phần cơ thể không quen chịu nén, tuy nhiên nó đỡ mất thời gian hơn và hạn chế được tối đa thời gian Thom phải phơi mình trước các mũi súng. Rhyme cũng có ý nghĩ rằng chính người anh sẽ che cho Thom. “Không”, Thom nói. “Làm thế đi, Thom. Miễn tranh luận.” Lucy nói: “Tôi sẽ che cho các anh. Ba người các anh di chuyển cùng nhau, sẵn sàng chưa?”
Sachs gật đầu. Thom nhấc Rhyme lên, bế anh như bế một đứa trẻ trên đôi cánh tay khỏe mạnh. “Thom...”, Rhyme phản đối. “Im lặng nào, Rhyme”, anh chàng phụ tá quát. “Chúng ta sẽ làm theo cách của tôi.” “Xuất phát”, Lucy gọi. Tai Rhyme ù đi vì mấy phát súng nổ lớn. Tất cả trở nên lờ mờ trước mắt khi họ vượt qua mấy bậc thềm để vào bên trong ngôi nhà. Lúc họ ào vào được bên trong rồi, vẫn còn vài viên đạn nữa cắm vào bức tường gỗ. Lát sau, Lucy lăn người vào theo và đóng sầm cánh cửa lại. Thom nhẹ nhàng đặt Rhyme xuống đi văng. Rhyme liếc trông thấy một cô gái trẻ khiếp sợ ngồi trên chiếc ghế dựa, nhìn anh chằm chằm. Mary Beth McConnell. Garrett Hanlon, bộ mặt đỏ nổi đầy mụn, cặp mắt mở to hãi hùng, ngồi đấy, một bàn tay điên cuồng búng móng tanh tách, còn bàn tay kia thì lóng ngóng cầm khẩu súng, trong lúc Lucy chĩa thẳng súng vào mặt gã. “Đưa súng cho tôi!”, cô hét lên. “Nào, nào!” Garrett chớp mắt và ngay lập tức đưa súng cho Lucy. Cô nhét nó vào thắt lưng, rồi quát cái gì đó. Rhyme không nghe thấy cô quát cái gì, anh đang nhìn chằm chằm vào cặp mắt hoang mang khiếp sợ của gã trai, cặp mắt của một đứa trẻ. Và anh tự nhủ thầm: Anh hiểu tại sao em phải hành động như thế, Sachs ạ. Tại sao em tin tưởng hắn. Tại sao em phải cứu hắn. Anh hiểu… Rhyme nói: “Mọi người ổn cả chứ?”. “Ổn”, Sachs trả lời. Lucy gật đầu. “Thực ra...”, Thom nói, vẻ gần như có lỗi. “Không hẳn là vậy.” Anh ta nhấc bàn tay ra khỏi cái bụng săn chắc, lộ ra một vết thương đầm đìa máu. Rồi người phụ tá khuỵu mạnh gối xuống, làm rách toạc hai ống quần mà anh ta đã là lượt hết sức cẩn thận.
CHƯƠNG BA MƯƠI TÁM Kiểm tra xem vết thương có bị xuất huyết nghiêm trọng không. Cầm máu. Nếu có thể, kiểm tra xem bệnh nhân có bị choáng không. Amelia Sachs, từng tham gia khóa huấn luyện về sơ cứu cơ bản của Sở Cảnh sát New York, quỳ xuống bên cạnh Thom, xem xét vết thương. Anh chàng phụ tá nằm ngửa, tỉnh táo nhưng mặt mũi tái nhợt, mồ hôi ra như tắm. Sachs dùng một bàn tay kiểm tra vết thương. “Tháo còng cho tôi!”, cô kêu lên. “Tôi chẳng thể săn sóc tới anh ta theo cái cách như thế này được.” “Không”, Lucy nói. “Lạy Chúa.” Sachs lẩm bẩm và cố gắng hết mức có thể để kiểm tra bụng Thom với đôi bàn tay vẫn phải đeo còng. “Cậu cảm thấy thế nào, Thom?”, Rhyme thốt lên. “Hãy nói chuyện với chúng tôi đi chứ.” “Không cảm thấy gì cả... Có cảm giác... Kỳ lạ...”. Cặp mắt Thom đảo ngược và anh ta ngất đi. Một tiếng nổ chát chúa vang lên phía bên trên đầu họ. Viên đạn xuyên qua bức tường. Tiếp theo là phát đạn súng săn đập vào cánh cửa đánh thịch. Garrett đưa cho Sachs đống khăn giấy. Cô ấn chúng vào vết rách ở bụng Thom. Cô khe khẽ vỗ mặt anh ta. Anh ta không có phản ứng gì cả. “Cậu ấy còn sống chứ?”, Rhyme tuyệt vọng hỏi. “Anh ấy vẫn đang thở. Hơi thở nông. Nhưng vẫn đang thở. Vết thương phía ngoài không nghiêm trọng lắm, tuy nhiên em không biết tổn thương bên trong thì thế nào.” Lucy nhìn nhanh qua ô cửa sổ, rồi chúi người xuống. “Tại sao bọn chúng lại hành động như thế này nhỉ?” Rhyme nói: “Jim bảo rằng bọn chúng sản xuất rượu lậu. Có thể bọn chúng đã để mắt tới chỗ này và không muốn chỗ này bị phát hiện. Hoặc có thể có một địa điểm điều chế ma túy ở gần đây.” “Lúc trước có hai gã đàn ông - bọn chúng đã cố gắng đột nhập vào”, Mary Beth kể cho họ. “Bọn chúng bảo bọn chúng đang phá các
cánh đồng cần sa, nhưng tôi nghĩ là bọn chúng đang trồng thì có. Có thể tất cả bọn chúng thuộc một hội.” “Bell đâu?”, Lucy hỏi. “Và Mason?” “Anh ấy sẽ tới đây sau nửa tiếng đồng hồ nữa”, Rhyme trả lời. Lucy lắc đầu, mất hết nhuệ khí trước thông tin này. Rồi cô lại nhìn ra qua ô cửa sổ. Cô cứng đờ người, có vẻ thế khi trông thấy một mục tiêu. Cô nâng khẩu súng lên, vội vã nhắm bắn. Quá vội vã. “Không, để tôi!”, Sachs kêu lên. Nhưng Lucy đã siết cò hai lần. Nét mặt nhăn nhó của cô nói với họ rằng cô lại bắn trượt. Cô nheo mắt nhìn. “Sean vừa tìm thấy một cái bình. Một cái bình màu đỏ. Bình gì thế Garrett? Bình ga à?” Gã trai ngồi co ro trên sàn, sợ hãi không dám nhúc nhích. “Garrett! Trả lời tôi đi!” Gã quay về phía Lucy. “Cái bình màu đỏ. Bình đựng gì?” “Đựng, nói chung, dầu hỏa. Để chạy máy thuyền.” Lucy lẩm bẩm: “Chết tiệt, bọn chúng định đốt chúng ta.” “Mẹ kiếp”, Garrett kêu lên. Gã chống gối nhỏm dậy, nhìn Lucy chằm chằm, ánh mắt điên dại. Sachs, dường như là người duy nhất, biết điều gì sắp xảy ra. Đừng, Garrett, đừng...” Gã trai phớt lờ cô, mở toang cánh cửa và nửa chạy, nửa bò, thoăn thoắt di chuyển dọc dãy hàng hiên. Đạn găm chiu chiu vào gỗ đuổi theo gã. Sachs không biết liệu gã đã bị trúng đạn chưa. Rồi xuất hiện một khoảng im ắng. Ba gã đàn ông mang bình dầu hỏa tiến đến gần hơn ngôi nhà gỗ. Sachs nhìn xung quanh căn phòng bụi mù vì những phát đạn. Cô trông thấy: Mary Beth, vòng hai tay ôm lấy mình, khóc lóc. Lucy, ánh mắt đầy nỗi căm hờn độc địa, đang kiểm tra súng của cô. Thom, đang chết từ từ vì mất máu. Lincoln Rhyme, nằm ngửa, thở nặng nhọc. Anh và em...
