CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ ---❃ ❖ ❊--- Tác giả: Svetlana Alexievich Dịch giả: Nguyên Ngọc Nhà xuất bản Hà Nội ebook©vctvegroup 12.3.2019
CREDITS Nguồn sách: @mayaincaztec Scan và OCR: annie-tuongminh, Trúc Quỳnh Đặng Bìa: inno14 Soát lỗi: hathao, tulipviet, Ngo Ha Quyen, lemontree123, khibungto, Trúc Quỳnh Đặng. Hiệu đính và ebook: Bọ Cạp
Trò chuyện với một nhà sử học - Trong Lịch sử, phụ nữ xuất hiện lần đầu tiên trong một quân đội là từ lúc nào? - Từ thế kỷ thứ Tư trước Công nguyên, ở Athènes và Spartes, đã có những phụ nữ chiến đấu trong các binh đoàn Hy Lạp. Sau đó, họ đã tham gia các chiến dịch của Alexandre de Macédoine. - Còn trong thời hiện đại? - Nước đầu tiên huy động phụ nữ vào quân đội là Anh... Giữa những năm 1560 và 1650, các bệnh viện đã được lập, và ở đấy đã có những nữ quân nhân phục vụ. Và trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, người ta đã chấp nhận phụ nữ trong Không quân Hoàng gia; ngoài ra người Anh còn lập một Lực lượng Hậu cần Hoàng gia và một quân đoàn vận tải ô tô nữ - tất cả gồm 100.000 người. - Việc nữ hóa quân đội đã phát triển như thế nào trong Thế chiến lần thứ hai, cuộc chiến tranh ác liệt nhất của thế kỷ XX? - Trong những năm ấy, thế giới đã chứng kiến sự khuếch đại của hiện tượng trên. Ta thấy phụ nữ phục vụ trong những binh chủng khác nhau, ở nhiều nước - trong quân đội Anh là 225.000 người, Hoa Kỳ là 350.000 -500.000 người, Đức gần 500.000 người. Trong quân đội Xô viết, gần một triệu phụ nữ đã phục vụ trong các binh chủng khác nhau. Trong số họ có những xạ thủ bắn tỉa, nữ phi công, lái xethợ máy chiến xa hạng nặng, chiến sĩ súng máy... CON NGƯỜI MẠNH HƠN CHIẾN TRANH
Trích nhật ký của tác giả 1978-1985 Tôi viết một cuốn sách về chiến tranh... Tôi, người chưa bao giờ thích đọc sách về chiến tranh, dù thời thơ ấu và trưởng thành của tôi, mọi người đều thích đọc loại sách ấy. Tất cả con trai và con gái tuổi tôi. Và điều đó chẳng có gì lạ: chúng tôi là những đứa con của Chiến thắng. Con cái của những người thắng trận. Tôi có ký ức gì về chiến tranh? Ký ức về nỗi lo sợ của đứa trẻ ngơ ngác giữa những từ khủng khiếp và không thể hiểu. Chiến tranh được nhắc tới thường xuyên: ở trường và ở nhà, ở lễ cưới và lễ rửa tội, ở các lẽ hội và các đám tang. Và cả trong cuộc trò chuyện của trẻ con. Ngay cả sau chiến tranh, chiến tranh vẫn là nơi cư trú của tâm hồn chúng tôi. Mọi người đều sống dưới tấm bảng hiệu chung, mọi thứ đều bắt nguồn từ cái thế giới kinh hoàng đó và gia đình tôi cũng không thoát khỏi quy tắc chung: ông ngoại gốc Ukrain của tôi, bố của mẹ tôi, chết trận, còn bà nội gốc Biélorussi của tôi, mẹ của bố tôi, chết vì bệnh chấy rận trong hàng ngũ du kích; hai người trong số các con của bà mất tích: ba người con bà cho ra trận, chỉ một trở về... Còn bố tôi... Tuổi thơ, chúng tôi không có ý tưởng về một thế giới không có chiến tranh, thế giới chiến tranh là thế giới duy nhất chúng tôi biết và những con người của chiến tranh là những con người quen biết duy nhất của chúng tôi. Cả tới hôm nay nữa tôi không biết thế giới nào và những con người nào khác. Mà