesse Corn bám sát cô. Thong thả hơn, Lucy Kerr vào sau họ một chút. Cô chào cháu mình, rồi giới thiệu anh chàng to lớn với Sachs với Jesse. Sachs giơ lên một lô túi. “Đây là chứng cứ từ phòng riêng của Garrett”, cô nói, rồi giơ lên một lô túi khác. “Đây là chứng cứ từ Bến tàu kênh Nước đen - hiện trường trực tiếp.” Rhyme nhìn những cái túi, nhưng nhìn với vẻ nản lòng. Không chỉ vì có quá ít vật chứng, mà còn vì anh lại lo lắng bởi ý nghĩ đã đến với anh lúc trước: anh phải phân tích các manh mối dựa vào hiểu biết về khu vực hiện trường do người khác nói lại. Như cá trên cạn... Rhyme nảy ra một ý nghĩ. “Ben, cậu sống ở đây bao lâu rồi?”, nhà hình sự học hỏi. “Từ khi ra đời, thưa ông.” “Tốt. Toàn bộ khu vực có bang này được gọi là gì?” Ben hắng giọng. “Tôi nghĩ là Vùng Đồng bằng Duyên hải Phía bắc.” “Cậu có bạn bè nào làm về địa chất mà chuyên nghiên cứu khu vực này không? Chuyên gia vẽ bản đồ? Chuyên gia tự nhiên học?” “Không. Toàn những người nghiên cứu sinh vật biển.” “Rhyme”, Sachs nói. “Khi bọn em ở Bến tàu kênh Nước đen, em trông thấy cái xà lan ấy, anh nhớ chứ? Nó chở nhựa đường hay giấy dầu từ một nhà máy ở gần đây.” “Công ty Henry Davett”, Lucy bổ sung.
Sachs hỏi: “Liệu nhân viên của họ có người chuyên nghiên cứu địa chất không?” “Tôi không biết”, Bell trả lời. “Nhưng Davett, ông ấy là kỹ sư và đã sống ở đây nhiều năm rồi. Chắc ông ấy biết về khu vực này chẳng kém ai đâu.” “Anh gọi điện cho ông ấy nhé?” “Xin yên trí chờ.” Bell biến mất. Lát sau anh ta quay lại. “Tôi nói chuyện được với Davett rồi. Trong đội ngũ nhân viên không có ai chuyên nghiên cứu địa chất, nhưng ông ấy bảo ông ấy có thể giúp. Nửa tiếng nữa ông ấy tới.” Rồi viên cảnh sát trưởng hỏi: “Vậy, Lincoln, anh muốn tiến hành truy đuổi như thế nào?” “Tôi sẽ ở đây, cùng anh và Ben. Chúng ta sẽ xem xét các chứng cứ. Tôi muốn một đội tìm kiếm nhỏ được bố trí ở khu vực Bến tàu kênh Nước đen ngay bây giờ - ở địa điểm Jesse trông thấy Garrett và Lydia biến mất. Tôi sẽ hướng dẫn họ hết mức có thể, tùy thuộc vào manh mối từ chỗ chứng cứ này.” “Anh muốn ai tham gia đội tìm kiếm?” “Sachs phụ trách”, Rhyme nói. “Cùng với Lucy.” Bell gật đầu và Rhyme để ý thấy Lucy không có phản ứng gì trước ý kiến về dây chuyền chỉ huy đó. “Tôi xung phong đi”, Jesse nói nhanh. Bell nhìn Rhyme, anh gật đầu. Rồi bảo: “Có lẽ thêm một người nữa”. “Bốn người? Tất cả thế thôi à?”, Bell chau mày hỏi. “Rõ khỉ, tôi có thể tìm được hàng chục người xung phong.” “Không, trong một vụ như thế này càng ít người càng tốt.” “Ai là người thứ tư?”, Lucy hỏi. “Mason Germain à?” Rhyme nhìn ra cửa, không thấy ai ở ngoài. Anh hạ giọng: “Câu chuyện về Mason là thế nào? Anh ta đã có tiền sử gì đó. Tôi vốn chẳng ưa đám cảnh sát đã có tiền sử này nọ. Tôi ưa những tờ giấy trắng.” Bell nhún vai. “Anh chàng đó từng thiếu may mắn trong cuộc đời. Anh ta lớn lên ở phía bắc sông Paquo - khu vực cặn bã của quận. Cha anh ta đã thử đôi ba vụ làm ăn và rồi bắt đầu buôn rượu lậu. Khi bị nhân viên thu thuế tóm cổ, ông ta tự tử. Mason tự mình đi lên từ chỗ rác rưởi. Ở đây người ta có câu - nghèo mà sĩ. Đó là Mason.