Sachs nói với Lucy bằng giọng vững vàng: “Chúng ta phải ra khỏi đây. Chúng ta phải chặn bọn chúng lại. Hai chúng ta.” “Bọn chúng ba đứa, lại có súng trường.” “Bọn chúng đang định đốt ngôi nhà này. Và sẽ hoặc là thiêu cháy chúng ta hoặc là bắn chúng ta khi chúng ta nhao ra. Chúng ta không có sự lựa chọn nào cả. Hãy tháo còng cho tôi,” Sachs chìa tay ra. “Chị phải tháo.” “Làm sao tôi tin tưởng cô được?”, Lucy thì thầm. “Cô đã phục kích chúng tôi trên sông.” Sachs hỏi: “Phục kích à? Chị đang nói tới cái gì vậy?” Lucy cau có: “Tôi đang nói tới cái gì ấy à? Cô đã sử dụng con thuyền làm mồi nhử và bắn Ned khi cậu ta bơi ra kéo nó vào.” “Vớ vẩn! Chính các chị tưởng chúng tôi ở phía dưới con thuyền và đã bắn chúng tôi.” “Chỉ sau khi cô...” Rồi giọng Lucy nhỏ đi, và cô gật đầu vẻ hiểu ra điều gì. Sachs nói với người nữ đồng nghiệp: “Đó là bọn chúng. Culbeau và hai gã kia. Một gã đã nổ súng trước. Có thể để đe dọa các chị và làm chậm bước các chị.” “Còn chúng tôi lại tưởng đó là cô.” Sachs chìa cổ tay ra. “Chúng ta không có sự lựa chọn nào cả.” Người nữ cảnh sát thận trọng nhìn Sachs, rồi từ từ thọc tay vào túi quần tìm chìa khóa. Cô mở đôi còng thép mạ crôm. Sachs xoa xoa cổ tay. “Tình hình đạn dược ra sao?” “Tôi còn bốn viên.” “Tôi còn năm viên trong súng của tôi”, Sachs nói, cầm lấy khẩu Smith & Wesson nòng dài từ Lucy và kiểm tra ổ đạn. Sachs nhìn xuống Thom. Mary Beth bước tới. “Tôi sẽ trông nom anh ta.” “Có điều này”, Sachs nói. “Anh ấy là người đồng tính. Anh ấy đã được làm xét nghiệm rồi, nhưng...” “Không thành vấn đề”, cô gái đáp. “Tôi sẽ cẩn thận. Bắt đầu đi.” “Sachs”, Rhyme nói. “Anh...” “Để sau, Rhyme. Bây giờ không có thời gian.” Sachs hé cánh cửa nhìn nhanh ra ngoài, quan sát địa hình trên cánh đồng cỏ, xem chỗ nào có thể làm cho nấp và ngắm bắn thuận lợi. Đôi bàn tay lại
tự do, nắm lấy khẩu súng nặng, cô lại cảm thấy tự tin. Đây là thế giới của cô: súng đạn và tốc độ. Cô chẳng thể suy nghĩ gì về Lincoln Rhyme và cuộc phẫu thuật anh chuẩn bị tiến hành, về cái chết của Jesse Corn, về sự phản bội của Garrett Hanlon, về những gì chờ đợi cô nếu họ thoát khỏi được cái tình huống kinh khủng này. Khi ta di chuyển, chúng không thể bắt được ta... Sachs nói với Lucy: “Chúng ta mở cửa ra ngoài. Chị di chuyển về bên trái tới phía sau ô tô, nhưng đừng dừng lại, dù có thế nào. Hãy di chuyển liên tục cho đến khi tới được bãi cỏ. Còn tôi di chuyển về bên phải - đến chỗ cái cây đằng kia. Chúng ta sẽ luồn giữa những đám cỏ cao, tiến về phía trước, về phía rừng, kẹp bọn chúng lại.” “Bọn chúng sẽ trông thấy chúng ta mở cửa ngoài.” “Bọn chúng cần trông thấy chúng ta. Chúng ta muốn bọn chúng biết rằng đang có hai chúng ta ở ngoài, nấp đâu đấy giữa bãi cỏ. Điều đó sẽ khiến bọn chúng bối rối, không yên tâm. Đừng bắn chừng nào chị chưa nhắm trúng được một mục tiêu chắc chắn. Chị hiểu rồi chứ?” “Hiểu rồi.” Sachs nắm lấy quả đấm cửa bằng bàn tay trái. Mắt cô gặp mắt Lucy. Một trong ba gã - O’Sarian, có Tomel đi bên cạnh - đang kéo lê bình dầu hỏa về phía ngôi nhà gỗ, không chú ý gì tới cánh cửa trước. Bởi vậy khi hai người phụ nữ nhảy vụt ra, chia làm hai ngả guồng chân chạy tới chỗ nấp, chẳng gã nào kịp rút súng bắn. Culbeau - ở lại đằng sau để bao quát được mặt tiền và hai đầu hồi ngôi nhà - hẳn cũng chẳng ngờ sẽ có ngưòi xông ra vì tới lúc khẩu súng trường săn hươu của gã nổ thì cả Sachs lẫn Lucy đã lẩn vào những đám cỏ cao mọc xung quanh ngôi nhà. O’Sarian và Tomel cùng mất hút vào cỏ. Culbeau hét to: “Bọn mày để hai đứa ra ngoài. Bọn mày làm cái mẹ gì vậy?”. Gã bắn thêm một phát về phía Sachs - cô nằm dán xuống đất - và khi cô lại ngẩng nhìn thì Culbeau cũng đã chúi vào cỏ. Ba con rắn ở đó, trước mặt họ, không động đậy gì. Và không thể xác định được vị trí bọn chúng. Culbeau hô: “Sang bên phải.” Một trong hai gã kia đáp: “Đâu?”. Sachs nghĩ đó là Tomel.
“Tao cho là... hẵng khoan. Rồi yên lặng. Sachs bò về phía lúc nãy cô trông thấy Tomel và O’Sarian. Cô chỉ trông thấy loáng thoáng có màu đỏ và di chuyển theo hướng đó. Làn gió nóng nực thổi cỏ ngả rạp sang bên và cô trông thấy đấy là cái bình dầu hỏa. Cô tiến thêm chừng vài feet, và khi làn gió lại hợp tác, hạ thấp mũi súng, bắn một viên đạn chính xác vào đáy cái bình. Nó rung rinh vì sức đẩy của viên đạn, rồi tuôn ra thứ chất lỏng trong suốt. “Mẹ kiếp.” Một trong ba gã đàn ông kêu lên và Sachs nghe thấy tiếng rẽ cỏ loạt soạt. Cô đồ là gã bỏ chạy khỏi chỗ cái bình, tuy nó không bốc cháy. Lại tiếng loạt soạt, tiếng bước chân. Nhưng xuất phát từ vị trí nào? Khi Sachs trông thấy một vật sáng lóe lên ở cách đấy chừng mười lăm mét, giữa bãi cỏ. Gần vị trí của Culbeau lúc nãy. Và cô nhận ra đó là chiếc kính ngắm hoặc thân khẩu súng to bự của gã. Cô thận trọng ngóc đầu, bắt gặp ánh mắt Lucy, chỉ vào mình rồi chỉ về phía vệt sáng. Người nữ đồng nghiệp gật đầu, khoát tay chỉ về phía đầu hồi ngôi nhà gỗ. Sachs gật đầu. Nhưng khi Lucy bắt đầu khom lưng chạy trong đám cỏ phía tay trái ngôi nhà, O’Sarian đứng dậy, lại cười điên dại, siết cò khẩu Colt. Những tiếng nổ chát chúa vang lên khắp bãi cỏ. Lucy tạm thời trở thành một mục tiêu quá dễ dàng và nếu O’Sarian không phải tay súng nóng vội thì gã đã không bắn trượt. Người nữ cảnh sát nằm sõng soài, trong lúc bụi bốc mù mịt xung quanh cô, rồi nhỏm dậy, nã cho gã một phát, suýt trúng, và gã đàn ông bé loắt choắt thụp xuống nấp, phấn khích vừa reo vừa hét: “Khá đấy, cưng!”. Sachs lại tiến về phía trước, về phía khẩu súng bắn tỉa của Culbeau. Cô nghe thấy vài phát đạn nữa. Tiếng lốp bốp của khẩu súng lục, rồi đến tiếng tạch tạch của khẩu súng trường quân đội, rồi đến tiếng nổ váng óc của khẩu súng săn. Sachs lo lắng rằng bọn chúng đã bắn trúng Lucy. Nhưng một lát sau, cô nghe thấy giọng người nữ đồng nghiệp gọi: “Amelia, hắn đang đến chỗ cô đấy.” Tiếng bước chân nện trong cỏ. Dừng lại một chút. Loạt soạt.
Gã nào? Và gã đang ở vị trí nào? Sachs cảm thấy khiếp sợ, choáng váng nhìn xung quanh. Rồi yên lặng. Mơ hồ một giọng đàn ông hét gọi gì đó. Tiếng bước chân lui dần. Gió lại rẽ cỏ và Sachs trông thấy lấp lóe chiếc kính ngắm của Culbeau. Gã gần như ở ngay trước mặt cô, cách chừng năm mươi feet, trên một gò đất không cao lắm - một vị trí bắn thuận lợi cho gã. Gã có thể nhỏm dậy với khẩu súng to bự kia và bao quát được khắp bãi cỏ. Cô bò nhanh hơn, chắc chắn rằng gã đang chiếu chiếc kính ngắm có độ chính xác cao vào Lucy - hoặc vào bên trong ngôi nhà gỗ và nhằm bắn Rhyme hay Mary Beth qua cửa sổ. Nhanh hơn, nhanh hơn! Sachs đứng lên và bắt đầu khom lưng chạy. Culbeau vẫn còn cách chừng ba mươi lăm feet. Nhưng hóa ra Sean O’Sarian ở gần cô hơn nhiều. Sachs phát hiện ra điều này khi cô guồng chân chạy vào và vấp phải gã. Gã há hốc mồm trong lúc cô lăn qua gã, ngã ngửa ra. Cô ngửi thấy mùi rượu và mùi mồ hôi. Ánh mắt O’Sarian điên dại. Gã trông y như một kẻ mắc chứng tâm thần phân liệt vậy. Một khoảng lặng tưởng chừng vô tận và Sachs nâng khẩu súng ngắn lên cùng lúc gã vung khẩu Colt về phía cô. Cô đạp chân lùi lại, ngã người vào cỏ, và hai khẩu súng nổ đồng thời. Cô cảm thấy cái họng súng kia nã ba phát thì hết loạt đạn, cả ba phát đều trượt. Phát duy nhất cô bắn cũng trượt. Khi cô lăn sấp xuống và ngóc đầu tìm kiếm mục tiêu, gã đang vừa nhảy ào ào qua các búi cỏ vừa rú rít. Đừng để lỡ cơ hội, Sachs tự nhủ mình. Và bất chấp khả năng bị Culbeau bắn, cô đứng lên nhằm O’Sarian. Tuy nhiên, trước khi Sachs kịp siết cò, Lucy Kerr đã đứng lên, nã cho gã một phát trong lúc gã đang chạy thẳng về phía cô. Đầu gã đàn ông nghênh lên và gã ôm lấy ngực. Lại một tràng cười. Rồi gã lăn lông lốc xuống cỏ. Gương mặt Lucy hiện vẻ bàng hoàng và Sachs tự hỏi phải chăng đây là lần đầu tiên trong cuộc đời cảnh sát cô kết liễu một mạng người. Rồi Lucy thụp xuống. Lát sau, vài phát súng săn bắn nát đám cây cỏ chỗ cô vừa đứng.
Sachs tiếp tục tiến về phía Culbeau. Bây giờ cô di chuyển rất nhanh. Có vẻ gã đã xác định được vị trí của Lucy và chỉ chờ cô đứng lên sẽ nã một phát chính xác. Còn chừng hai mươi feet, mười. Chiếc kính ngắm lấp lóe rõ rệt hơn và Sachs chúi xuống. Thu người lại, đợi tiếng súng nổ. Nhưng dưòng như gã đàn ông to lớn đó chưa trông thấy cô. Không có tiếng súng nổ và cô tiếp tục nằm sấp, trườn sang bên phải để kẹp lấy gã. Mồ hôi túa ra, chứng viêm khớp khiến các khớp xương của cô nhức nhối. Còn năm feet. Sẵn sàng. Hoàn cảnh nổ súng không thuận lợi. Vì Culbeau chiếm vị trí trên một cái gò, muốn nhắm cho thật trúng Sachs sẽ phải lăn vào khoảng đất trống phía bên phải gã và đứng lên. Sẽ chẳng có gì che chắn. Nếu cô không ngay lập tức hạ gục gã, cô sẽ ở ngay trước mũi súng của gã. Và thậm chí nếu cô có hạ gục gã rồi, Tomel cũng sẽ có được vài giây quý giá đủ để nã vào cô bằng khẩu súng săn. Nhưng không có sự lựa chọn nào cả. Khi ta di chuyển... Khẩu Smittie được giương lên, ngón tay đã kéo căng cò súng. Một hơi thở sâu... ... chúng không thể bắt được ta. Nào! Sachs nhảy về phía trước và lăn vào khoảng đất trống. Cô chống một đầu gối ngồi dậy, nhằm bắn. Và choáng váng há hốc miệng. “Khẩu súng” của Culbeau chỉ là một đoạn ống lấy từ hệ thống chưng cất rượu cũ, còn chiếc kính ngắm chính là một mảnh chai đặt trên chốc. Dùng cái mẹo mà Sachs và Garrett đã sử dụng tại ngôi nhà nghỉ ven bờ sông Paquenoke. Bị bịp rồi Cỏ loạt soạt gần đó. Có tiếng bước chân. Amelia Sachs nằm dán xuống đất tựa một con bướm đêm. Tiếng bước chân tiến đến gần hơn ngôi nhà gỗ, tiếng bước chân nện huỳnh huỵch, đầu tiên là rẽ qua các bụi rậm, rồi đi trên nền đất, rồi giẫm trên những bậc gỗ dẫn lên thềm nhà. Di chuyển chậm rãi.