họ có tồn tại không? Hẳn không thể biết trên thế giới đã có bao nhiêu sách viết về chiến tranh. Gần đây tôi đã đọc ở đâu đó rằng trái đất đã biết đến 3.000 cuộc chiến tranh. Mà sách viết về chúng còn nhiều hơn... Tuy nhiên, tất cả những gì chúng ta biết về chiến tranh là do những người đàn ông kể cho chúng ta. Chúng ta là tù binh của những hình ảnh “đàn ông” và những xúc cảm “đàn ông” về chiến tranh. Những từ “đàn ông”. Phụ nữ vẫn mãi náu mình trong im lặng, và nếu thảng hoặc họ có quyết định nói, thì họ cũng không kể về cuộc chiến tranh của họ, mà về chiến tranh của những người khác. Họ sử dụng một ngôn ngữ không phải ngôn ngữ của chính họ. Tuân theo mẫu hình nam giới bất biến. Và chỉ ở trong chốn riêng tư nhà họ, hay giữa những nữ đồng đội cũ của nhau, sau khi chùi mấy giọt nước mắt họ mới gợi lên trước mặt ta một cuộc chiến tranh (tôi đã nghe nhiều câu chuyện trong các chuyến đi làm báo của tôi), những câu chuyện khiến tim ta lịm đi... Tâm hồn ta bỗng lặng im và chăm chú: không còn là những sự kiện xa lạ và đã qua, mà là một môn khoa học và một sự thấu hiểu con người mà ta mãi còn cần. Dù đã ở chốn Địa
đàng. Bởi tinh thần của con người không mạnh mẽ cũng không được bảo vệ như ta tưởng, nó luôn cần được nâng đỡ. Cần ta tìm kiếm cho nó sức mạnh từ đâu đó. Những câu chuyện của phụ nữ không hề chứa hoặc gần như không hề chứa những gì ta vẫn nghe nói hoài, và vả chăng, hẳn từ nay ta đã chẳng còn muốn nghe nữa, chẳng còn chú ý, chuyện một số người nào đó đã giết chết một cách anh hùng một số người nào đó và đã thắng. Hay đã thua. Các câu chuyện của phụ nữ thuộc một tính chất khác và nói về những chủ đề khác. Cuộc chiến tranh “nữ” có những màu sắc riêng của nó, những mùi riêng của nó, nguồn chiếu sáng riêng và không gian cảm xúc riêng của nó. Cuối cùng, những từ riêng của nó. Ở đấy, ta không thấy anh hùng cũng chẳng thấy chiến công không tưởng tượng nổi, mà chỉ đơn giản có những cá nhân bị cuốn vào một công việc phi nhân của nhân loại. Và trong ấy, không chỉ có họ (con người!) phải chịu đau đớn vì chiến tranh: cùng với con người là đất đai, chim chóc, cây cỏ. Toàn bộ thiên nhiên. Chúng chịu đau đớn mà chẳng nói được một lời, thế càng kinh khủng hơn... Một câu hỏi nảy sinh ngay: Tại sao sau khi đã đấu tranh và giành được vị trí của họ trong một thế giới ngày trước vốn chỉ thuộc về đàn ông, phụ nữ đã không bảo vệ lịch sử của họ? Lời nói của họ và xúc cảm của họ? Vì sao họ đã không có lòng tin ở chính họ? Chúng ta đã bị tước mất đi cả một thế giới. Lục địa riêng biệt của những người phụ nữ. Nhưng điều gì ngăn ta đi vào đó? Ghé vào và lắng nghe? Một mặt là một bức tường vô hình, bức tường chống đối của đàn ông, mà tôi thậm chí sẵn sàng cho là một âm mưu bí mật tính toán của đàn ông, mặt khác là sự thiếu vắng ham muốn và tò mò của chúng ta có thể giải thích là do không ai chờ đợi ở cuộc thám hiểm đó chút khám phá nào. Bởi vì đàn ông, như người ta vẫn nói, sinh ra là để tham gia chiến tranh và nói về chiến tranh. Chúng ta tưởng đã biết tất cả về chiến tranh. Nhưng tôi là người đã nghe những người phụ nữ nói - những phụ nữ thành phố và những người ở nông thôn, những phụ nữ bình thường và những nữ trí thức, những người cứu chữa thương binh và những người cầm một khẩu súng, tôi có thể khẳng định rằng tưởng thế là sai. Thậm chí một sai lầm lớn. Còn có một cuộc chiến tranh khác mà chúng ta không biết. Tôi muốn viết lịch sử cuộc chiến tranh ấy... Một lịch sử của những người phụ nữ... Những ghi âm đầu tiên... Và ngạc nhiên đầu tiên: chuyên môn quân sự của