Anh ta lúc nào cũng than vãn rằng mình bị cản trở, không đạt được mong muốn. Anh ta thuộc loại tham vọng, sống ở một thị trấn vốn chẳng cần đến sự tham vọng.” Rhyme nhận xét: “Và anh ta đang tìm dịp tấn công Garrett.” “Anh đúng đấy.” “Tại sao?” “Mason đã khẩn khoản xin được làm điều tra viên chính trong vụ án mà chúng tôi đã kể cho anh nghe - cô gái ở Bến tàu kênh Nước đen bị ong đốt chết ấy. Meg Blanchard. Thú thực thì, anh biết đấy, tôi nghĩ nạn nhân có quan hệ như thế nào đó với Mason. Có thể họ đang hẹn hò. Có thể là một kiểu khác - tôi không biết. Nhưng anh ta rất muốn tóm cổ Garrett. Có điều anh ta đã chẳng thể buộc tội hắn được. Khi người cảnh sát trưởng cũ nghỉ hưu, Ban Giám thị có những đánh giá không tốt về anh ta. Rốt cuộc họ giao cho tôi chức vụ này - tuy anh ta nhiều tuổi hơn tôi và vào lực lượng sớm hơn tôi.” Rhyme lắc đầu. “Trong một vụ như thế này, chúng ta không cần những người bốc đồng. Hãy chọn người khác.” “Ned Spoto?”, Lucy gợi ý. Bell nhún vai. “Anh ta là người tốt. Chắc chắn rồi. Có thể bắn cừ đấy, nhưng anh ta cũng sẽ chẳng bắn trừ phi dứt khoát phải nhả đạn.” Rhyme nói: “Hãy đảm bảo rằng Mason không có mặt gần địa điểm tìm kiếm”. “Anh ta sẽ khó chịu đấy.” “Đấy chẳng phải chuyện cần quan tâm”, Rhyme đáp lời. “Giao việc gì đó cho anh ta làm. Việc gì đó nghe có vẻ quan trọng.” “Tôi sẽ cố gắng hết sức”, Bell nói ngập ngừng. Steve Farr thò đầu vào. “Vừa gọi điện đến bệnh viện’’ anh ta thông báo. “Ed vẫn trong tình trạng nguy kịch.” “Ông ấy có nói gì không? Về tấm bản đồ ông ấy trông thấy?” “Không nói gì. Vẫn hôn mê.” Rhyme quay sang Sachs. “Được rồi... Bắt đầu đi. Dừng lại tại nơi mất dấu vết ở Bến tàu kênh Nước đen và chờ thông tin từ tôi.” Lucy ngập ngừng nhìn các túi đựng chứng cứ. “Anh thực sự nghĩ đây là cách để tìm thấy hai cô gái kia?” “Tôi biết như vậy”, Rhyme trả lời ngắn gọn.
Lucy hoài nghi nói: “Đối với tôi nó có vẻ hơi quá giống trò ảo thuật.” Rhyme cười thành tiếng. “Ồ, chính xác là thế. Sự biến hóa của đôi bàn tay, lôi ra khỏi mũ những con thỏ. Nhưng hãy nhớ rằng ảo tưởng vốn vẫn dựa trên... dựa trên cái gì, Ben?” Anh chàng to lớn hắng giọng, đỏ mặt và lắc đầu. “Ừm, tôi không rõ ông muốn nói gì, thưa ông.” “Ảo tưởng vốn vẫn dựa trên khoa học. Là nó đấy.” Liếc nhìn sang Sachs. “Anh sẽ gọi cho em ngay sau khi phát hiện được điều gì.” Hai người phụ nữ và Jesse Corn rời khỏi căn phòng. Và thế là, với số chứng cứ quý giá dàn trước mặt anh, các thiết bị quen thuộc đã được khởi động, tình hình chính trị trong nước bị gạt bỏ, Lincoln Rhyme từ từ ngả đầu vào cái tựa đầu của xe lăn, nhìn chằm chằm những chiếc túi Sachs đưa cho anh - sẵn sàng, hay bắt buộc, hay có thể chỉ là cho phép tâm trí đi lang thang đến nơi mà đôi chân anh không đến được, cho phép tâm trí chạm tới cái mà bàn tay anh không chạm tới được.