Đối với Rhyme, chúng nghe có vẻ ung dung hơn là thận trọng. Cũng có nghĩa là tự tin. Và vì thế mà nguy hiểm. Lincoln Rhyme cố gắng hết sức để nhấc đầu lên khỏi đi văng, nhưng vẫn không thể trông thấy ai đang tiến đến. Những tấm ván sàn kêu két một tiếng, và Rich Culbeau, cầm khẩu súng trường dài loằng ngoằng, nhìn vào bên trong. Rhyme lại cảm thấy nỗi khiếp sợ nhói lên. Sachs có làm sao không? Một trong số hàng chục phát súng anh nghe được đã hạ gục cô ư? Cô đang bị thương nằm đâu đó giữa bãi cỏ bụi bốc mù mịt ư? Hay chết rồi? Culbeau nhìn Rhyme và Thom, đi đến kết luận rằng họ chẳng phải mối đe dọa. Vẫn đứng ở ngưỡng cửa, gã hỏi Rhyme: “Mary Beth đâu?” Rhyme nhìn thẳng vào mắt gã đàn ông, nói: “Tôi không biết. Cô ta đã chạy ra ngoài tìm kiếm sự giúp đỡ. Năm phút trước”. Culbeau liếc nhìn xung quanh căn phòng, rồi ánh mắt dừng lại ở cánh cửa dẫn xuống tầng hầm. Rhyme vội vã nói: “Tại sao các anh lại hành động như thế này? Các anh theo đuổi cái gì vậy?” “Chạy ra ngoài à? Tao không trông thấy.” Culbeau bước thêm mấy bước vào bên trong nhà, mắt nhìn cánh cửa tầng hầm. Rồi gã hất đầu chỉ về phía sau, về phía bãi cỏ. “Bọn nó đáng lẽ không được để mày ở đây một mình. Việc này là sai lầm của bọn nó.” Gã xem xét cơ thể Rhyme. “Chuyện gì đã xảy ra với mày vậy?” “Tôi bị thương trong một tai nạn.” “Mày là cái tay người New York mà ai ai cũng đều đang nói tới đấy. Chính mày đã xác định được con bé ở đây. Mày thực sự không thể cử động sao?” “Không.” Culbeau khe khẽ cười hiếu kỳ, y như gã vừa bắt được một loài cá mà gã chưa bao giờ biết là có tồn tại. Ánh mắt Rhyme lướt sang cánh cửa dẫn xuống tầng hầm, rồi lại trở về với Culbeau. Gã đàn ông to lớn nói: “Hãy chắc chắn rằng mày đã tự chuốc lấy chuyện lôi thôi ở đây. Lôi thôi hơn mày dự tính đấy.”
Rhyme không đáp lại gì và cuối cùng Culbeau bước tới, chĩa khẩu súng cầm bằng một tay vào cánh cửa dẫn xuống tầng hầm. “Mary Beth rời khỏi đây rồi, hả?” “Cô ta chạy ra ngoài. Anh định đi đâu?”, Rhyme hỏi. Culbeau nói: “Nó ở dưới đây, phải không?”. Gã kéo cho cánh cửa mở toang và nhả đạn, lên đạn, nhả đạn tiếp. Thêm ba phát. Rồi gã ngó xuống khoảng tối mù mịt khói thuốc súng, nạp lại đạn. Đó là lúc Mary Beth McConnell, giơ cao cây chùy thô sơ của cô, bước ra từ phía sau cánh cửa trước, nơi cô đã nấp rình. Nheo mắt quyết tâm, cô vung mạnh món vũ khí. Nó đập vào bên đầu Culbeau, làm rách một đoạn tai gã. Khẩu súng trường tuột khỏi tay gã và lăn theo các bậc thang xuống tầng hầm tối om. Nhưng gã không bị thương nặng, gã vung nắm đấm khổng lồ, đấm thẳng vào ngực Mary Beth, cô thở hổn hển, ngã xuống sàn, mất hết nhuệ khí. Cô nằm nghiêng, rên rỉ thảm thiết. Culbeau sờ tai và xem xét chỗ máu chảy. Rồi gã nhìn xuống cô gái trẻ. Từ cái bao đeo ở thắt lưng, gã rút ra con dao gấp, mở đánh tách. Gã túm mái tóc màu nâu của cô, kéo lên, lộ ra cái cổ trắng ngần. Mary Beth chộp cổ tay gã, cố gắng giữ nó lại. Tuy nhiên hai cánh tay gã quá to và lưỡi dao tối thẫm cứ thế đưa lại gần da thịt cô. “Dừng lại.” Một giọng nói cất lên ở ngưỡng cửa. Garrett Hanlon vừa bước vào. Gã đang cầm hòn đá lớn xám xịt. Gã bước lại gần Culbeau. “Để cô ấy yên và cút mẹ mày ra khỏi đây.” Culbeau buông tóc Mary Beth, cô đập đầu xuống sàn. Gã đàn ông to lớn lùi lại. Gã sờ tai lần nữa, cau mày. “Này, thằng nhãi, mày là đứa nào mà chửi tao hả?” “Nào, cút đi.” Culbeau cười lạnh lùng. “Tại sao mày quay lại? Tao nặng hơn mày đến một trăm pound. Và tao có con dao Buck. Mày có độc hòn đá đó thôi. Chà, hãy tới đây. Chúng ta sẽ cùng giao đấu, giải quyết vấn đề.” Garrett búng móng tay hai lần. Gã khom lưng xuống như võ sĩ đấu vật, chậm chạp bước tới. Bộ mặt gã thể hiện một quyết tâm trông phát sợ. Gã giả vờ ném hòn đá mấy lần. Culbeau né người, lùi lại. Rồi gã đàn ông to lớn phá lên cười, đánh giá đối thủ và có lẽ đi
đến kết luận rằng gã trai không phải mối đe dọa ghê gớm lắm. Gã xông tới, vung con dao đâm vào cái bụng gầy guộc của Garrett. Gã trai nhảy phắt về phía sau và lưỡi dao đâm hụt. Nhưng Garrett đã ước lượng sai khoảng cách, đập mạnh người vào tường. Gã khuỵu xuống, choáng váng. Culbeau lau bàn tay vào quần, thản nhiên nắm lại con dao quan sát Garrett vẻ không chút xúc động, y như gã chỉ chuẩn bị làm thịt một con hươu mà thôi. Gã bước tới. Đúng lúc đó, một sự di động loáng lên từ sàn nhà. Mary Beth vẫn đang nằm trên sàn, chộp được cây chùy và vung nó đập vào mắt cá chân Culbeau. Gã hét lên và quay về phía cô, giơ dao. Nhưng Garrett đã xông đến, đẩy mạnh vào vai gã. Culbeau mất thăng bằng, trượt gối qua các bậc cầu thang xuống tầng hầm. Nửa chừng thì gã níu mình lại được. “Đồ oắt con khốn kiếp”, gã gầm lên. Rhyme trông thấy Culbeau mò mẫm trên các bậc cầu thang tối om tìm khẩu súng trường. “Garrett! Hắn đang tìm khẩu súng!” Gã trai rất chậm rãi bước tới cửa tầng hầm và cầm hòn đá lên. Nhưng gã không ném nó. Gã định làm gì? Rhyme băn khoăn tự hỏi. Anh quan sát Garrett kéo nắm giẻ ra khỏi một cái lỗ phía dưới đáy. Gã nhìn xuống Culbeau, nói: “Nó không phải một hòn đá đâu”. Và, khi mấy con vật mặc áo vàng đầu tiên bay ra khỏi cái lỗ đó, gã ném cái tổ vào mặt Culbeau, đóng đánh sầm cánh cửa tầng hầm lại. Gã bập ổ khóa, bước lùi ra phía sau. Hai viên đạn xuyên qua cánh cửa gỗ, rồi mất hút qua trần nhà. Nhưng không có thêm tiếng súng nổ nào nữa. Rhyme nghĩ Culbeau chắc phải bắn nhiều hơn hai phát. Rồi anh cũng nghĩ những tiếng thét từ tầng hầm sẽ vang vọng lâu hơn bình thường. Harris Tomel biết đã đến lúc nhanh chóng rời khỏi đây, quay lại Tanner’s Corner. O’Sarian đã ngoẻo - không sao, việc ấy đâu gây mất mát gì - và Culbeau đã vào nhà xử lý lũ còn lại. Thế thì nhiệm vụ của Tomel là tìm ra Lucy. Nhưng gã chẳng ngần ngại. Gã vẫn còn nhoi nhói nỗi xấu hổ vì đã không thể nhúc nhích được lúc đứng đối diện Trey Williams và chính cái thằng oắt con tâm thần O’Sarian lại cứu tính mạng gã.
Chà, gã sẽ chẳng đờ người ra như thế nữa. Rồi, bên cạnh một cái cây cách đấy một đoạn, Tomel thoáng trông thấy một vệt màu nâu vàng. Gã giương mắt nhìn. Phải, đằng đó - qua vòm cây - gã có thể nhận ra rõ ràng chiếc áo đồng phục màu nâu vàng của Lucy Kerr. Cầm khẩu súng săn trị giá hai ngàn đô la, gã di chuyển đến gần hơn một chút. Bắn ở vị trí này không được thuận lợi lắm - mục tiêu không lộ nhiều. Chỉ một phần ngực, hiện ra qua vòm cây. Với súng trường thì khó có thể bắn trúng. Với súng săn thì cũng có thể. Gã điều chỉnh van ở đầu họng súng để làm tăng thị trường văng tóe của các viên đạn nhỏ và gã có nhiều cơ hội bắn trúng hơn. Tomel đứng nhanh dậy, hạ đầu ruồi xuống đúng vạt trước áo Lucy và siết cò. Khẩu súng giật mạnh. Rồi gã nheo mắt nhìn xem mình có bắn trúng không. Ôi, lạy Chúa... Không phải một lần nữa chứ! Chiếc áo đang lơ lửng bay trên không - do sức đẩy của các viên đạn. Cô ta đã treo nó lên cây để nhử gã xuất đầu lộ diện. “Đứng nguyên đấy, Harris.” Giọng Lucy cất lên đằng sau gã. “Tất cả đã kết thúc rồi.” “Tốt đấy”, Tomel nói. “Cô bịp tôi.” Gã quay lại đối diện Lucy, cầm khẩu Browning ngang bụng, được cỏ che kín, khẩu súng chĩa về phía cô. Cô mặc chiếc áo phông trắng. “Hãy thả súng xuống”, Lucy ra lệnh. “Tôi đã thả rồi”, Tomel nói. Gã không động đậy. “Cho tôi trông thấy hai tay anh. Giơ tay lên. Nào, Harris. Lời cảnh cáo cuối cùng.” “Nghe này, Lucy...” Đám cỏ cao bốn feet. Gã sẽ thụp xuống, bắn vào đầu gối cô rồi kết liễu đời cô ta bằng một băng đạn xả ở tầm gần. Tuy nhiên, như thế cũng đầy rủi ro. Cô ta vẫn có thể kịp nã một hay hai phát. Rồi Tomel để ý thấy điều này: ánh mắt của Lucy. Ánh mắt thiếu chắc chắn. Và gã xem chừng cô giơ khẩu súng với vẻ quá đe dọa. Cô ta đang bịp mình. “Cô hết-đạn rồi”, Tomel mỉm cười nói.
