phần chúng. Cô áp má mình vào cái đầu trơn láng, mềm mại của em bé. Cậu bé cong lưng và ré lên. - Ngay cả bé Amaroq - cô nói, vỗ vỗ cậu bé để cậu yên - cũng biết bố không
122 nên bắn đàn sói. - Chậc, đó là một cách hiểu - dì Ellen lên tiếng từ chỗ ngồi bên bàn, nơi dì đang sửa lại bài vở. - Còn dì thì nói bé Amaroq khóc vì bố nó làm nó thức giấc. - Ayaa, anh đánh thức nó - Kapugen nói, mỉm cười và bỏ súng xuống. Ông dịu dàng bế con trai mình từ tay Julie và áp trán mình vào cái mũi nhỏ xíu của bé. - Con chẳng quan tâm, phải không, con sói non bé bỏng? Amaroq thôi khóc và đạp đạp chân. Julie leo lên iglek. Đầu óc cô bị xen ngang bởi cuộc trò chuyện giữa bố Kapugen và David. Họ đang lên kế hoạch cách tốt nhất chặn đàn sói và bắn hạ chúng. Dì Ellen cũng lắng nghe. - Tôi phải trả chiếc Beaver trước khi làm được việc gì khác - Kapugen nói. - Anh có thời gian mà - David nói. - Đàn sói đang ăn gì đó ở một dốc nước trên sông Avalik. Chúng sẽ ngủ một hai ngày. David đi ra cửa. - Tôi phải tới Barrow - ông ấy nói. - Tôi phải kiểm tra một con gấu bắc cực đã giết chết một người da trắng ở đó. Gương mặt Kapugen không biểu lộ gì cả: - Mọi việc là thế mà - ông nói khẽ. - Cái người gussak ở chỗ nào? - Ngay gần nhà ông ấy trên bãi biển. Ông ấy ra ngoài khởi động xe hơi. Một con gấu trắng tấn công và ông ấy quay người chạy. Đó là sai lầm. Julie dạy tôi chớ có chạy. Ông ấy thì không làm thế. - Người ta bắt được con gấu chưa? - Kapugen hỏi. - Hàng xóm của ông ấy đã bắn con gấu. - Thời điểm nguy hiểm trong năm - Kapugen nói. - Lũ gấu trắng mẹ bỏ lũ con hai năm tuổi của chúng - và chúng đói. - Và đàn sói cũng vậy - David nói trước khi đeo mặt nạ bảo hộ và kính râm lên. Ông ấy mở cửa, khí lạnh từ gian qanitchaq ùa vào phòng. Dì Ellen rùng mình. - Dì không nghĩ mình sẽ quen được với cái lạnh - dì nói, và cười. - Hay có khi những sức mạnh chuyển động trong thế giới hoang dã làm cho dì rùng mình? Julie không nói.
123 - Tôi sẵn sàng rồi - Bác Malek gọi từ phía ngoài. - Đến lúc trả chiếc Beaver rồi. Kapugen quay sang dì Ellen. - Malek và anh sẽ trả chiếc máy bay thuê và lấy máy bay của anh về lại Kangik. - Nhanh lên, trước khi đàn sói đến - dì nói. Kapugen gật đầu chỉ một lần. Mắt ông không sáng lên. Ông đặt bé Amaroq vào nôi và hôn lên bàn chân đi ủng của bé. Rồi ông đi. Khi chỉ còn lại Julie và dì Ellen, Julie tụt xuống khỏi iglek và đến ngồi cạnh dì. - Dì Ellen - cô nói - bài học tiếp theo của chúng ta là về chuyện mọi loài vật và cây cỏ phụ thuộc vào mọi loài vật và cây cỏ khác như thế nào. - Dì hiểu điều đó - dì nói. - Con đã dạy dì rất kỹ. Julie thấy thất vọng. Cô đã trò chuyện với dì Ellen từ lúc mặt trời lặn