M CHƯƠNG TÁM ột nhóm cảnh sát đi ngang qua. Đứng tựa vào bức tường hành lang bên cạnh cánh cửa dẫn đến các ngăn làm việc của nhân viên văn phòng cảnh sát trưởng, hai tay khoanh trước ngực, Mason Germain chỉ nghe được giọng họ. “Làm sao chúng ta lại có thể cứ ngồi đây mà chẳng hành động gì cả?” “Không, không, không... Cậu chưa nghe à? Jim đã cử một đội tìm kiếm.” “Thế hả? Chưa, tớ chưa nghe gì về việc đó cả.” Mẹ kiếp, Mason nghĩ. Anh ta cũng chưa nghe gì về việc đó. “Lucy, Ned và Jesse. Và cái cô nàng cảnh sát đến từ Washington ấy.” “Không phải, New York chứ. Cậu thấy tóc cô nàng không?” “Tớ chẳng quan tâm đến tóc cô nàng. Chuyện tớ quan tâm là tìm thấy Mary Beth và Lydia.” “Tớ cũng vậy. Tớ chỉ đang nói…” Bụng Mason thêm thắt lại. Bọn họ cử có bốn người lần theo dấu vết Thằng Bọ thôi sao? Bell có điên không đấy? Mason chạy bổ về phía đầu hành lang, định tới phòng làm việc của cảnh sát trưởng, và suýt nữa thì đâm sầm vào chính Bell khi anh ta vừa bước ra khỏi kho chứa đồ - bây giờ được dành cho cái tay kỳ dị, cái tay phải ngồi xe lăn. Bell liếc nhìn viên cảnh sát - nhiều tuổi hơn mình với cái chớp mắt ngạc nhiên. “Này, Mason... Tôi đang tìm anh.” Bell trông không diễn quá, dù sao thì cũng không có vẻ như vậy. “Tôi muốn anh đến chỗ Rich Culbeau.” “Culbeau? Để làm gì?” “Sue McConnell đang treo thưởng hoặc đại loại như vậy cho người nào tìm thấy Mary Beth và anh ta muốn giành được số tiền thưởng này. Chúng ta không cần anh ta phá đám cuộc truy lùng. Tôi
đề nghị anh để mắt đến anh ta. Nếu anh ta đang vắng nhà thì hãy đợi cho tới lúc anh ta về.” Mason thậm chí chẳng buồn đáp lại cái yêu cầu kỳ quặc đó. “Anh đã cử Lucy đi truy lùng Garrett. Và không nói gì với tôi.” Bell nhìn viên cảnh sát từ đầu tới chân. “Cô ấy và mấy người nữa đang sang Bến tàu kênh Nước đen, thử xem có lần được dấu vết gì của hắn không.” “Anh hẳn phải biết là tôi muốn tham gia đội tìm kiếm.” “Tôi làm sao cử hết tất cả mọi người được. Hôm nay, Culbeau đã có mặt tại Bến tàu kênh Nước đen một lần rồi. Tôi không thể để anh ta làm hỏng cuộc tìm kiếm.” “Thôi nào, Jim. Đừng nói với tôi những chuyện nhảm nhí ấy.” Bell thở dài. “Được rồi. Sự thật hả? Mason, vì anh cứ sùng sục muốn tóm cổ thằng nhãi đó, tôi quyết định không cử anh. Tôi không muốn xảy ra bất cứ sai lầm nào cả. Tính mạng của họ đang lâm nguy. Chúng ta phải bắt được hắn và phải bắt được sớm.” “Đó cũng là mục đích của tôi mà, Jim. Anh hẳn phải biết rằng tôi đã theo đuổi thằng nhãi đó ba năm nay. Tôi không thể tin được là anh lại gạt tôi ra và giao vụ án vào tay kẻ kỳ dị ở trong kia.” “Này, đủ rồi đấy.” “Thôi nào. Tôi thông thạo khu vực Nước đen gấp Lucy cả mười lần. Tôi từng sống ở đấy. Nhớ chứ hả?” Bell hạ giọng: “Anh quá muốn tóm cổ hắn. Điều ấy có thể ảnh hưởng đến những phán đoán của anh”. “Anh đã nghĩ như thế? Hay thằng cha kia?” Một cái hất đầu về phía căn phòng nơi Mason bây giờ nghe thấy tiếng ken két đáng sợ của chiếc xe lăn. Nó khiến anh ta khó chịu tựa như tiếng máy khoan của nha sĩ. Việc Bell nhờ cái tay kỳ dị đó giúp đỡ có thể dẫn đến đủ thứ rắc rối mà Mason thậm chí không muốn nghĩ tới nữa. “Thôi nào, sự thực là sự thực. Cả thế giới đều biết anh căm ghét Garrett ra sao.” “Và cả thế giới đều đồng tình với tôi.” “Chà, điều tôi bảo cho anh biết là điều không thay đổi được. Anh phải chấp nhận nó thôi.” Viên cảnh sát cười thành tiếng cay đắng. “Vậy bây giờ tôi là vú em trông chừng cái thằng khốn buôn rượu lậu.”