những phụ nữ ấy - người cáng thương, xạ thủ bắn tỉa, chiến sĩ súng máy, khẩu đội trưởng phòng không, công binh - trong khi hôm nay họ là kế toán viên, nhân viên phòng thí nghiệm, hướng dẫn viên du lịch, giáo viên... Cứ như họ kể cho tôi không phải những ký ức của họ mà của những cô gái nào đó khác. Hôm nay chính họ cũng ngạc nhiên về những gì họ đã sống qua. Và dưới mắt tôi, Lịch sử dần dần “nhân bản hóa”. Tôi có cảm giác họ và tôi, chúng tôi không nói về chiến tranh mà chính xác hơn, là về cuộc tồn sinh của nhân loại. Tóm lại, chúng tôi chiêm nghiệm về con người. Tôi gặp những người kể chuyện tài năng siêu việt; trong đời họ có những trang ta hiếm khi gặp được, ngay cả trong các tiểu thuyết của Dostoïevski yêu quý của tôi. Những trang trong đó nhân vật trở thành món đồ chơi của số phận, song lại tự quan sát mình rất sáng suốt vừa từ trên cao - từ trên trời - vừa từ bên dưới - từ dưới mặt đất. Việc gợi lại các ký ức không phải là một câu chuyện hấp dẫn hay ngược lại dửng dưng về những sự kiện đã biết và một hiện thực nào đó đang biến xa, mà là một cuộc phục hưng thật sự của quá khứ. Đấy là một sáng tạo tinh chất. Trong khi kể chuyện về chính mình, người ta tái sáng tác, người ta “viết lại” cuộc đời mình. Có khi họ bổ sung, thêm thắt vào đấy. Phải cảnh giác. Tôi đã có thời gian để nhận ra rằng những phụ nữ bình thường tỏ ra trung thực hơn cả: những nữ y tá, cấp dưỡng, thợ giặt... Làm thế nào để xác định điều đó chính xác hơn? Các từ họ dùng, họ rút ra từ chính họ chứ không phải từ của các báo và sách họ đã đọc. Từ văn hóa của họ. Và duy nhất từ những nỗi đau riêng của họ. Các xúc cảm và ngôn ngữ của những người có học, dầu điều này thật lạ, thường chịu ảnh hưởng nhiều hơn của thời hiện tại. Của các mã của nó. Bị nhiễm bởi một nhận thức và một trải nghiệm không phải của họ. Thường phải công phu tiếp cận lâu dài và đủ kiểu đi vòng trước khi nghe được câu chuyện về một cuộc chiến tranh “nữ” chứ không phải “nam”, với những rút lui, phản công và các con số của các khu vực mặt trận... Chỉ một lần gặp không thể đủ, phải nhiều phiên. Như người vẽ chân dung từng chút kiên trì. Tôi ngồi lại lâu trong ngôi nhà lạ, đôi khi cả một ngày. Chúng tôi uống trà, so áo sơ mi nữ vừa mới mua, nói chuyện tóc tai và chuyện bếp núc. Cùng xem ảnh các cháu nội ngoại. Và chỉ khi đó... Sau một thời gian, không bao giờ biết trước là bao lâu và tại sao, đột nhiên cái lúc hằng mong đợi, khi con người rời xa cái hình mẫu vẫn được chấp nhận chung - hình mẫu bằng thạch cao hay bằng bê tông cốt sắt, như các tượng đài của chúng ta - để trở lại với