về các chu trình cũng như sự xuất hiện của một loài động vật và sự diệt vong của loài khác. Cô đã nâng hai bàn tay dì lên và nói với dì chuyện làm thế nào người Eskimo biết họ có liên hệ với tất cả các loài động vật vì tất cả họ đều có những loại xương như nhau trong hình hài này hoặc hình hài khác. Cô đã nói với dì rằng sói giữ cho môi trường lành mạnh, và rằng khi môi trường lành mạnh, con người cũng lành mạnh. Và dì Ellen vẫn nói với cô dì sẽ giết một con sói để cứu đàn bò và bố Kapugen đồng ý với dì. Julie biết cô phải làm gì đó ngay lúc này. “Khi mọi thứ không suôn sẻ, thì tức là mày đang làm gì đó không đúng”, cô đã nói với chính mình trên lãnh nguyên. “Thay đổi những gì mày đang làm”. Cô nhìn dì Ellen thật lâu và hít một hơi thật sâu. - Dì Ellen yêu quý - cô nói. - Con sẽ thôi giảng bài để kể cho dì một câu chuyện. Một cô gái trẻ bị lạc trên lãnh nguyên. Cô ấy đang chết đói. Một hôm cô ấy tìm thấy cái hang mùa hè của một đàn sói và kết bạn với đàn sói. Một con sói non đã dạy cô ấy cách lấy thức ăn từ dạ dày sói bằng cách chạm vào khóe miệng của
124 một con sói. Cô ấy đã làm như vậy, và một con sói đã hào phóng cho cô ấy thức ăn, nhưng thức ăn không đủ. Cô ấy đã ăn rêu và nấm. Một đợt sương mù phủ khắp vùng đất nên cô ấy không thể nhìn được gì. Trái đất rung chuyển. Sương tan bớt và Kapu, người bạn sói non của cô ấy, hiện ra. Cảnh giác như một con đại bàng, nó đánh hơi gió và vẫy đuôi như thể đang đọc một câu chuyện thú vị của sói. Cô ấy cũng đánh hơi, nhưng với cô ấy, mọi trang sách đều trống trơn. - Julie nhìn vào mắt dì Ellen. Amaroq, con đầu đàn của đàn sói, cất tiếng tru. Móng Vuốt, người bạn tốt nhất của nó, tru và sủa. Rồi Amaroq chuyển sang một khúc ca và Ánh Bạc, bạn đời của nó, hòa theo. Giọng chúng vút cao rồi lắng xuống khi từng con hòa nhịp với con khác. Giọng lồng lộng của Thạch Đông, con sói trông coi sói con, ngân vang, và như nhịp trống, năm con sói non sủa ăng ẳng và kêu ư ử. Cô gai xoa cằm; có gì đó rất lạ ở bài ca săn mồi này. Nó kỳ quái và bồn chồn. Nó kể những điều cô không hiểu, và cô thấy sợ. Sương quang hẳn và cô nhìn thấy Amaroq, những thợ săn của nó, cùng lũ sói non chạy băng qua lãnh nguyên. Ngay cả Thạch Đông cũng đi cùng chúng. Chúng đang rời bỏ cô chăng? Có phải đây là ngày chúng bắt đầu cuộc sống lang thang của sói không? Giờ cô phải tự lập chăng? Cô bò quanh trảng tuyết của mình và cuống cuồng thu thập những loại cây có lá mà tuần lộc vẫn ăn. Cô nhét nấm vào túi, và cả những mảng rêu tuần lộc. Cô không còn từ chối bất kỳ thứ gì có thể ăn được nữa. Khi cô làm việc trên cả bốn chi, sự rung động trên mặt đất càng lớn hơn. Cô gái lui lại. Từ trong sương