Bell nhìn qua Mason, ra hiệu với một cảnh sát khác. “Này, Frank...” Viên cảnh sát cao, mập mạp thong thả bước tới chỗ hai người. “Frank, cậu đi cùng anh Mason đây. Đến nhà Rich Culbeau.” “Đưa lệnh bắt ạ? Anh ta vừa làm chuyện gì?” “Không, không giấy tờ gì cả. Mason sẽ nói với cậu chi tiết. Nếu Culbeau không ở nhà, hãy cứ đợi. Và đảm bảo rằng anh ta với đám bạn bè của anh ta không quanh quẩn gần đội tìm kiếm. Anh rõ chưa, Mason?” Viên cảnh sát không trả lời. Anh ta chỉ quay bước đi và sếp anh ta nói với theo: “Việc này tốt hơn cho tất cả mọi người.” Đừng nghĩ vậy, Mason tự nhủ thầm. “Mason...” Nhưng người đàn ông không nói gì và sải bước vào phòng dành cho nhân viên cảnh sát. Lát sau, Frank cũng vào theo. Mason chẳng chào nhóm cảnh sát đang tụ tập nói về Thằng Bọ, về Mary Beth xinh đẹp và về cú đưa bóng chạy trở về suốt hơn chín mươi hai thước đáng kinh ngạc của Billy Stail. Anh ta bước vào ngăn làm việc của mình và moi một chiếc chìa khóa ra khỏi túi quần. Anh ta mở khóa ngăn kéo bàn, lấy thiết bị nạp đạn nhanh đang cài sáu viên cỡ .357. Anh ta đút nó vào bao da, rồi móc vào thắt lưng. Anh ta bước đến cửa ngăn làm việc của mình. Giọng anh ta cắt ngang cuộc nói chuyện, đồng thời anh ta hất đầu về phía Nathan Groomer - viên cảnh sát tóc màu vàng hơi hoe đỏ chừng ba mươi nhăm tuổi. “Groomer, tôi sẽ đi gặp Culbeau. Cậu đi cùng tôi.” “Chà”, Frank bắt đầu một cách thong thả, cầm trong tay chiếc mũ vừa vơ lấy từ ngăn làm việc của mình. “Tôi nghĩ là Jim đã muốn tôi đi.” “Tôi muốn Nathan”, Mason nói. “Rich Culbeau à?”, Nathan hỏi. “Anh ta và tôi như nước với lửa. Tôi đã tóm anh ta về đồn ba lần vì tội lái xe sau khi uống bia rượu và lần gần đây nhất có đánh anh ta tí chút. Theo tôi thì để Frank đi.” “Đúng”, Frank đồng tình. “Em họ Culbeau làm việc cùng cha vợ tôi. Anh ta nghĩ tôi cũng là chỗ họ hàng. Anh ta sẽ nghe tôi.” Mason lạnh lùng nhìn Nathan. “Tôi muốn cậu đi.” Frank cố gắng lần nữa. “Nhưng Jim nói...”