chính mình. Trong chính mình. Bắt đầu gợi lại, không phải về chiến tranh nữa, mà là về tuổi trẻ của chính mình. Cả một mảng đời mình... Phải biết nắm lấy khoảnh khắc ấy, không để nó vụt mất. Nhưng thường sau một ngày dài đầy ắp những lời nói và những sự việc, chỉ còn lại trong trí nhớ của ta một câu duy nhất (nhưng là câu quý làm sao!): “Khi tôi ra trận, tôi còn nhỏ đến nỗi, tôi đã lớn lên trong chiến tranh.” Đấy là câu tôi ghi trong sổ tay, dù tôi đã thu hàng chục mét băng ở máy ghi âm của tôi. Bốn hay năm băng cát-xét... Nhờ đâu mà công việc của tôi được dễ dàng hơn? Vì chúng tôi đã quen sống cùng nhau. Quen trò chuyện với nhau. Chúng tôi là những con người của cộng đồng. Chúng tôi đặt mọi thứ chung với nhau: cả hạnh phúc và cả nước mắt. Chúng tôi chịu đựng và nói về những đau khổ của chúng tôi. Đối với chúng tôi, đau khổ là một nghệ thuật. Tôi phải thú nhận rằng phụ nữ mạnh bạo dấn mình vào con đường đó... Họ đã đón nhận tôi như thế nào? Họ gọi tôi là “cô gái nhỏ”, “con gái tôi”, “con tôi”. Chắc hẳn nếu tôi cùng thế hệ với họ, họ sẽ đối xử với tôi cách khác. Nghiêm khắc hơn và bình tâm hơn. Không có niềm vui thường có được trong gặp gỡ giữa già và trẻ. Khởi đầu và kết thúc. Tôi trẻ, họ già. Họ cắt nghĩa các sự việc cho tôi như cho một đứa trẻ con. Từ lâu tôi đã có nhận xét ta nói chuyện hay hơn cả là với trẻ con: khi đó ta tìm những từ mới, vì nếu không ta sẽ không thể vượt qua được ranh giới chia cách ta với cái thế giới mà từ nay không thể bước vào được nữa. Tôi thường thấy những người phụ nữ ngồi trước mặt tôi lắng tai nghe chính bản thân mình. Vào cái tiếng cất lên từ tim họ. So sánh nó với những từ họ nói. Đến tuổi già, cá nhân con người hiểu rằng cuộc đời từ nay đã ở sau lưng mình, và bây giờ phải cam chịu và chuẩn bị ra đi. Họ không muốn, họ thậm chí sẽ giận tức phải biến đi một cách đơn giản đến như thế. Không lo nghĩ gì hết. Trên con đường này. Và khi nhìn lại phía sau, họ cảm thấy trong mình một mong muốn không chỉ tự kể lại mà còn đạt đến bí ẩn của cuộc đời. Mong muốn đặt cho mình câu hỏi: “Để làm gì vậy tất cả những gì đã đến với ta?” Họ quay một cái nhìn vĩnh biệt hơi buồn rầu về quá khứ của họ... Họ chẳng còn có cớ gì mà lừa phỉnh chính mình và lừa phỉnh người khác. Và cũng chẳng ham muốn gì vì không còn thời gian để mà chơi. Mọi sự đã quyết định và sát gần với điều bí ẩn. Bí ẩn cuối cùng. Chiến tranh là một thử thách quá riêng tư. Và cũng bất tận như sự tồn tại
của nhân loại... Một lần, một phụ nữ (một nữ phi công) đã từ chối gặp tôi. Bà đã giải thích cho tôi qua điện thoại: “Tôi không thể. Tôi không muốn nhớ lại. Ba năm trải qua chiến tranh... Và suốt ba năm, tôi không còn là một phụ nữ. Cơ thể tôi ngủ lịm. Tôi không còn có kinh, không còn ham muốn tình dục. Vậy mà tôi đã từng là một người phụ nữ đẹp... Khi chồng tương lai của tôi cầu hôn tôi, lúc đang ở Berlin. Trước Reichstag[1]: “Chiến tranh đã chấm dứt. Chúng ta còn sống. Hãy lấy anh.” Tôi đã muốn khóc. Muốn hét lên. Muốn đánh anh! Thế nào vậy, lấy anh? Lấy anh - ngay tức khắc? Anh có nhìn rõ em giống thứ gì đây không? Hãy làm cho em thành một người phụ nữ đã chứ: tặng hoa cho em, tán tỉnh em, nói với em những lời đẹp đẽ. Em mong những điều đó biết bao! Tôi đã