mù xuất hiện một con tuần lộc lớn đang chạy về phía cô. Trên cổ nó, vọt lên bằng sức mạnh của một con sóng đại dương, chính là Amaroq. Dì Ellen ngó quanh phòng. Mắt dì dừng lại chỗ Kapugen đã đặt khẩu súng của ông. Nó đã không còn. Julie tiếp tục. - Móng Vuốt đang luồn lách bên dưới con tuần lộc. Bên sườn nó là Ánh Bạc. Rồi Amaroq nhảy tới, lơ lửng trong không trung một lát, và bập hàm răng của nó vào vai con thú. Sương ập đến rất nhanh và khi sương tan đi, con tuần lộc sừng sững phía trên
125 Amaroq, cặp sừng như dao của nó nhắm thẳng vào đầu con sói. Có tiếng gầm gừ trầm trầm, tiếng móng guốc bổ cồm cộp, và những cái chân đồ sộ chém một cách vô ích xuống đất; vì Amaroq đã lại nhảy lên và cắm hàm răng của mình vào lưng con thú. Gầm gừ, sử dụng sức mạnh toàn thân của mình, nó ép con vật lòng vòng và loạng choạng. Ánh Bạc vọt tới đằng trước con mồi cố gắng ngáng nó và làm cho nó chậm bước. Móng Vuốt ngoạm được một chân sau của nó. Con tuần lộc nhảy tưng lên, quằn quại, rồi khuỵu xuống. Gạc của nó cắm xuống đất. Nó rống lên và gục xuống. Miyax, cô gái, không tin được vận may của mình - cả một con tuần lộc gục ngã ngay chân cô. Chỗ này đủ thức ăn cho cô cả tháng, có lẽ cả năm. Cô sẽ hun khói để thịt nhẹ dễ mang hơn, rồi gói ghém và đi về phía bờ biển. Cô sẽ sống. Và đúng là con đã sống. Dì Ellen ngồi im. Chẳng mấy chốc dì đứng lên tìm khẩu súng của Kapugen trong gian qanitchaq. Nó không ở đó. - Julie - dì nói - dì hiểu. Dì hiểu rồi. Hãy đi bảo với bố Kapugen dì sai rồi: Luật Minnesota không có ý nghĩa ở đây. Julie mặc áo len và quấn lông qivit ấm áp của mình vào. Bên trên, cô trùm thêm áo parka. Rồi cô đội mũ len, đi găng, và găng trùm. Cô nhét đầy túi thịt khô và xông ra thế giới băng giá chói lòa. Cô đi tới chỗ chiếc xe trượt mà cô đã chất đầy những viên linh lăng tối qua, và thay vì dẫn đàn chó lên lớp băng khó lường, cô nhặt sợi dây và tự mình kéo xe trượt. Cô trượt ngã vài lần, rồi lại đứng dậy. Sau khi cô cho bò xạ ăn, cô sẽ đi ra lãnh nguyên để tìm Kapu và Aaka, Ánh Bạc, Xương Thô, Zing, và Amy, và dẫn chúng đi. Cô nhìn lều Quonset và lắng nghe tiếng cánh cửa mở và tiếng Kapugen khởi động chiếc Beaver. Ông sẽ có thể bắn rất tốt từ trên chiếc máy bay đó. Ở bãi quây gia súc, cô cho thức ăn viên vào máng, đóng cổng, loay hoay một lúc với cái then đóng băng, rồi tiến ra bờ sông. Cô đi chưa được năm bước thì dừng lại. Kapugen đã ở đây. Ủng của ông, với dấu đặc trưng trên đế, đã nghiến vỡ lớp băng và để lại những dấu hằn trên tuyết. Ông ở đây với khẩu súng của mình. Ông không đưa chiếc Beaver tới Barrow. Dấu chân ông còn mới và đi xung quanh bãi quây gia súc. Ông đang đi bộ lần theo đàn sói.
