Cô Gái Trong Sương Mù

1

1

1

2 Tặng Antonio, con trai tôi, mọi thứ của tôi Ngày mất tích 23 tháng 12

3 23 Tháng Hai Sáu mươi hai ngày sau vụ mất tích Cái đêm mà mọi thứ thay đổi hoàn toàn khởi đầu với một cú điện thoại. Chuông điện thoại vang lên vào lúc 10 giờ 20 phút tối thứ Hai. Nhiệt độ ngoài trời là âm 8°C, mọi thứ chìm trong một màn sương giá buốt. Flores đang yên ấm nằm cạnh vợ thưởng thức một bộ phim gangster trắng đen trên tivi. Sophia đã ngủ thiếp đi được một lúc, tiếng chuông điện thoại không thể quấy rầy giấc ngủ của bà. Thậm chí bà còn không hay biết khi chồng mình rời khỏi giường và mặc quần áo. Flores xỏ chân vào chiếc quần bông, mặc áo thun có cổ, rồi khoác chiếc áo jacket đông dày sụ để chống lại màn sương giá dường như đang xóa mờ mọi thứ kia. Ông phải nhanh chóng đi tới bệnh viện của Avechot, nơi ông đã làm việc với tư cách bác sĩ tâm thần suốt hơn bốn mươi trong sáu mươi hai năm tuổi đời. Trong quãng thời gian đó, chỉ có vài lần Flores bị lôi ra khỏi giường vì chuyện khẩn cấp, chủ yếu là việc của cảnh sát nhờ. Tại ngôi làng nhỏ trên núi nơi ông cư ngụ từ khi chào đời này, gần như chẳng có gì xảy ra sau khi mặt trời lặn, cứ như thể tại vĩ độ này, ngay đến bọn tội phạm cũng lựa chọn một cuộc sống đúng mực và thường xuyên ngồi nhà vào buổi tối. Chính vì thế, Flores tự hỏi chuyện gì đã khiến cho người ta cần đến sự có mặt của ông vào một giờ giấc bất thường như vậy. Thông tin duy nhất mà cảnh sát cho ông biết qua điện thoại là một người đàn ông đã bị bắt sau một tai nạn đường bộ. Không hơn. Tuyết đã ngừng rơi từ chiều, nhưng trời trở lạnh vào buổi tối. Khi Flores bước ra khỏi nhà, chào đón ông là một sự thinh lặng lạ lùng. Mọi thứ yên ắng và bất động. Thời gian tưởng như đã ngừng trôi. Cái rùng mình của ông không phải vì nhiệt độ bên ngoài, mà đến từ bên trong. Flores khởi động chiếc Citroen già nua của mình, ngồi chờ vài phút để động cơ diesel làm nóng đàng hoàng trước khi lên đường. Ông cần tiếng máy xua đi sự đơn điệu của không gian im lặng đáng sợ. Mặt đường đã bị đóng băng, nhưng hơn hết thảy, chính sương mù mới là thứ buộc ông phải duy trì tốc độ dưới hai mươi cây số một giờ, với hai bàn tay ghì chặt vô lăng, lưng chồm tới trước, và khuôn mặt ghé sát kính chắn gió để có thể ghi nhận hai mép đường. May mắn là ông thuộc đường đến nỗi cái đầu mách bảo ông về lộ trình cần đi trước cả khi đôi mắt làm điều đó. Đến một ngã tư, Flores chọn hướng đi tới trung tâm của ngôi làng. Lúc này ông mới nhìn ra được chút gì đó qua màn sương trắng đục. Trong khi di chuyển,