suýt tát anh một cái... Tôi muốn đánh anh... Nhưng một bên má anh bị đốt cháy, đỏ sẫm, và tôi thấy anh đã hiểu ra: những giọt nước mắt của anh chảy xuống trên chiếc má ấy... Trên những vết sẹo còn tươi... Và tôi nghe tôi trả lời, mà chính mình cũng không tin: “Vâng, em sẽ lấy anh.” Nhưng tôi không thể kể lại... Tôi không có đủ sức mạnh để quay trở về sau. Phải sống lại tất cả những cái đó một lần nữa...” Tôi đã hiểu bà. Nhưng đấy cũng là một trang hay nửa trang tôi viết. Những bản ghi. Những bản ghi. Ở đâu cũng có những bản ghi. Trong những căn hộ và những ngôi nhà bằng gỗ, ở ngoài đường, trong các quán cà phê... Tôi, tôi lắng nghe... Càng lúc tôi càng hóa thân thành một chiếc tai lớn duy nhất không ngừng hướng về người khác. Tôi “đọc” những tiếng nói... Con người lớn hơn chiến tranh... Tôi ghi lấy chính xác những khoảnh khắc họ lớn hơn chiến tranh đó. Ấy là khi họ được điều khiển bởi một điều gì đó mạnh hơn Lịch sử. Tôi phải bao quát rộng hơn: viết lên sự thật về sự sống và cái chết nói chung, chứ không chỉ sự thật về chiến tranh. Không có gì nghi ngờ rằng cái ác hấp dẫn: nó thôi miên chúng ta bằng cái phần phi nhân được chôn vùi sâu trong con người. Tôi luôn tò mò muốn biết có bao nhiêu chất nhân bản trong con người, và con người có thể bảo vệ cái chất nhân bản trong mình như thế nào. Nhưng tại sao lại quan tâm nhiều thế đến cái ác? Có thể là để biết những hiểm nguy nào đe dọa chúng ta và làm sao tránh được chúng chăng? Tôi dấn sâu ngày một xa hơn vào thế giới vô tận của chiến tranh, tất
cả những gì còn lại đã ít nhiều xỉn màu đi, trở thành bình thường hơn cả bình thường. Đấy là một thế giới quá ư sỗ sàng, quá ư mãnh liệt. Bây giờ tôi hiểu nỗi cô đơn của người từ nơi đó trở về. Cứ như là họ trở về từ một hành tinh khác hay từ thế giới bên kia. Họ sở hữu một hiểu biết mà những người khác không có, và người ta chỉ có thể lĩnh hội được ở chốn ấy, khi chạm mặt cái chết. Khi họ cố truyền gửi lại cái ấy bằng những từ, họ có cảm giác về một tai họa. Họ trở nên câm lặng. Họ rất muốn kể lại, những người khác rất muốn biết, nhưng mọi người đều bất lực. Tôi sợ hiện tượng đó... Họ luôn ở trong một không gian khác tôi, người họ trao gửi. ít nhất có ba người tham gia cuộc trò chuyện: con người kể chuyện hôm nay, con người là con người này ngày xưa, thời của các biến cố, và tôi. Mục đích của tôi: có được sự thật về những năm ấy. Những ngày ấy. Một sự thật được tẩy rửa hết nhtrng sai lạc do tình cảm. Chắc hẳn sau Chiến thắng, họ đã kể lại một cuộc chiến tranh và mười năm sau một cuộc chiến tranh khác, bởi vì từ nay họ nhập kho toàn bộ cuộc đời họ vào các ký ức của họ. Toàn bộ con người họ. Cách họ sống những năm gần đây, những gì họ đã đọc, những gì họ thấy, những người họ gặp. Cuối cùng là việc họ hạnh phúc hay đau khổ. Hay việc nói, họ và tôi, chỉ có hai chúng tôi, hay còn một ai đó nữa bên cạnh. Khi ấy cần biết đó là ai? Một thành viên trong gia đình? Một người bạn? Loại nào? Nếu là một đồng đội ngoài mặt trận là một chuyện, nếu không, là chuyện khác. Các tư liệu là những sinh linh, chúng biến đổi cùng lúc với chúng ta, có thể không ngừng