126 Có tiếng tru xa xa. Tiếp theo là một tiếng sủa cảnh báo, và rồi, rất gấp gáp, giọng những con sói của cô vút lên từ lãnh nguyên hoang dã. Cô chạy về phía chúng. Băng vỡ vụn dưới chân cô, khiến cô chậm bước; nhưng cô vẫn dướn tới, quyết tâm phải cứu chúng bằng cách nào đó. Mình có thể làm gì? Làm thế nào dọa được chúng sợ? Một khẩu súng sẽ rất được việc. Mình lại chẳng có. Một con sói chết cũng có tác dụng - có lẽ là mấy cái găng đầu sói của mình. Chúng lại ở nhà mất rồi. Cô nhận thấy gió đang đưa mùi của cô về hướng Kapu và đàn của nó. Cô hy vọng nó ngửi thấy cô và cả mùi sợ hãi mà cô phát ra. Điều đó sẽ xua chúng đi. Cô gắng gượng, nhìn lại để xem Kapugen có đi theo không. Mặt đất rung chuyển, có tiếng răng rắc vang lên. Julie lại ngó lại, và thấy đàn bò xạ đang rầm rập lao ra khỏi bãi quây, những con đực đi trước, lũ bê ở giữa, bò sữa ở phía sau. Bộ lông dài của chúng tung bay trong gió, chúng phóng ra lãnh nguyên và lao tới một quả đồi nhỏ phía trên dòng sông, chúng đã thoát ra. Chúng đã tự do. Nhất thời Julie rùng mình; rồi cô thấy sợ. Công việc kinh doanh đã tan biến. Kapugen thất bại rồi. Bé Amaroq sẽ không có tương lai. Cô phải lùa chúng trở lại bãi quây. Vùng chạy, vấp ngã, cô cố gắng vòng qua chúng với hai cánh tay dang rộng và hò hét. Tuyết bay tung dưới chân chúng, che khuất chúng và bãi quây. Cô chạy. Có ánh sáng lờ mờ xuất hiện trên mặt sông băng, Julie phủ phục xuống trên cả bốn chi và rất tập trung khi đàn sói của cô, Kapu dẫn đầu, những con khác phía sau, thong chả chạy xuống dòng sông đóng băng. Chúng di chuyển hệt như nước chảy. Chúng rời lòng sông và phóng vào đàn bò. Luồn lách giữa chúng, tăng nhịp bước của chúng theo nhịp bước của những con bò đực nhanh chân, Kapu và đàn của nó đã bắt kịp đàn bò. Những đám tuyết mà đàn bò khuấy lên đã lặng xuống. Julie dụi mắt. Kapugen đang đứng bên cạnh bãi quây. Ông không mang súng. Tay ông chắp sau lưng, đầu ông nhô về phía trước. Julie nhìn từ ông sang đàn sói. Chúng nhảy nhót dễ dàng khi chia tách đàn bò. Cô không hiểu tại sao đàn bò lại không quây thành vòng tròn phòng thủ. Chúng đang biến mình thành những mục tiêu dễ dàng bằng việc chạy tán loạn.
127 Cô nhắm mắt lại, không muốn nhìn những gì tiếp theo. Khi cô mở mắt ra, đàn sói đang thong thả đi. Đàn bò xạ đã ngừng chạy. Chúng gõ vỡ băng bằng những cái móng guốc đồ sộ của mình và đang cúi xuống để bình thản gặm cỏ lãnh nguyên đang trồi lên. Đàn sói, thở hổn hển và ve vẩy đuôi, tong tả bỏ đi một quãng ngắn và nằm ẹp xuống. Vì một lý do không rõ nào đó, cuộc săn kết thúc. Chẳng hề có con mồi nào bị hạ. Kẻ săn mồi biết điều gì đó mà Julie không hiểu. Rồi cô nhìn thấy cánh cổng mở toang. Lẽ nào cô đã khép hờ? Cô quay cuồng thắc mắc. Phải chăng cô không khóa đủ chặt? Không, cô nhớ rõ mình đã khó khăn thế nào khi cài chốt trong giá lạnh. Cô đã khóa rất kỹ. Và rồi cô hiểu. Bố Kapugen đã thả đàn bò xạ ra. Cô bước trên băng về phía ông, kéo theo chiếc xe trượt phía sau. - Chúng lại được ở đó - ông nói. - Sói và bò xạ phương bắc. Suốt một tiếng im lặng kéo dài, Julie và cha cô nhìn những con vật di chuyển dưới vầng mặt trời trắng xóa chiếu xuống đỉnh trái đất. - Còn công việc kinh doanh, Aapa, - Julie thì thào. - Chuyện gì sẽ xảy ra với công việc kinh doanh? - Giờ chúng ta có một đàn hoang dã - ông nói. Nét mặt ông thật bình thản. - Người Eskimo đã tiêu diệt bò xạ Alaska khi người da trắng trang bị súng cho chúng ta. Giờ người Eskimo sẽ phục