“Và tôi muốn cậu đi bây giờ.” “Thôi nào, Mason.” Nathan nói giọng gay gắt. “Đâu cần thiết phải xử sự như vậy với tôi.” Mason nhìn một con chim mồi được đẽo rất tỉ mỉ - một con vịt trời - trên bàn Nathan, tác phẩm mới nhất của anh ta. Thằng cha này có tài thật, Mason tự nhủ. Rồi anh ta nói với đồng sự: “Cậu sẵn sàng chưa?” Nathan thở dài, đứng dậy. Frank hỏi: “Nhưng tôi nói với Jim thế nào đây?” Không trả lời, Mason bước ra khỏi văn phòng, Nathan theo sau, và đi về phía xe công vụ của Mason. Họ trèo vào xe. Mason cảm thấy cái nóng bao trùm lấy mình, anh ta cho xe nổ máy và để điều hòa chạy hết cỡ. Sau khi họ đã đeo dây an toàn, cái việc mà câu khẩu hiệu ghi bên thành xe yêu cầu tất cả các công dân có tinh thần trách nhiệm thực hiện, Mason nói: “Bây giờ, hãy nghe này. Tôi…” “Ầy, thôi nào, Mason, đừng như thế. Tôi chỉ nói với anh những gì hợp lý thôi. Ý tôi là, năm ngoái Frank và Culbeau… “Hãy im đi và nghe này.” “Được. Tôi sẽ nghe. Nhưng tôi nghĩ anh chẳng cần nói chuyện theo cách ấy… Được. Tôi nghe đây. Culbeau vừa làm chuyện gì vậy?” Nhưng Mason không trả lời. Anh ta hỏi: “Khẩu Ruger của cậu đâu?” “Khẩu súng trường yêu quý của tôi ấy à? Khẩu M77 ấy à?” “Phải.” “Trong xe tải của tôi. Ở nhà.” “Cậu đã lắp thấu kính Hitech rồi chứ hả?” “Tất nhiên là lắp rồi.” “Chúng ta sẽ về nhà cậu lấy nó.” Họ lượn khỏi bãi đỗ xe và ngay sau khi đã ra phố Chính, Mason bật công tắc chiếc đèn xoay xanh đỏ trên nóc xe. Nhưng không bật còi hụ. Anh ta tăng tốc phóng ra khỏi thị trấn. Nathan ngậm trong miệng một đống kẹo Red Indian, việc anh ta không thể làm trước mặt Jim, nhưng với Mason thì vô tư. “Khẩu
Ruger... Vậy đấy. Đấy là lý do tại sao anh muốn tôi đi, chứ không phải Frank.” “Đúng thế.” Nathan Groomer là tay súng trường cừ nhất của cơ quan, một trong những tay cừ nhất của quận Paquenoke. Mason từng chứng kiến anh ta hạ gục một con hươu ở khoảng cách tới hơn tám trăm thước. “Vậy, sau khi tôi lấy khẩu súng trường, chúng ta sẽ đến chỗ Culbeau hả?” “Không.” “Thế chúng ta sẽ đi đâu?” “Chúng ta sẽ đi săn.” “Những ngôi nhà ở đây đẹp thật”, Amelia Sachs nhận xét. Cô và Lucy Kerr đang lái xe đi về phía bắc, dọc theo đường Kênh Đào, từ trung tâm thị trấn quay lại Bến tàu kênh Nước đen. Jesse Corn và Ned Spoto, viên cảnh sát vạm vỡ gần bốn mươi tuổi, bám đằng sau trong một chiếc xe công vụ khác. Lucy không nói gì, chỉ liếc nhìn những ngôi nhà trông xuống dòng kênh - những ngôi nhà có kiến trúc kiểu thuộc địa trang nhã mà Sachs đã thấy lúc trước. Sachs lại bị ấn tượng bởi vẻ hoang vắng của những ngôi nhà và những khoảng sân, sự thiếu vắng những đứa trẻ. Giống hệt như các con phố ở Tanner’s Corner. Trẻ con, cô lại ngẫm nghĩ. Rồi tự nhủ: Đừng sa vào chuyện đó. Lucy rẽ phải vào đường 112 rồi tạt sang lề đường - nơi họ vừa có mặt cách đây nửa tiếng đồng hồ, cái gờ đất trông xuống hiện trượng vụ án. Xe của Jesse Corn đỗ xịch đằng sau. Bốn người theo triền đê đi xuống bờ sông, trèo lên chiếc xuồng. Jesse lại vào vị trí cầm chèo, lẩm bẩm: “Người anh em, nhằm hướng bắc sông Paquo nào.” Anh ta nói với giọng đe dọa mà đầu tiên Sachs coi như một sự bông lơn, nhưng rồi cô để ý thấy cả anh ta lẫn hai người còn lại đều không ai mỉm cười cả. Sang đến bờ bên kia, họ trèo ra khỏi chiếc xuồng, theo dấu chân Garrett và Lydia đi tới cái chòi săn nơi Ed Schaeffer bị ong tấn công, rồi vượt qua nó, tiến vào rừng chừng năm mươi feet, đến đây thì mất hút dấu vết.