Một chút im lặng và nét mặt Lucy khẳng định điều ấy. Tomel nâng khẩu súng săn lên bằng cả hai tay và nhằm vào cô. Cô chằm chằm nhìn lại với vẻ tuyệt vọng. “Nhưng tôi thì không.” Một giọng nói cất lên gần đó. Nữ cảnh sát tóc đỏ! Tomel nhìn sang cô, và bản năng gã mách bảo gã rằng: Cô ta là đàn bà. Cô ta sẽ do dự. Mình có thể hạ cô ta trước. Gã vung khẩu súng về phía cô. Khẩu súng trong tay Sachs giật lên và cảm giác cuối cùng của Tomel là bên đầu có cái gì đập vào ngưa ngứa. Lucy Kerr trông thấy Mary Beth loạng choạng bước ra hàng hiên, hét to thông báo rằng Culbeau đã chết, còn Rhyme và Garrett thì không sao. Amelia Sachs gật đầu, rồi bước về phía xác Sean O’Sarian. Lucy chuyển sự chú ý của mình sang xác Harris Tomel. Cô cúi xuống, bàn tay run rẩy nắm lấy khẩu súng săn Browning. Cô tự nhủ rằng mặc dù đáng lẽ cô phải tràn ngập nỗi khiếp sợ khi tò mò xem xét khẩu súng đẹp đẽ này từ bàn tay một kẻ đã chết thực tế thì cô lại hoàn toàn tập trung suy nghĩ về chính khẩu súng. Cô băn khoăn không biết liệu nó có còn đạn không. Lucy trả lời câu hỏi ấy bằng cách siết cò - mất một viên đạn tuy nhiên biết chắc chắn một viên đạn khác đã được đưa lên nòng. Cách đấy chừng năm mươi feet, Sachs đang cúi xuống lục soát xác O’Sarian, khẩu súng vẫn chĩa vào cái xác. Lucy băn khoăn tự hỏi tại sao người nữ đồng nghiệp lại phải cẩn thận thế, rồi, với sự chế giễu, đi đến kết luận đó ắt là một bước đúng chuẩn. Cô tìm thấy chiếc áo đồng phục và lại mặc vào. Nó đã bị các viên đạn nhỏ của súng săn xé rách, nhưng cô cảm thấy ngượng ngập vì cơ thể mình khi chỉ mặc mỗi chiếc áo phông bó sát. Lucy đứng bên cạnh cái cây, thở nặng nhọc trong bầu không khí nóng nực, chờ Sachs quay lại. Nỗi tức giận thuần túy - trước những sự phản bội xảy ra trong cuộc đời cô. Từ cơ thể cô, từ chồng cô, từ Chúa. Và bây giờ là từ Amelia Sachs. Lucy liếc nhìn ra phía sau, nơi Harris Tomel nằm. Ánh mắt có thể chiếu thẳng từ cho lúc nãy gã đứng đến lưng Amelia. Tình huống nghe cũng hợp lý: Tomel đã nấp dưới cỏ. Gã đứng lên, bắn vào lưng
Sachs bằng khẩu súng săn. Rồi Lucy chộp lấy súng của Sachs và giết chết Tomel. Sẽ không ai biết được sự sai khác - trừ bản thân Lucy và có lẽ, linh hồn Jesse Corn. Lucy cẩm khẩu súng săn lên, cảm thấy nó nhẹ tênh tựa một bông phi yến trong bàn tay cô. Áp cái nòng súng trơn nhẵn, thơm thơm vào má, nhớ lại lúc cô áp mặt vào thanh sắt mạ crôm chắn xung quanh chiếc giường bệnh viện sau ca phẫu thuật cắt bỏ vú. Cô hạ cái nòng súng trơn nhẵn xuống, chĩa vào chiếc áo phông màu đen của người nữ đồng nghiệp, nhằm đúng xương sống lưng cô ta. Cô ta sẽ chết không đau đớn gì. Và nhanh chóng. Nhanh chóng y như Jesse Corn. Việc này chỉ đơn giản là đối một cuộc đời tội lỗi lấy một cuộc đời trong trắng vô tội. Lạy Chúa lòng lành, hãy để con bắn một phát thật trúng đứa phản bội. Lucy nhìn xung quanh. Chẳng có ai chứng kiến cả. Ngón tay Lucy móc vào cò súng, siết lại. Nheo mắt ngắm, giữ cho cái chấm đồng của đầu ruồi không rung rinh nhờ đôi cánh tay đã khỏe mạnh lên sau nhiều năm làm vườn, nhiều năm chăm sóc một ngôi nhà - và một cuộc đời - mà không dựa dẫm vào ai. Nhằm chính xác vào giữa lưng Amelia Sachs. Làn gió nóng nực thổi vi vu qua đám cỏ mọc xung quanh cô. Cô nghĩ về Buddy, về cuộc phẫu thuật, về ngôi nhà và những mảnh vườn của mình. Lucy hạ khẩu súng xuống. Cô siết cò cho tới lúc hết đạn, rồi báng súng áp bên sườn, họng súng chĩa lên trời, cô lững thững quay lại cho chiếc ô tô đỗ phía trước ngôi nhà gỗ. Cô đặt khẩu súng xuống đất và tìm thấy điện thoại di động, liền gọi cho cảnh sát bang. Chiếc trực thăng cấp cứu tới đầu tiên, các nhân viên y tế vội vã băng bó cho Thom và đưa anh ta tới trung tâm y khoa. Một người ở lại chăm sóc Lincoln Rhyme, huyết áp của anh đang gần mức nguy kịch. Khi mấy phút sau cảnh sát tới trên chiếc trực thăng thứ hai, họ bắt giữ Amelia Sachs trước, trói quặt chân tay cô ra đằng sau, để
nằm trên nền đất nóng bỏng bên ngoài ngôi nhà, rồi họ vào bên bắt giữ Garrett Hanlon và đọc cho gã nghe các quyền của gã.
T CHƯƠNG BA MƯƠI CHÍN hom sẽ sống. Bác sĩ Phòng Cấp cứu của Trung tâm Y khoa Đại học Tổng hợp Bắc Carolina ở Avery đã nói vắn tắt: “Viên đạn ấy à? Nó vào rồi lại đi ra. Không chạm đến các bộ phận quan trọng. Tuy nhiên anh ta sẽ phải nghỉ làm một hoặc hai tháng.” Ben Kerr đã tình nguyện nghỉ học và lưu lại Tanner’s Corner vài ngày để hỗ trợ Rhyme. Anh chàng to béo cáu kỉnh: “Ông đâu thực sự xứng đáng được tôi giúp đỡ, Lincoln. Ý tôi là, khỉ gió thật, ông thậm chí chẳng buồn tự mình đứng lên bao giờ”. Vẫn chưa hoàn toàn thoải mái khi đùa cợt một người què quặt, Ben liếc nhanh sang Rhyme xem liệu kiểu trêu chọc này có quá trớn không. Chính vẻ nhăn nhó khó chịu của nhà hình sự học khẳng định rằng nó vẫn nằm trong giới hạn cho phép. Nhưng Rhyme cũng nói thêm là, tuy anh đánh giá cao lời đề nghị giúp đỡ đó. Săn sóc và cho một người liệt tứ chi ăn là công việc làm cả ngày, đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế. Lại hầu như không được cảm ơn - nếu bệnh nhân là Lincoln Rhyme. Và vì thế mà Tiến sĩ Cheryl Weaver đang thu xếp để một điều dưỡng viên chuyên nghiệp ở trung tâm y khoa đến giúp đỡ Rhyme. “Nhưng cứ ở loanh quanh đây Ben”, anh nói. “Tôi vẫn có thể cần cậu. Hầu hết các phụ tá không ai làm được quá vài ngày.” Vụ việc rất bất lợi đối với Amelia Sachs. Các bước điều tra đã chứng tỏ rằng viên đạn giết chết Jesse Corn được bắn ra từ súng của cô và tuy Ned Spoto chết rồi. Lucy Kerr đã có lời khai trình bày lại những gì Ned nói với cô về sự kiện ấy. McGuire đã tuyên bố là ông ta sẽ đòi kết tội tử hình” Cả thị trấn từng yêu mến anh chàng Jesse Corn tốt bụng và anh đã thiệt mạng trong lúc cố gắng bắt giữ Thằng Bọ, dấy lên dư luận mạnh mẽ đòi hỏi án tử hình. Jim Bell phối hợp với cảnh sát bang đã xem xét nguyên nhân tại sao Culbeau cùng đồng bọn lại tấn công Rhyme và các cảnh sát. Một điều tra viên từ Raleigh tìm thấy hàng chục ngàn đô la tiền mặt giấu tại nhà chúng. “Rượu lậu thì không thể nào mang lại nhiều tiền
như vậy được”, viên thám tử này nói. Rồi người ta nhớ tới ý kiến của Mary Beth: “Ngôi nhà gỗ hẳn ở gần một khu vực trồng cần sa - ba gã kia có lẽ đang câu kết với hai gã đã tấn công Mary Beth. Garrett hẳn đã tình cờ phát hiện ra hoạt động của chúng.” Bây giờ, ngày hôm sau cái ngày xảy ra những sự kiện kinh khủng ở ngôi nhà gỗ vốn là xưởng chưng cất rượu lậu, Rhyme ngồi trên chiếc Storm Arrow - động cơ vẫn chạy được mặc dù bị đạn xuyên thủng một lỗ - trong la-bô tạm thời, đợi người phụ tá mới. Anh đang rầu rĩ nghĩ về số phận của Sachs thì một bóng người xuất hiện ở ngưỡng cửa. Anh ngẩng nhìn và trông thấy Mary Beth McConnell. Cô bước vào phòng. “Ông Rhyme.” Anh để ý thấy Mary Beth mới xinh đẹp làm sao, ánh mắt mới tự tin làm sao, và nụ cười chỉ chực nở. Anh hiểu Garrett Hanlon đã bị cô cuốn hút biết bao. “Đầu cô thế nào rồi? Anh hất đầu chỉ chỗ thái dương cô bị băng bó. “Tôi sẽ có một vết sẹo khá ấn tượng đấy. Tôi nghĩ là tôi sẽ không xước hẳn tóc ra đằng sau nữa. Nhưng không có tổn thương gì nghiêm trọng.” Giống như tất cả những người khác, Rhyme cảm thấy nhẹ nhõm khi biết rằng thực tế Mary Beth chưa bị Garrett cưỡng hiếp. Gã đã nói đúng sự thật về tờ khăn giấy thấm máu: Lúc ở dưới tầng hầm của ngôi nhà gỗ, Garrett khiến cô giật mình và vội vã đứng lên, đập đầu vào một cái xà thấp. Gã hiển nhiên là bị kích thích, quả có vậy, nhưng đây chỉ vì các hoóc môn của tuổi mười sáu, và Garrett chưa hề động chạm đến cô ngoài việc thận trọng bế cô lên gác, lau vết thương và băng bó lại. Gã hết lời xin lỗi vì cô bị đau. Cô gái lúc này bảo Rhyme: “Tôi chỉ muốn cảm ơn ông. Tôi không biết tôi sẽ làm gì nếu không có ông. Tôi xin lỗi về chuyện bạn ông, cô cảnh sát ấy. Nếu không nhờ cô ây thì bây giờ tôi chết rồi, tôi chắc chắn như thế. Hai gã đàn ông đó đang định... chà, ông có thể hình dung ra. Hãy cảm ơn cô ấy hộ tôi”. “Tôi sẽ nói.” Rồi Rhyme hỏi: “Cô làm ơn trả lời một chuyện được không?”. “Chuyện gì?”