rút ra từ đó một điều gì đấy. Không ngừng có một điều gì đấy mới. Những người kể chuyện không chỉ là những chứng nhân - họ không hề chút nào là những chứng nhân - mà là những diễn viên và những người sáng tạo. Không thể tiếp cận sự thật một cách trực tiếp, mặt đối mặt. Các cảm xúc của chúng ta chen vào giữa sự thật và chúng ta. Có thể nói tôi đứng trước những phiên bản - mỗi người có phiên bản riêng của mình, từ đó tái hiện lên hình ảnh của cả một thời và những con người sống trong đó, tùy theo số lượng những phiên bản ấy và những lần giao nhau giữa chúng. Nhưng tôi không muốn người ta nói về cuốn sách của tôi: “Những người anh hùng trong đó là có thật”, và tất cả chỉ có thế. Tôi tìm một hình ảnh, một nhịp điệu... Tôi không viết về chiến tranh mà về những con người trong chiến tranh. Tôi không viết một lịch sử chiến tranh mà là một lịch sử của các xúc cảm. Một mặt, tôi nghiên cứu những con người cụ thể đã sống một thời cụ thể và đã tham gia vào những biến cố cụ thể, nhưng mặt khác, ở mỗi con người đó,
tôi cần nhận ra con người của vĩnh hằng. Cái phần người luôn hiện diện trong con người. Hẳn một số người nào đó sẽ có những nghi vấn: các ký ức, họ sẽ phản đối, không làm nên Lịch sử. Cũng chẳng làm nên văn học. Nhưng đối với tôi, chính ở đó, trong tiếng nói sống động của con người, trong phục hưng sống động của quá khứ, ẩn chứa niềm vui nguyên thủy và phơi trần cái bi thảm của cuộc sống. Cái hỗn độn và cái phi lý của nó. Sự ghê tởm và man dã của nó. Tất cả các yếu tố ấy hiện lên ở đó, không vấy chút ngụy tạo nào. Đấy là những nguyên gốc. Hôm qua có một cú điện thoại: “Cô và tôi, chúng ta chưa biết nhau... Nhưng tôi đến từ Crimée, tôi gọi cô từ nhà ga. Tôi muốn kể cho cô cuộc chiến tranh của tôi... Tôi đã đọc những đoạn trích cô đã cho in...”. Thế à? Chỉ có điều tôi và con gái tôi chuẩn bị đi ra công viên. Chơi đu quay. Cắt nghĩa thế nào đây cho một đứa bé sáu tuổi là tôi đang làm công việc gì? Mới đây, nó đã hỏi tôi: ”Chiến tranh là cái gì thế?” Trả lời nó thế nào đây?... Tôi những muốn thả nó vào thế giới này với trái tim tràn ngập yêu thương, nên tôi đã dạy nó chớ nên ngắt một bông hoa khi không cần thiết, khi ta không có nhu cầu. Thật đáng tiếc khi dí nát một con bọ cánh cứng, ngắt cánh một con chuồn chuồn. Nhưng làm sao giải thích chiến tranh cho một đứa bé? Làm sao trả lời câu hỏi: “Tại sao người ta giết ông ngoại trong chiến tranh?” Sau chiến tranh, bố mẹ tôi có giải thích cho tôi ít nhiều về nó, nhưng tôi lại không thể làm chừng đó với con gái tôi. Không có bất cứ cách nào để nó chấp nhận hiểu: “Nhưng dẫu thế nào, tại sao lại thế?” Phải viết một cuốn sách về chiến tranh sao cho người đọc đến buồn nôn sâu sắc vì nó, cho họ thấy chỉ ý tưởng về chiến tranh thôi đã là bỉ ổi. Tâm thần. Những người bạn đàn ông của tôi (khác những người bạn đàn bà của tôi) sửng sốt trước một logic “đàn bà” đến thế. Và tôi lại nghe cái lý lẽ “nam giới” này: “Vì cô không tham gia chiến tranh”. Nhưng có thể, đúng ra, như thế là tốt hơn. Tôi không biết đến sự chi phối của hận thù, tôi giữ được một cách nhìn bình thường. Một cách nhìn “không hiếu chiến”. Cuộc chiến tranh của những người phụ nữ có ngôn ngữ riêng của nó. Đàn