Dưới sự chỉ huy của Sachs, họ tỏa ra, di chuyển theo những đường tròn càng lúc càng mở rộng, tìm kiếm bất cứ dấu hiệu nào cho thấy hướng Garrett đi. Họ chẳng phát hiện được gì và quay lại chỗ mà các dấu chân biến mất. Lucy bảo Jesse: “Cậu biết lối mòn ấy chứ? Cái lối mòn bọn nghiện đã theo đó bỏ chạy khi bị Frank Sturgis phát hiện ra năm ngoái?”. Jesse gật đầu. Anh ta nói với Sachs: “Nó cách đây chừng năm mươi thước về phía bắc. Đằng kia”, anh ta chỉ. “Có lẽ Garrett biết nó. Nó là lối tốt nhất để đi qua rừng và khu vực đầm lầy này.” “Chúng ta thử kiểm tra xem”, Ned nói. Sachs băn khoăn không biết phải xử lý cuộc xung đột sắp sửa xảy ra như thế nào cho khéo léo nhất, rồi quyết định rằng có độc một cách: đương đầu. Tế nhị quá cũng chẳng tác dụng gì, khi ba bọn họ ở một phía, mình cô ở một phía (cô nghĩ Jesse Corn chỉ đứng về phía cô ở phương diện tình cảm thôi) “Chúng ta nên dừng lại đây cho tới lúc nhận được thông tin từ Rhyme.” Jesse giữ nụ cười gượng gạo trên gương mặt nếm náp chút vị của lòng trung thành bị chia sẻ. Lucy lắc đầu. “Garrett chắc chắn đã đi theo lối mòn ấy.” “Chúng ta không thể biết chắc chắn được”, Sachs nói. “Xung quanh đây quả thực hơi quá rậm rạp”, Jesse đưa ra ý kiến. Ned nói: “Với tất cả những đám cỏ, phục linh và nhựa ruồi kia. Cả cơ man dây leo nữa. Không theo lối mòn ấy, thì không có cách nào đi qua khu vực này và tiết kiệm được thời gian đâu.” “Chúng ta sẽ phải đợi”, Sachs nói, nghĩ tới một đoạn trong Vật chứng, cuốn sách giáo khoa của Rhyme viết về các nhà hình sự học: Nhìn chung, nhiều cuộc điều tra bị thất bại vì người điều tra không kiềm chế được những hành động hấp tấp khi mà, thực tế, trong hầu hết các trường hợp, việc chậm rãi kiểm tra chứng cứ sẽ chỉ ra lối đi quang quẻ dẫn đến cửa nhà đối tượng, đồng thời giúp người ta có thể bắt giữ đối tượng một cách hiệu quả và an toàn hơn. Lucy Kerr nói: “Vấn đề đơn giản là người thành phố thì không thực sự hiểu về rừng. Nếu đi theo lối mòn đó sẽ tiết kiệm được nửa
thời gian. Hắn ắt phải đi theo lối mòn đó.” “Có thể hắn đã quay lại bờ sông”, Sachs nêu ý kiến. “Biết đâu hắn chẳng giấu một chiếc thuyền nữa ngược bên trên hay xuôi phía dưới dòng.” “Đúng đấy”, Jesse nói, bị Lucy lừ mắt nhìn. Một khoảng im lặng khá lâu, bốn người đứng bất động, mặc đám muỗi mắt châm chích, mồ hôi vã ra trong cái nóng không khoan nhượng. Cuối cùng, Sachs nói đơn giản: “Chúng ta sẽ chờ.” Quyết định như thế rồi, cô ngồi xuống tảng đá chắc chắn là gồ ghề nhất trong toàn bộ khu rừng, và với vẻ quan tâm vờ vịt, chăm chú quan sát con chim gõ kiến đang quyết liệt khoan vào một thân cây sồi cao vươn thẳng trước mặt họ.
“H