“Tôi biết cô đã cung cấp lời khai làm chứng với Jim Bell, nhưng tôi chỉ biết về những gì xảy ra tại Bến tàu kênh Nước đen thông qua các chứng cứ. Và một số chứng cứ không được rõ ràng. Liệu cô có thể kể lại cho tôi nghe?” “Tất nhiên... Tôi đang ở dưới bờ sông, phủi đất cát khỏi những di vật tôi phát hiện được. Tôi ngẩng nhìn và trông thấy Garrett. Tôi rất bực bội. Tôi chẳng muốn bị quấy rầy. Bất cứ khi nào trông thấy tôi hắn cũng xán ngay lại và bắt đầu trò chuyện y như chúng tôi là bạn thân không bằng. Buổi sáng hôm ấy hắn ở trong tâm trạng kích động. Hắn nói những câu đại loại như: “Chị đáng lẽ không nên đến đây một mình, nguy hiểm lắm, nhiều người đã chết tại Bến tàu kênh Nước đen.” Những câu đại loại vậy. Hắn khiến tôi nổi khùng. Tôi bảo hắn để tôi yên. Tôi phải làm việc. Hắn tóm tay tôi và cố gắng kéo tôi rời khỏi đấy. Rồi Billy Stail từ rừng đi ra, cậu ta quát: “Đồ con hoang” hay cái gì đó và bắt đầu đánh Garrett bằng xẻng, nhưng gã giật lấy xẻng từ tay Billy, đập chết cậu ta. Sau đó, gã lại tóm tay tôi bắt buộc tôi trèo vào thuyền và đưa tôi tới ngôi nhà gỗ. “ “Garrett đã rình rập cô bao lâu rồi?” Mary Beth cười to. “Rình rập? Không, không, ông đã nói chuyện với mẹ tôi, tôi cuộc là thế. Sáu tháng trước, tôi vào trung tâm thị trấn và trông thấy mấy đứa bạn cùng trường hắn đang xử lý hắn. Tôi đuổi mấy đứa đi. Việc đó khiến tôi trở thành bạn gái hắn, tôi nghĩ thế. Hắn bám theo tôi khắp nơi nhưng tất cả chỉ vậy thôi. Kiểu như ngưỡng mộ tôi từ xa. Tôi từng chắc chắn rằng hắn vô hại.” Nụ cười của cô gái tắt dần. “Cho tới hôm vừa rồi.” Mary Beth liếc nhìn đồng hồ đeo tay. “Tôi phải đi. Nhưng tôi muốn hỏi ông - lý do thứ hai để tôi tới đây - là nếu ông không cần sử dụng làm chứng cứ nữa, liệu tôi có thể lấy chỗ xương còn lại không?” Rhyme, ánh mắt lúc bây giờ đang đăm đăm nhìn ra qua cửa sổ khi những ý nghĩ về Amelia Sachs lén lút quay lại đầu óc anh, chậm chạp quay sang Mary Beth. “Xương nào?”, anh hỏi. “Ở Bến tàu kênh Nước đen ấy? Nơi Garrett bắt cóc tôi ấy?” Rhyme lắc đầu. “Cô muốn nói điều gì vậy?”
Mary Beth nhăn mặt lo lắng. “Chỗ xương - những di vật tôi đã tìm thấy. Tôi đang đào nốt thì Garrett bắt cóc tôi. Chúng rất quan trọng... Ông không có ý bảo là chúng bị thất lạc đấy chứ?” “Chẳng ai thu được cái xương nào tại hiện trường vụ án cả”, Rhyme nói. “Báo cáo chứng cứ không hề đề cập tới.” Mary Beth lắc đầu. “Không, không... Chúng không thể mất được!” “Xương kiểu gì?” “Tôi đã tìm thấy một số hài cốt của Những Người Thực Dân Biến Mất ở Roanoke. Từ cuối thế kỷ XVI.” Kiến thức lịch sử của Rhyme hầu như chỉ hạn chế ở thành phố New York. “Vấn đề này không quen thuộc lắm đối với tôi.” Tuy nhiên, khi Mary Beth trình bày về những người tới định cư trên đảo Roanoke thuở xa xưa và việc họ biến mất, anh gật đầu. “Tôi có nhớ ra gì đó từ hồi học phổ thông. Tại sao cô cho rằng đó là hài cốt của họ?” “Những cái xương hết sức lâu đời rồi, đã mục, và chúng không ở trong một khu vực chôn cất của những người Algonquin cũng không ở trong một nghĩa địa của những người thực dân. Chúng chỉ được vùi xuống đất mà không có bất cứ sự đánh dấu nào. Đây là cách đặc trưng các chiến binh hay làm đối với xác kẻ thù. Đây...” Mary Beth mở ba lô. “Tôi đã gói được vài cái trước khi Garrett đưa tôi đi.” Cô nhấc vài cái xương đang gói trong giấy bóng bọc thực phẩm ra, chúng đen sì và mục nát. Rhyme nhận ra một cái xương quay, một mảnh xương bả vai, một đoạn xương đùi và một cái xương chậu. “Còn cả chục cái nữa”, Mary Beth nói. “Đây là một trong những phát hiện lớn nhất lịch sử nước Mỹ. Chúng rất có giá trị. Tôi phải tìm lại chúng.” Rhyme đăm đăm nhìn cái xương quay - một trong hai xương cẳng tay. Lát sau, anh ngẩng lên. “Cô có thể đi ngược dãy hành lang đến văn phòng Cảnh sát trưởng được không? Hỏi Lucy Kerr và bảo cô ấy xuống đây một phút.” “Về việc những cái xương à?”, Mary Beth hỏi. “Có thể.”
† † † † † Đó là câu mà cha Amella Sachs hay nói: “Khi ta di chuyển, chúng không thể bắt được ta.” Câu này có nhiều ý nghĩa. Nhưng trên hết nó là lời khẳng định triết lý chung của hai người, cha và con gái. Cả hai đều hâm mộ những chiếc xe hơi tốc độ cao, đều say mê công việc của cảnh sát đường phố, sợ hãi những không gian khép kín và những cuộc đời chẳng đi tới đâu. Nhưng bây giờ thì người ta đã tóm được cô. Tóm được vĩnh viễn. Và những chiếc xe quý giá của cô, cuộc đời làm cảnh sát quý giá của cô, cuộc đời của cô với Rhyme, tương lai của cô với những đứa trẻ... tất cả đã bị hủy hoại. Trong phòng giam, Sachs bị tẩy chay. Những cảnh sát mang thức ăn và cà phê vào cho cô không nói gì với cô cả, chỉ lạnh lùng nhìn cô trừng trừng. Rhyme đang mời một luật sư từ New York bay xuống nhưng, giống như hầu hết các sĩ quan cảnh sát, Sachs cũng thông thạo luật hình sự chẳng kém gì các luật sư. Cô biết rằng, bất kể có thương lượng ra sao giữa một người nhiều kinh nghiệm từ Manhattan đến và ủy viên công tố quận Paquenoke, cuộc đời mà cô từng sống kết thúc rồi. Trái tim cô tê liệt y như cơ thể của Rhyme vậy. Trên sàn, một con côn trùng cần mẫn bò từ bức tường này sang bức tường khác. Nhiệm vụ của nó là gì? Ăn, ghép đôi, hay tìm chỗ trú ngụ? Nếu ngày mai tất cả mọi người trên trái đất biến mất, thế giới vẫn tiếp tục tồn tại bình thường. Nhưng nếu côn trùng biến mất thì đời sống sẽ kết thúc nhanh chóng - nói chung, trong vòng một thế hệ. Cây cối sẽ chết hết, rồi tới các con vật, và trái đất sẽ một lần nữa biến thành khối đá tảng khổng lồ. Cánh cửa dẫn sang văn phòng chính mở toang. Một cảnh sát mà Sachs không nhận ra là ai đứng đó. “Cô có điện thoại.” Anh ta mở cửa phòng giam, còng tay cô và đưa cô tới trước chiếc bàn nhỏ bằng sắt bên trên đặt máy điện thoại. Mẹ cô gọi, cô đồ là thế. Chắc
là Rhyme đã gọi cho bà và thông báo với bà tin tức này. Hoặc người bạn thân nhất của cô ở New York, Amy. Nhưng khi cô nhấc ống nghe lên, đôi còng dày kêu leng keng, cô nghe thấy giọng Rhyme. “Ở đó thế nào hả Sachs? Có mát mẻ không?” “Không sao”, cô lẩm bẩm. “Luật sư sẽ tới đây đêm nay. Ông ta giỏi đấy. Ông ta đã làm về luật hình sự hai mươi năm. Ông ta từng cãi trắng án cho một đối tượng vướng vào một vụ đột nhập ăn trộm do anh buộc tội. Em biết là bất cứ ai làm được như thế đều phải giỏi.” “Rhyme, thôi nào. Tại sao còn mất công? Em là một người từ nơi khác đến đã cướp một tên sát nhân ra khỏi nhà giam và giết chết một cảnh sát địa phương. Tình huống vô vọng hết mức rồi.” “Chúng ta sẽ nói về vụ của em sau. Anh phải hỏi em một việc khác. Em đã ở hai ngày với Garrett. Em và hắn có nói chuyện gì không?” “Tất nhiên là có.” “Chuyện gì?” “Em không biết nữa. Côn trùng. Rừng, đầm lầy.” Tại sao anh lại hỏi cô những điều này? “Em không nhớ.” “Anh cần em nhớ ra. Anh cần em kể cho anh nghe tất cả những chuyện hắn đã nói.” “Tại sao phải mất công, Rhyme?”, Sachs nhắc lại. “Thôi nào, Sachs. Hãy chiều ý một kẻ què quặt già nua, được không?”
L CHƯƠNG BỐN MƯƠI incoln Rhyme ngồi một mình trong la-bô tạm thời, đăm đăm nhìn các bảng chứng cứ. TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG TRỰC TIẾP - BẾN TÀU KÊNH NƯỚC ĐEN • Khăn giấy Kleenex thấm máu • Bụi đá vôi • Nitrate • Phốt phát • Ammonia • Chất tẩy • Camphone TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNC GIÁN TIẾP PHÒNG RIÊNG CỦA GARRETT • Xạ chồn hôi • Lá thông bị cắt rời khỏi cành • Các bức vẽ côn trùng • Ảnh chụp gia đình • Ảnh chụp Mary Beth • Các sách về côn trùng • Dây câu • Tiền • Chìa khóa chưa xác định • Dầu hỏa • Ammonia • Nitrate • Camphene TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP - MỎ ĐÁ
• Túi vải bao bì cũ - Không đọc được tên in bên trên • Ngô - Thức ăn chăn nuôi? • Muội than trên túi • Nước đóng chai nhãn hiệu Deer Park • Bích quy phó mát nhãn hiệu Planters TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP - CỐI XAY • Sơn nâu dây trên quần • Cây gọng vó • Đất sét • Rêu nước • Nước trái cây • Sợi giấy • Viên chua làm mồi câu • Đường • Camphene • Chất cồn • Dầu hỏa • Men nở Rồi Rhyme nghiên cứu tấm bản đồ, ánh mắt lần theo dòng chảy của sông Paquenoke kể từ lúc nó khởi nguồn từ đầm lầy Sầu Thảm rồi đi qua Bến tàu kênh Nước đen và uốn khúc về phía tây. Có một chỗ gồ lên trên mặt giấy cứng của tấm bản đồ - một nếp gấp khiến người ta cứ muốn vuốt cho nó phẳng. Đó là cuộc đời mình trong mấy năm qua, Lincoln Rhyme tự nhủ thầm: những chỗ ngứa không thể gãi được. Có thể, mình sẽ sớm làm được việc ấy. Sau khi Tiến sĩ Weaver cắt ra, khâu lại và nhét đầy vào mình các tế bào non trẻ và kỳ diệu của cá mập... Có thể khi đó mình sẽ đưa được bàn tay trên những tấm bản đồ giống như tấm bản đồ này, vuốt phẳng một nếp gấp. Một động tác vô ích, không cần thiết, thực sự là vậy. Nhưng là một chiến thắng mới huy hoàng làm sao.
Có tiếng bước chân. Đi giày cao cổ, Rhyme suy luận qua âm thanh. Với gót da cứng. Khoảng cách giữa các bước chân cho thấy đây phải là một người đàn ông cao lớn. Anh hy vọng đây là Jim Bell và đúng là anh ta thật. Thận trọng thổi vào ống điều khiển, Rhyme quay khỏi bức tường. “Lincoln”, viên cảnh sát trưởng hỏi. “Có chuyện gì vậy? Nathan báo có chuyện khẩn cấp.” “Vào đi. Đóng cánh cửa lại. Nhưng trước hết - có ai ngoài hành lang không?” Bell thoáng mỉm cười trước vẻ bí mật này và nhìn ra bên ngoài. “Không có ai.” Rhyme tự nhủ rằng nếu là ông anh họ của nhân vật này, Roland, thì anh ta sẽ còn thêm một câu thành ngữ miền Nam nào đấy. “Yên ắng như nhà thờ vào ngày lĩnh lương” là câu anh nghe thấy anh chàng Bell người miền Bắc thi thoảng dùng. Viên cành sát trưởng đẩy cho cánh cửa đóng lại rồi bước tới bên bàn, đứng dựa vào đấy, khoanh hai tay. Rhyme hơi quay đi và tiếp tục nghiên cứu tấm bản đồ khu vực. “Tấm bản đồ của chúng ta không kéo dài về phía bắc và phía tây đủ để thể hiện được kênh đào đầm lầy Sầu Thảm, đúng không?” “Cái kênh đào đấy ấy à? Không nó không thể hiện.” Rhyme hỏi; “Anh biết nhiều về nó chứ?” “Không nhiều lắm”, Bell đáp một cách tôn trọng. Anh ta mới biết Rhyme một thời gian ngắn nhưng hẳn đã cảm nhận được khi nào thì phải tỏ ra trung thực. Tôi đang làm một nghiên cứu nhỏ”, Rhyme nói, hất đầu chỉ chiếc điện thoại. “Kênh đào đầm lầy Sầu Thảm là một bộ phận của chuyến hàng hải nội địa. Anh biết là anh có thể đi thuyền suốt từ Norfolk, Virginia, xuôi xuống Miami mà chẳng cần ra ngoài biển?” “Tất nhiên. Mọi người ở Carolina đều biết tuyến hàng hải nội địa ấy. Tôi chưa bao giờ đi theo tuyến này. Tôi không thích ngồi tàu bè lắm. Xem phim Titanic tôi còn bị say sóng.” “Đã mất mười hai năm để tạo nên hệ thống kênh đào này. Nó kéo dài hai mươi hai dặm. Đào hoàn toàn bằng tay. Thật đáng kinh ngạc, anh có nghĩ thế không?... Thư giãn nào, Jim. Chuyện này là có ý của nó. Tôi xin cam đoan với anh. Hãy nhìn cái đường bền trên
kia, cái đường giữa Tanner’s Corner và sông Paquenoke. Từ ôG-11 sang ôG-10.” “Anh muốn nói con kênh đào của chúng tôi ấy à? Kênh Nước đen ấy à?” “Đúng thế. Bây giờ, một chiếc thuyền có thể đi ngược theo đó vào sông Paquo rồi vào đầm lầy Sầu Thảm và…” Tiếng bước chân đến gần nghe không rõ ràng bằng nửa tiếng bước chân của Bell lúc trước, vì cánh cửa đang đóng, và có chút cảnh báo trước khi cánh cửa được đẩy ra. Rhyme ngừng nói. Mason Germain đứng ở ngưỡng cửa. Anh ta liếc nhìn Rhyme rồi liếc nhìn sếp mình, nói: “Tôi băn khoăn không biết anh đi đâu, Jim. Chúng ta phải gọi điện cho Elizabeth City. Đại úy Dexter có vài câu hỏi về việc xảy ra ở xưởng chưng cất rượu lậu cũ.” “Tôi chỉ đang nói chuyện với Rhyme. Chúng tôi đang nói tới...” Nhưng Rhyme vội vã ngắt lời Bell: “Này, Mason, tôi tự hỏi liệu anh có thể dành cho chúng tôi ít phút riêng tư ở đây được không?” Mason liếc nhìn từ người này sang người kia. Anh ta chậm chạp gật đầu. “Họ đang muốn trao đổi với anh sớm đấy, Jim ạ.” Anh ta đi khỏi trước khi Bell kịp đáp lại gì. “Anh ta đi chưa?”, Rhyme hỏi. Một lần nữa, Bell liếc nhìn xuôi theo dãy hành lang rồi gật đầu. “Tất cả chuyện này là gì, Lincoln?” “Anh có thể kiểm tra cửa sổ được không? Để đảm bảo rằng Mason đã đi khỏi? Ồ, và tôi muốn đóng cánh cửa lại.” Bell đóng cánh cửa. Rồi anh ta bước tới chỗ cửa sổ và nhìn ra. “Ờ. Anh ta đã ra phố. Lý do của tất cả chuyện này...?” Anh ta giơ hai bàn tay lên để hoàn tất nốt ý nghĩ. “Anh biết về Mason đến mức độ nào?” “Cũng như hầu hết các nhân viên của tôi thôi. Vì sao anh lại hỏi câu ấy?” “Vì hắn đã sát hại gia đình Garrett Hanlon.” “Cái gì?” Bell đã nở nụ cười nhưng nụ cười nhanh chóng biến mất. “Mason ấy à?” “Mason”, Rhyme nói. “Nhưng tại sao lại có thể thế được?” “Vì Henry Davett trả tiền cho hắn.”