ông náu mình đằng sau các sự kiện, chiến tranh thu hút họ, cũng như hành động và sự đối kháng tư tưởng, trong khi phụ nữ cảm nhận chiến tranh qua các xúc cảm. Dẫu sao tôi vẫn lặp lại: đấy là một thế giới khác, khác với thế giới của đàn ông. Với những mùi của nó, những sắc màu của nó và một môi trường đầy tình tiết: ”Họ phát cho chúng tôi những cái túi, chúng tôi cắt thành váy”, “Ở phòng tuyển quân, tôi mặc váy đi vào cửa này, trở ra cửa kia mặc quần và áo varơi; người ta cắt bím tóc của tôi, tôi chỉ còn mỗi cái chỏm trên đầu- Hơn một lần, người ta đã cảnh báo tôi (nhất là các nhà văn nam): “Các bà sẽ sáng chế cho cô khối chuyện cổ tích. Họ sẽ tha hồ mà bịa.” Nhưng có thể bịa những chuyện như thế không? Sáng tác hoàn toàn ư? Nếu có thể họ đã sử dụng một hình mẫu, thì cái hình mẫu ấy ắt phải có tên là cuộc sống, chỉ có cuộc sống mới có được một trí tưởng tượng như thế. Nhưng dù là đề cập đến chủ đề nào thì những người phụ nữ vẫn luôn đinh ninh một ý tưởng: chiến tranh trước hết là một cuộc giết người, sau đó là một lao động mệt nhoài. Rồi cuối cùng thì đơn giản là cuộc đời thường: người ta hát, người ta phải lòng nhau, người ta đặt những lô cuộn tóc. Nhưng nhất là, họ cảm nhận giết người là điều không thể tha thứ, bởi vì người phụ nữ ban sự sống. Biếu tặng sự sống. Đàn ông... Họ khó chịu khi phải để phụ nữ đi vào thế giới của họ, lãnh địa của họ... Tôi đã gặp lại một người phụ nữ trong xí nghiệp máy kéo ở Minsk, bà đã từng là xạ thủ bắn tỉa. Bà nổi tiếng vì các chiến công của mình. Đã có nhiều bài viết về bà trên các báo mặt trận. Đôi người bạn của bà ở Moskva đã cho tôi số điện thoại của bà, nhưng là số đã cũ. Nên tôi đã đến hỏi tại bộ phận công tác cán bộ ở đấy, tôi đã nghe những người đàn ông (ông giám đốc nhà máy và ông trưởng bộ phận cán bộ) nói với tôi: “Hết đàn ông hay để mà hỏi rồi sao? Tại sao cô lại cần đàn bà? Nghe họ nói mê... nghe chuyện đàn bà nạ dòng thì phỏng được gì...” Tôi đến một gia đình... Chồng và vợ đều đã tham gia chiến tranh. Họ gặp nhau và đã cưới nhau ngoài mặt trận: “Chúng tôi đã làm lễ cưới trong chiến hào, tôi đã tự chế cho mình một chiếc áo cưới bằng vải ga.” Ông là chiến sĩ súng máy, bà là chiến sĩ giao liên. Ông phái ngay vợ vào bếp: “Chuẩn bị món gì cho chúng tôi nhé.” Tôi đòi mãi ông mới miễn cưỡng nhường chỗ cho bà,
không quên dặn bà: “Kể như tôi đã bày cho bà ấy. Không có nước mắt, cũng đừng có những chi tiết ngu ngốc, kiểu: “Tôi cứ muốn đẹp. Tôi đã khóc khi bị người ta cắt mất bím tóc.”“ Người vợ đã thú nhận với tôi: “Ông ấy đã nhồi nhét cho tôi suốt đêm cuốn Cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại. Ông ấy lo cho tôi. Ngay cả bây giờ nữa, ông ấy lo tôi không nói được các ký ức cần thiết.” Vâng, họ khóc rất nhiều. Họ kêu lên. Sau khi tôi đã đi, họ uống thuốc trợ tim. Họ gọi cấp cứu. Nhưng bất chấp tất cả họ nói đi nói lại mãi với tôi: “Trở lại nhé. Đừng quên. Chúng tôi đã nín lặng quá lâu rồi. Vậy là đã bốn mươi năm chúng tôi câm lặng…” Tôi rất có ý thức không thể đặt những tiếng kêu và nước mắt vào bất cứ lao động viết lách nào, bởi vì khác đi thì cái cốt yếu không còn là tiếng kêu và nước mắt, mà chính là cái viết ra. Đấy là bản chất của chất liệu: không ở đâu cá nhân phơi mình ra rõ như vậy, bộc lộ chính mình ra nhiều như trong chiến tranh, và cũng có thể trong tình yêu. Nó phơi lộ những bí ẩn riêng tư nhất của họ. Có thể nhìn thấu họ tận qua da. Lớp vỏ tầm thường của họ rách ra, phơi lộ một vực thẳm mà chính họ không sẵn sàng đối mặt. Dù đấy là câu chuyện của chính họ. Nhiều lần, tôi nhận lại được những bản viết đã được đọc lại, với ghi chú bên lề: ”Không cần nhắc đến các chi tiết không quan trọng. Phải nói đến Chiến thắng...” Chỉ có điều, đối với tôi, những ”tiểu tiết” ấy chính là cái cốt yếu - là cái phần người: cái nhúm tóc khốn khổ còn lại thay vì cái bím, cái nồi cháo tấm nóng bỏng không có người thưởng thức vì trong số một trăm người ra trận, chỉ có bảy người trở về, hay chuyện sau chiến tranh không thể đi chợ, để không phải nhìn thấy cảnh lò mổ phơi ra đấy... Thịt đầy máu... Họ là ai, những con người ấy, người Nga hay người Xô viết? Không, họ là những con người Xô viết, nhưng họ cũng là người Nga, người Biélorussi, Ukrain, Tadjik... Dẫu sao đi nữa thì con người ấy, con người Xô viết có tồn tại thật. Họ không giống những người khác. Họ biết tên những nạn nhân và những người tử vì đạo của họ, họ đã tạo ra những lý tưởng và những giá trị. Ngay đến chúng tôi, con cái họ, chúng tôi cũng khác. Và biết nói gì về cháu chắt của họ... Nhưng tôi yêu họ. Tôi ngưỡng mộ họ. Vâng, họ đã có Goulag[2], nhưng họ cũng có Chiến thắng. Và họ biết điều đó.
MƯỜI BẢY NĂM SAU - 2003 Tôi đọc lại các ghi chép cũ của tôi... Tôi cố nhớ lại người phụ nữ là tôi lúc bấy giờ, khi tôi viết cuốn sách này. Về một số khía cạnh nào đó, tôi thích người phụ nữ ấy, về những khía cạnh khác, cô với tôi bất đồng. Tôi đưa ra những lời bác bỏ. Hôm nay chắc chắn tôi sẽ nêu ra những câu hỏi khác và hẳn tôi sẽ nghe những câu trả lời khác. Và tôi sẽ viết một cuốn sách khác, không hoàn toàn khác biệt, song dầu sao vẫn khác. Các tư liệu không chết, không đông cứng lại một lần là xong dưới một hình thức cho sẵn, vẫn trong những từ ngữ ấy chúng động đậy. Chúng ta có khả năng rút ra đến bất tận chất liệu mới ở đáy của các từ, hay chính xác hơn ở đáy của chính ta. Nhất là, khi đấy là về những tư liệu sống, những lời chứng của chúng ta. Của những tình cảm của chúng ta. Vậy nên tôi bị buộc phải không ngừng hoàn thiện các cuốn sách của mình. Đặt một dấu chấm, nó biến ngay thành chấm lửng... Cái tôi quan tâm nhiều nhất trong các tư liệu của mình, trước hết là các sổ tay tôi ghi những chương bị kiểm duyệt cắt bỏ. Những đối thoại của tôi với người kiểm duyệt. Nhưng hơn nữa, là những trang tôi còn giữ lại những gì chính tôi đã loại bỏ. Tự kiểm duyệt của tôi. Và những giải thích của tôi về những lý do khiến tôi loại bỏ đi sự việc này hay sự việc kia. Tôi đã khôi phục lại trong sách nhiều đoạn thuộc hai loại đó. Như mấy trang sau đây: đấy cũng là và đã là một tư liệu. Và đấy là con đường của tôi... NHỮNG PHẦN ĐÃ BỊ KIỂM DUYỆT BỎ “Chúng tôi đã đi bộ bốn mươi cây số... Cả một tiểu đoàn