hồi lâu, đến mức tôi đã bắt đầu thấy khó chịu. Rồi ông đến gần tôi và qua người phiên dịch, xin tôi một cuộc phỏng vấn. Tất nhiên tôi có cảm thấy rất lúng túng. Tôi hỏi ông muốn gì. Ông vừa nghe tôi nói ở bảo tàng. Nhưng rõ đấy không phải là điều ông quan tâm. Trước tiên, ông nói với tôi một lời khen: "Hôm nay trông bà thật trẻ... Làm sao bà đã có thể tham gia chiến tranh?" Tôi trả lời ông ta: "Như ông biết, đấy là bằng chứng rằng chúng tôi đã ra trận khi chưa đến mười tám tuổi." Nhưng ông băn khoăn chuyện khác. Ông đặt lại cho tôi câu hỏi, nói thêm rằng đối với ông Sibéri thì cũng như là tận cùng thế giới! "Không, tôi đã đoán ra, rõ không phải chuvện đó khiến ông thắc mắc. Thực ra là ông muốn biết có phải ở bên chúng tôi đã có tổng động viên, điều ấy giải thích vì sao tôi đã có mặt ở mặt trận khi tôi mới còn là một cô học sinh, đúng thế không?" Ông ta nhận là đúng. Tôi bèn kể cho ông ta toàn bộ cuộc đời tôi, như tôi sẽ kể cho cô bây giờ. Ông ấy khóc. Cuối cùng ông nói với tôi: "Xin bà đừng giận tôi, thưa bà Tchoudaïeva. Ở phương Tây cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã gây ra một sự đảo lộn quan trọng hơn cuộc thứ hai. Chúng tôi có những ngôi mộ và những tượng đài được xây dựng để ghi nhớ cuộc xung đột lần thứ nhất ấy ở khắp nơi. Chúng tôi biết rõ lịch sử của cuộc xung đột ấy và nó khắc ghi sâu
trong ký ức chúng tôi. Nhưng về các vị, chúng tôi không biết gì hết. Nhiều người đã nghĩ một cách nghiêm túc rằng một mình nước Mỹ đã thắng cuộc chiến tranh chống Hitler. Chúng tôi biết rất ít về cái giá người Xô viết đã phải trả để giành thắng lợi: hai mươi triệu sinh mạng, về những đau khổ mà các vị đã phải chịu đựng. Những đau khổ phi nhân tính. Tôi xin cám ơn bà: bà đã làm xáo động trái tim tôi." ... Tôi không nhớ mẹ tôi. Bà chết rất sớm. Bố tôi là một đại biểu của ủy ban quận Novossibirsk. Năm 1925, ông được cử về làng quê ông, để trưng thu lúa mì. Cả nước cần lúa mì, mà bọn koulak giấu thu hoạch của chúng, để cho mục đi. Hồi đó tôi mới chín tháng. Mẹ tôi muốn đi thăm nơi bố ra đời, và bố tôi đồng ý để bà đến với ông. Bà mang tôi theo, cùng với chị tôi nữa vì chẳng biết gửi cho ai. Hồi trước, bố tôi có làm công cho một koulak giàu có. Một buổi tối, trong một cuộc họp, ông đã đe dọa người ấy: "Chúng tôi biết lúa mì giấu ở đâu. Nếu ông không tự nguyện nộp, chúng tôi sẻ tìm ra và cưỡng đoạt lấy. Chúng tôi sẽ tịch thu nhân danh Cách mạng." Sau cuộc họp, cả gia đình ngồi lại với nhau. Bố tôi có năm người anh em, về sau không có ai trở về từ chiến tranh, kể cả bố tôi. Họ ngồi quanh một chiếc bàn cùng ăn một bữa tiệc lễ - món pelrnen[34] Sibéri truyền thống. Những chiếc ghế dài xếp dọc cửa sổ... Mẹ tôi ngồi tựa lưng vào tường, một vai nhô ra chỗ một cửa sổ, cạnh bố tôi ngồi nơi không có cửa sổ. Đang tháng Tư, ở Sibéri đôi khi vào độ này trong năm vẫn còn băng giá. Hẳn là mẹ tôi lạnh. Rất lâu về sau, khi đã lớn tôi mới hiểu ra điều đó. Bà đứng dậy, hất chiếc áo vét da của bố tôi lên vai và định cho tôi bú. Đúng lúc ấy một phát súng nổ, một phát bắn từ súng cưa nòng. Đúng là họ nhắm vào bố tôi, họ bắn vào chiếc áo vét. Mẹ tôi chỉ kịp nói: "Pav" và buông tôi rơi xuống trên những chiếc bánh pelmen nóng bỏng. Bà hai mươi bốn tuổi. Về sau, ông nội tôi trở thành chủ tịch Xô viết nông thôn, ngay trong làng ấy. Ông bị đầu độc bằng strychnine đổ vào nước uống. Tôi còn giữ một bức ảnh đám tang ông. Quan tài phủ một tấm vải trúc bâu trên đó ghi dòng chữ: "Bị ám sát bởi kẻ thù giai cấp." Bố tôi là một anh hùng thời nội chiến, ông đã chỉ huy một đoàn tàu bọc thép tham gia chống vụ nổi loạn của binh đoàn Tiệp Khắc[35]. Năm 1931, ông
được thưởng Huân