“Hẵng hượm”, Bell nói. “Tôi đang chậm hơn anh mất mấy nhịp.” “Tôi chưa thể chứng minh được. Nhưng tôi chắc chắn.” “Henry ấy à? Ông ta có dính dáng như thế nào?” Rhyme nói: “Tất cả liên quan tới kênh Nước đen.” Anh sa vào cái giọng giảng bài của mình, mắt không rời tấm bản đồ. “Này nhé, mục đích của việc đào các con kênh vào hồi thế kỷ XVIII là để tạo ra các tuyến giao thông đáng tin cậy vì đường bộ xấu quá. Nhưng khi đường bộ và đường sắt tốt lên, những người vận chuyển không sử dụng đường thủy nữa.” “Anh tìm thấy tất cả các thông tin này từ đâu vậy?” “Hiệp hội Lịch sử ở Raleigh. Tôi đã trò chuyện với một phụ nữ duyên dáng, bà Julie DeVere. Theo bà ấy thì kênh Nước đen đã đóng cửa ngay sau cuộc Nội chiến. Nó đã không được sử dụng trong một trăm ba mươi năm. Cho tới thời gian Henry Davett bắt đầu lại sử dụng nó để chạy xà lan.” Bell gật đầu. “Đó là năm năm trước.” Rhyme tiếp tục. “Cho tôi hỏi này - anh có bao giờ thắc mắc tại sao Davett lại sử dụng nó?” Viên cảnh sát trưởng lắc đầu. “Tôi nhớ là một số người chúng tôi từng hơi lo lắng rằng lũ trẻ sẽ cố gắng bơi ra chỗ xà lan và có thể bị thương hay bị chết đuối, nhưng không đứa nào làm vậy và chúng tôi thôi suy nghĩ về việc này. Tuy nhiên bây giờ anh hỏi thì tôi cũng không biết tại sao ông ta lại sử dụng con kênh. Ông ta vẫn có xe tải đi đi lại lại suốt. Chạy xe tải tới Norfolk thì chẳng thành vấn đề gì.” Rhyme hất đầu chỉ bảng chứng cứ. “Câu trả lời ở ngay kia. Cái dấu vết mà tôi chưa tìm thấy nguồn gốc: camphene.” “Cái chất để đốt đèn lồng ấy à?” Rhyme lắc đầu, nhăn mặt. “Không. Tôi đã mắc sai lầm ở chỗ đó. Đúng, camphene từng được sử dụng để đốt đèn lồng. Nhưng nó cũng còn được sử dụng vào mục đích khác nữa. Nó có thể được sử dụng để điều chế toxaphene.” “Là cái gì vậy?” “Một trong những loại thuốc trừ sâu nguy hiểm nhất. Nó được sử dụng chủ yếu ở miền Nam - cho tới thập niên tám mươi khi Cơ quan Bảo vệ Môi trường cấm sử dụng nó vào hầu hết các mục đích.” Rhyme tức tối lắc đầu. “Tôi đã cho rằng vì toxaphene đã bị cấm, việc
cân nhắc nguồn gốc chất camphene kia theo hướng thuốc trừ sâu là vô ích, và nó chắc chắn phải từ những chiếc đèn lồng cổ. Trừ việc chúng ta chưa hề tìm thấy bất cứ chiếc đèn lồng cổ nào. Đầu óc tôi đã sa vào một lối mòn và chẳng thoát ra được. Không đèn lồng cổ à? Thế thì tôi đáng lẽ đã phải rà theo danh sách và bắt đầu xem xét tới thuốc trừ sâu. Và khi tôi xem xét tới - sáng hôm nay - tôi đã phát hiện được nguồn gốc chất camphene kia.” Bell gật đầu, đầy hào hứng. “Là từ đâu?” “Khắp mọi nơi”, Rhyme nói. “Tôi đã đề nghị Lucy lấy mẫu đất và nước xung quanh Tanner’s Corner. Toxaphene có ở khắp mọi nơi - trong nước, trong đất. Tôi đáng lẽ nên chú ý tới chi tiết Sachs nói với tôi hôm trước khi cô ấy đang tham gia tìm kiếm Garrett. Cô ấy trông thấy những khu vực cằn cỗi rộng mênh mông. Cô ấy cho là vì mưa acid, nhưng không phải vậy. Đó là vì toxaphene. Nồng độ toxaphene cao nhất có ở vài dặm xung quanh nhà máy cửa Davett - Bến tàu kênh Nước đen và con kênh. Ông ta đã sản xuất nhựa đường và giấy dầu để che giấu việc sản xuất toxaphene.” “Nhưng nó bị cấm cơ mà, tôi tưởng anh đã nói như thế.” “Tôi đã gọi điện cho một người bạn là nhân viên mật vụ FBI và anh ta đã gọi điện cho Cơ quan Bảo vệ Môi trường. Nó không bị cấm hoàn toàn - các chủ trang trại có thể sử dụng nó trong trường hợp cấp bách. Nhưng đây đâu phải lý do để Davett sản xuất hàng triệu tấn. Người nhân viên ở Cơ quan Bảo vệ Môi trường giải thích về cái gọi là “vòng quay thuốc độc.” “Nghe ghê gớm quá.” “Đúng thế. Toxaphene quả có bị cấm nhưng lệnh cấm ở Mỹ chỉ là cấm sử dụng. Nó có thể được sản xuất tại đây rồi bán sang các nước khác.” “Và nó có thể được sử dụng ở các nước khác.” “Nó được phép sử dụng ở hầu hết các nước Thế giới thứ ba và Mỹ Latin. Cái vòng quay là như thế này: các nước đó phun thuốc trừ sâu lên lương thực thực phẩm và đưa nó trở lại Mỹ. Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Lương thực thực phẩm chỉ thanh tra một tỷ lệ nhỏ rau và trái cây nhập khẩu nên vô khối người ở Mỹ vẫn bị đầu độc, dù toxaphene đã bị cấm.”
Bell cất tiếng cười hoài nghi: “Và Davett không thể vận chuyên nó theo đường bộ vì sẽ không quận nào hay thị trấn nào cho phép việc vận chuyển toxaphene ngang qua. Và nhật ký hành trình trên các xe tải của ông ta sẽ cung cấp thông tin về loại hàng hóa mà xe chuyên chở. Chưa kể đến vấn đề dư luận nếu người ta biết ông ta đang làm gì.” “Chính xác.” Rhyme gật đầu. “Vì thế ông ta mở lại con kênh để vận chuyển toxaphene qua tuyến hàng hải nội địa tới Norfolk, ở đó nó được đưa lên các tàu nước ngoài. Chỉ có điều nảy sinh một vấn đề - khi con kênh đóng cửa hồi thế kỷ VXIII, đất đai xung quanh đây đã được bán cho các cá nhân. Những người có nhà ngay sát kênh có quyền quản lý việc sử dụng kênh.” Bell nói: “Thế là Davett đã trả tiền để thuê những đoạn kênh của họ.” Anh ta gật đầu, sực hiểu ra. “Và ông ta hẳn đã trả rất nhiều tiền - hãy xem các ngôi nhà ở Bến tàu kênh Nước đen mới to tát làm sao. Và hãy ngẫm nghĩ về những chiếc xe tải, xe Mercedes, xe Lexus đẹp đẽ mà người ta lái đi xung quanh đây. Nhưng chuyện này thì liên quan gì tới Mason và gia đình Garrett?” “Đất đai của cha Garrett ở bên bờ kênh. Tuy nhiên, ông ấy không bán quyền sử dụng. Vì thế Davett hoặc ai đó trong công ty ông ta đã thuê Mason thuyết phục cha Garrett bán và khi ông ấy vẫn không bán, Mason lựa lấy mấy đứa rác rưởi người địa phương giúp đỡ hắn sát hại gia đình đó - Culbeau, Tomel và O’Sarian. Rồi tôi phỏng đoán rằng Davett đã hối lộ để người thi hành di chúc bán mảnh đất cho ông ta.” “Nhưng gia đình Garrett chết trong một tai nạn. Một tai nạn ô tô. Chính tôi đã trông thấy bản báo cáo.” “Phải chăng Mason là sĩ quan soạn bản báo cáo ấy?” “Tôi không nhớ, nhưng có thể thế, Bell thừa nhận. Anh ta nhìn Rhyme với nụ cười ngưỡng mộ. “Làm sao mà anh phát hiện ra được chuyện này?” “Ồ, dễ dàng thôi - vì không bao giờ có sương giá vào tháng Bảy cả. Dù sao thì cũng không có ở Bắc Carolina.” “Sương giá ấy à?” “Tôi đã nói chuyện với Amelia. Garrett kể cho cô ấy nghe là vào buổi tối gia đình hắn thiệt mạng, chiếc ô tô bị bám sương giá, còn
cha mẹ và em gái hắn thì run cầm cập. Nhưng vụ tai nạn xảy ra vào tháng Bảy. Tôi nhớ đã trông thấy bài báo trong tập hồ sơ - bức ảnh chụp Garrett và gia đình. Hắn mặc áo phông và bức ảnh chụp họ tại một bữa tiệc kỷ niệm ngày mùng Bốn tháng Bảy. Theo bài báo, bức ảnh được chụp trước khi tai nạn xảy ra một tuần.” “Thế thằng nhãi nói tới cái gì? Sương giá, run cầm cập à?” “Mason và Culbeau đã sử dụng một ít toxaphene của Davett để sát hại cái gia đình kia. Tôi đã trao đổi với bác sĩ của tôi tại trung tâm y khoa. Chị ấy nói rằng trong những trương hợp bị đầu độc thần kinh cực điểm, hay xuất hiện tình trạng co cơ. Đó là hiện tượng run cầm cập mà Garrett đã trông thấy. Sương giá thì có thể là hơi hoặc cặn hóa chất còn trong xe.” “Nếu hắn trông thấy tại sao hắn chẳng kể cho ai nghe?” “Tôi mô tả thằng nhãi với bác sĩ. Và chị ấy nói rằng có vẻ như buổi tối hôm đó hắn cũng bị đầu độc. Chỉ đủ khiến hắn rơi vào tình trạng nhạy cảm đa hóa chất. Mất trí nhớ, tổn thương não, phản ứng dữ dội trước các loại hóa chất khác trong không khí, trong nước. Anh nhớ những lằn đỏ trên da hắn chứ?” “Tất nhiên.” “Garrett nghĩ đó là vì lá sồi độc, nhưng không phải vậy. Bác sĩ bảo tôi rằng da nổi ban là một triệu chứng kinh điển của tình trạng nhạy cảm đa hóa chất. Nó khởi phát khi người ta tiếp xúc với những lượng hết sức nhỏ các hóa chất mà bình thường chẳng gây tác hại gì đến ai. Thậm chí xà phòng hay nước hoa cũng làm da nổi ban.” “Nghe hợp lý đấy”, Bell nói. Rồi, chau mày, anh ta nói thêm: “Nhưng nếu anh không có bằng chứng cụ thể thì tất cả những gì chúng ta đang có chỉ là sự phỏng đoán”. “Ồ, tôi nên đề cập tới mới phải.” Rhyme chẳng kiềm chế nổi một nụ cười yếu ớt, sự khiêm tốn chưa bao giờ là một phẩm chất mà anh giỏi thể hiện ra bên ngoài. “Tôi có vài bằng chứng cụ thể. Tôi đã phát hiện được xác cha mẹ và em gái Garrett.”
T CHƯƠNG BỐN MƯƠI MỐT ại khách sạn Albemarle Manor, cách khu tạm giam của quận Paquenoke một khối phố, Mason Germain không chờ đợi thang máy mà leo luôn thang bộ, các bậc thang trải thảm màu nâu vàng xơ xác. Anh ta tìm thấy phòng 201 và gõ cửa. “Vào đi.” Giọng nói cất lên. Mason từ từ đẩy mở cánh cửa, hé lộ một căn phòng quét sơn màu hồng đang tắm trong ánh nắng buổi chiều vàng rực rỡ. Bên trong nóng ngột ngạt. Anh ta không thể tưởng tượng được chủ sở hữu hiện tại của căn phòng lại thích tình trạng như thế này, nên anh ta đồ rằng gã - cái tay đang ngồi bên bàn kia - hoặc là quá lười biếng đến nỗi không buồn bật máy điều hòa nhiệt độ hoặc là quá ngu ngốc đến nỗi không biết bật nó ra sao. Điều ấy khiến Mason càng tăng thêm nỗi ngờ vực. Gã đàn ông gốc Phi, thân hình rắn chắc và nước da đặc biệt thẫm màu, mặc một bộ com lê đen nhàu nhĩ. Tại sao gã lại không tự gây sự chú ý chứ. Mason khinh khỉnh nghĩ bụng. Gã Malcom X chết tiệt[38] . “Anh là Germain?”, gã đàn ông hỏi. “Phải rồi.” Đôi chân gã đàn ông gác trên chiếc ghế dựa kê trước mật và khi gã rút bàn tay từ dưới tờ nhật báo Người quan sát Charlotte ra, những ngón tay dài của gã đang nắm khẩu súng lục tự động nòng dài. “Hành động ấy trả lời một trong số các câu hỏi của tôi”, Mason nói. “Rằng liệu anh có súng không.” “Câu hỏi thứ hai là gì?”, gã đàn ông mặc com lê hỏi. “Rằng liệu anh có biết sử dụng nó không.” Gã đàn ông chẳng nói chẳng rằng, cẩn thận đánh dấu đoạn đề cập tới mình trong một bài báo bằng mẩu bút chì ngắn ngủn. Trông gã y như đứa học trò lớp ba đánh vật với bảng chữ cái.
Mason lại im lặng quan sát gã đàn ông, rồi cảm thấy dòng mồ hôi đáng ghét chảy dọc xuống mặt. Không buồn xin phép, Mason bước vào buồng tắm, giật lấy chiếc khăn lau mặt, xong vứt nó xuống nền. Gã đàn ông cất tiếng cười, cũng đáng ghét y như dòng mồ hôi lúc nãy, và nói: “Tôi đang có ấn tượng rất rõ ràng rằng anh không ưa cái kiểu của tôi lắm”. “Đúng, tôi nghĩ là tôi không ưa”, Mason trả lời. “Nhưng nếu anh biết việc anh sẽ làm thì tôi ưa hay không ưa cái gì không quan trọng.” “Điều đó hoàn toàn đúng”, gã da đen lạnh nhạt đáp. “Vậy, hãy nói tôi nghe. Tôi không muốn ở đây lâu hơn mức cần thiết.” “Cách hành động đây. Ngay bây giờ Rhyme đang nói chuyện với Jim Bell tại trụ sở chính quyền quận. Còn Amelia Sachs, cô ta ở trong khu tạm giam phía trên con phố này.” “Chúng ta nên đến đâu trước nhỉ?” Không chần chừ, Mason nói: “Amelia”. “Vậy chúng ta sẽ làm như thế.” Gã đàn ông nói y như thể đó là ý tưởng của gã. Gã cất khẩu súng đi, đặt tờ nhật báo lên chiếc tủ gương trang điểm, rồi, với sự lịch thiệp mà Mason chắc chắn rằng không có gì khôi hài hơn, nói: “Mời ông ra trước”. Và gã chỉ tay về phía cánh cửa. † † † † † “Xác gia đình nhà Hanlon à?”, Jim Bell hỏi Rhyme. “Ở đâu?” “Đằng kia”, Rhyme nói, hất đầu chỉ một đống xương lúc trước ở trong ba lô của Mary Beth. “Chúng là những gì Mary Beth tìm thấy tại Bến tàu kênh Nước đen. Cô ta tưởng chúng là xương những người sống sót của Thuộc Địa Biến Mất. Nhưng tôi phải tiết lộ cho cô ta biết rằng chúng không lâu đời đến mức ấy. Chúng trông có vẻ mục nát, tuy nhiên đó đơn giản vì chúng đã bị thiêu cháy một phần. Tôi từng làm công việc khám nghiệm khảo cổ nhiều lần và tôi nhận ra ngay là chúng mới nằm dưới đất chừng năm năm thôi - đúng khoảng thời gian kể từ khi gia đình nhà Hanlon thiệt mạng. Chúng là xương một người đàn ông gần bốn mươi tuổi, một người phụ nữ
cũng trạc tuổi ấy đã từng sinh con và một đứa bé gái chừng mười tuổi. Đây chính xác là sự mô tả về gia đình của Garrett.” Bell nhìn đống xương. “Tôi không hiểu.” “Đất của gia đình nhà Garrett ở ngay bên kia đường 112, đoạn chạy qua Bến tàu kênh Nước đen, phía bờ sông. Mason và Culbeau đầu độc gia đình đó rồi thiêu cháy xác họ và đem chôn, còn xe thì đẩy xuống nước. Davett đã hối lộ để nhân viên điều tra làm báo cáo láo và trả tiền cho một người nào đấy ở nhà tang lễ để người này giả vờ là có hỏa táng mấy cái xác. Tôi đảm bảo rằng phía dưới mấy ngôi mộ không có gì. Mary Beth hẳn đã nói chuyện tìm thấy chỗ xương với ai đó và chuyện lọt tới tai Mason. Hắn thuê Billy Stail đến Bến tàu kênh Nước đen thủ tiêu cô gái và đánh cắp các chứng cứ - tức chỗ xương.” “Cái gì? Billy ư?” “Chỉ có điều Garrett lại tình cờ ở đó, canh chừng cho Mary Beth. Anh biết đấy, cậu ta đã nhận định đúng: Bến tàu kênh Nước đen là một chốn nguy hiểm. Người ta quả đã chết ở đó - những vụ khác xảy ra trong vòng vài năm qua. Chỉ có điều không phải Garrett giết họ. Mà là Mason và Culbeau. Họ bị sát hại vì đã mắc bệnh do nhiễm toxaphene và bắt đầu nghi ngờ nguyên nhân tại sao. Tất cả mọi người ở thị trấn đều biết Thằng Bọ, bởi vậy Mason hoặc Culbeau đã giết một cô gái - Meg Blanchard - bằng tổ ong bắp cày, nhằm tạo cái vẻ như cậu ta đã làm việc ấy. Mấy người kia thì bị bọn chúng đập đầu rồi ném xuống kênh cho chết đuối. Những ai không thắc mắc gì chuyện bệnh tật - cha Mary Beth và Lucy Kerr chẳng hạn - thì bọn chúng không bận tâm.” “Nhưng Garrett đã để lại dấu vân tay trên chiếc xẻng... vũ khí giết người.” “À, chiếc xẻng”, Rhyme trầm ngâm. “Có điều này rất thú vị liên quan đến chiếc xẻng. Tôi đã lại phạm phải sai lầm... Chỉ có hai bộ dấu vân tay in trên đó thôi.” “Đúng, của Billy và của Garrett.” “Thế dấu vân tay của Mary Beth đâu?”, Rhyme hỏi. Cặp mắt Bell nheo lại. Anh ta gật đầu, “Đúng. Không có dấu vân tay nào của cô ấy.”
“Vì nó không phải xẻng của cô ta. Mason đưa nó cho Billy mang đến Bến tàu kênh Nước đen - sau khi lau sạch dấu vân tay của chính mình, tất nhiên. Tôi có hỏi Mary Beth về việc này. Cô ta nói Billy đã từ bụi rậm bước ra, vác theo chiếc xẻng. Mason tính toán rằng nó sẽ là thứ vũ khí giết người hoàn hảo - vì làm công việc khảo cổ, Mary Beth chắc phải có xẻng. Chà, Billy đến Bến tàu kênh Nước đen và trông thấy Garrett ở đó. Hắn định khử cả Thằng Bọ. Nhưng Garrett giật được chiếc xẻng và đập Billy. Cậu ta tưởng mình đã giết chết hắn, nhưng không phải.” “Không phải Garrett giết chết Billy à?” “Không, không, không... Cậu ta chỉ đập Billy một hoặc hai phát, làm hắn ngã gục tuy nhiên không làm hắn bị thương nặng. Rồi Garrett đưa Mary Beth tới ngôi nhà gỗ vốn của dân cất rượu lậu. Mason là người đầu tiên có mặt tại hiện trường. Hắn công nhận điều ấy.” “Đúng. Hắn đã nhận điện thoại thông báo.” “Cũng khá ngẫu nhiên là hắn lại đang ở gần đấy, anh có nghĩ như vậy không?” “Ừ. Lúc ấy tôi không nghĩ gì về việc này.” “Mason tìm thấy Billy. Hắn cầm chiếc xẻng lên - có đi găng tay cao su thu thập chứng cứ - đánh thằng bé đến chết.” “Làm sao anh biết được?” “Nhờ vị trí các dấu găng tay cao su. Một tiếng đồng hồ trước, tôi đã yêu cầu Ben xem xét lại cán chiếc xẻng bằng thiết bị hiệu chỉnh ánh sáng. Mason cầm chiếc xẻng giống như cầm cây gậy đánh bóng chày. Đây không phải cái cách mà người ta cầm lên một chứng cứ ở hiện trường vụ án. Và hắn điều chỉnh tay nắm nhiều lần để lực giáng xuống mạnh hơn. Khi Sachs có mặt tại hiện trường, cô ấy nói vết máu cho thấy Billy bị đập vào đầu trước tiên và gục ngã bất tỉnh. Tuy nhiên, hắn vẫn còn sống. Cho tới khi bị Mason dùng chiếc xẻng đập vào cổ.” Bell nhìn ra bên cửa sổ, nét mặt gượng gạo. “Tại sao Mason lại giết Billy?” “Có thể hắn tính toán rằng Billy sẽ khiếp sợ và khai ra sự thật. Hoặc có thể thằng bé tỉnh lại khi Mason đến và nói nó chán ngấy rồi, nó không muốn tiếp tục cái thỏa thuận kia nữa.”
“Vậy đây là lý do tại sao anh muốn Mason rời khỏi đây... mấy phút trước. Tôi đã băn khoăn không biết như thế là thế nào. Chúng ta sẽ chứng minh tất cả chuyện này ra sao đây, Lincoln?” “Tôi có các dấu găng tay cao su trên chiếc xẻng. Tôi có chỗ xương, chúng cho phản ứng dương tính với toxaphene nồng độ cao. Tôi muốn cử một thợ lặn tìm kiếm chiếc xe của gia đình nhà Hanlon dưới sông Paquenoke. Một số chứng cứ sẽ được khôi phục lại - thậm chí sau năm năm. Rồi chúng ta phải lục soát nhà Billy xem ở đó có tiền mặt để lần đến Mason được không. Và chúng ta cũng lục soát nhà Mason nữa. Sẽ là một vụ khó khăn đấy.” Rhyme mỉm cười yếu ớt. “Nhưng tôi giỏi, Jim ạ. Tôi có thể xử lý được.” Rồi nụ cười của anh tắt dần. “Nhưng nếu Mason không chuyển chứng cứ sang chống lại Henry Davett, việc lập một vụ chống lại ông ta sẽ khó khăn đấy. Tất cả những gì tôi có chỉ là thứ kia thôi.” Rhyme hất đầu về phía chiếc bình nhựa đựng chừng tám ounce thứ chất lỏng màu lợt. “Cái gì thế?” “Toxaphene nguyên chất. Lucy đã lấy được một mẫu từ nhà kho của Davett cách đây nửa tiếng đồng hồ. Cô ấy bảo ở đằng đấy phải có tới chục nghìn ga-lông hóa chất này. Nếu chúng ta xác định được thành