4 ông có cảm giác tất cả mọi thứ trôi chậm lại, giống như trong một giấc mơ. Từ trong tấm màn trắng, những ánh đèn nhấp nháy xuất hiện. Chúng dường như tiến về phía ông, mặc dù ông mới là người đang đến gần chúng. Một bóng người xuất hiện trong sương mù với những động tác vung tay kỳ quặc. Khi đến gần hơn, Flores nhận ra đó là một nhân viên cảnh sát đang ra hiệu cho những người đi đường lái xe cẩn trọng. Vẫy tay chào nhanh, Flores vượt qua anh ta. Phía sau lưng người cảnh sát, ánh đèn nhấp nháy hóa ra là đèn hiệu của một chiếc xe tuần tra và đèn hậu của một chiếc xe hơi màu đen đang nằm dưới mương nước. Không lâu sau đó, Flores đi đến trung tâm của ngôi làng. Nó vắng tanh vắng ngắt. Những ánh đèn đường vàng vọt trông đầy hư ảo trong sương mù. Flores lái xe xuyên qua khu vực đông dân cư và ra khỏi nó trước khi đến đích. Bệnh viện nhỏ của Avechot tấp nập một cách bất thường. Ngay khi Flores bước qua cổng chính, một trung úy cảnh sát tiến lại gần ông cùng với Rebecca Mayer, nữ công tố viên trẻ tuổi mới nổi dạo gần đây. Trông cô ta có vẻ lo lắng. Trong lúc Flores cởi áo khoác, cô ta cho ông biết danh tính của vị khách không mời đêm nay. – Vogel. – Cô ta nói vỏn vẹn có thế. Nghe thấy cái tên đó, Flores bỗng hiểu ra nguyên nhân của tất cả mọi sự lo lắng trong đầu. Đêm nay mọi thứ sẽ thay đổi hoàn toàn, nhưng ông còn chưa biết điều đó. Chính vì vậy mà ông không rõ lắm về vai trò của mình trong chuyện này. – Chính xác thì cô muốn tôi làm gì? – Ông hỏi. – Bác sĩ cấp cứu cho biết ông ta ổn. Nhưng hình như đầu óc ông ta đang trong tình trạng lú lẫn, có lẽ là do cú sốc của vụ tai nạn. – Nhưng cô không chắc, đúng không? – Câu hỏi của Flores đã đánh trúng mục tiêu, và Rebecca Mayer không cần phải trả lời. – Ông ta có bị căng trương lực không? – Không, ông ta phản ứng khi được kích thích. Nhưng tâm trạng ông ta thay đổi liên tục. – Và ông ta không nhớ bất kỳ điều gì về chuyện đã xảy ra. – Flores tự mình nói nốt. – Ông ta nhớ được vụ tai nạn. Nhưng chúng tôi quan tâm tới chuyện xảy ra trước đó. Chúng tôi phải hiểu được chuyện đã xảy ra tối nay. – Cô nghĩ ông ta đang giả vờ. – Tôi e là thế. Và đây là chỗ ông cần can thiệp, thưa bác sĩ. – Cô mong đợi điều gì ở tôi?

5 – Chúng tôi đã có đủ bằng chứng để kết tội ông ta, và ông ta biết điều đó. Chính vì vậy, ông phải cho chúng tôi biết liệu ông ta có hoàn toàn nhận thức được hành động của mình hay không. – Nếu có thì sao? – Chúng tôi sẽ có thể ra quyết định khởi tố và tiến hành thẩm vấn chính thức mà không sợ bị tay luật sư nào đó giải vây cho ông ta bằng một cái cớ ngu xuẩn. – Nhưng theo tôi hiểu thì vụ tai nạn không có nạn nhân, đúng không? Vậy cô sẽ truy tố ông ta tội gì? Rebecca Mayer im lặng trong giây lát. – Ông sẽ hiểu khi gặp ông ta. Họ để Vogel đợi trong phòng làm việc của Flores. Khi Flores mở cửa, ông lập tức trông thấy Vogel ngồi trên một trong hai cái ghế bành nhỏ phía trước bàn làm việc lộn xộn giấy tờ. Ông ta mặc một chiếc áo khoác bằng len cashmere sẫm màu, đầu gục xuống, và không thể hiện điều gì cho thấy đã nhận ra có người vừa bước vào phòng. Flores treo áo khoác lên móc rồi xoa xoa đôi tay lạnh cóng. – Xin chào. – Ông nói, đoạn tiến đến chỗ máy sưởi để kiểm tra xem nó có được bật hay không. Thật ra đó chỉ là một cái cớ để ông vào vị trí đối mặt với người đàn ông, để quan sát tình trạng của ông ta, và hơn hết, để hiểu được ý nghĩa câu nói của Rebecca Mayer. Bên dưới lớp áo khoác, Vogel ăn mặc rất lịch lãm. Com lê xanh sẫm, cà vạt lụa phớt xanh với họa tiết hoa nhỏ, một chiếc khăn tay màu vàng nơi túi ngực, áo sơ mi trắng, và khuy măng-séc hình ô-van bằng vàng hồng. Tuy vậy, mọi thứ nom cẩu thả như thể đã được mặc hàng tuần lễ. Không nói gì để đáp lại lời chào, Vogel ngước mắt lên trong một thoáng, trước khi lại cúi xuống nhìn hai bàn tay đặt trong lòng. Flores tự hỏi định mệnh trớ trêu nào đã đưa họ đối mặt nhau. – Anh ở đây lâu chưa? – Ông hỏi. – Còn anh? Flores bật cười trước câu pha trò, nhưng Vogel không thay đổi sắc mặt. – Khoảng bốn mươi năm. – Flores đáp. Trong suốt quãng thời gian ấy, căn phòng tích dần đồ đạc và giấy tờ cho tới khi trở nên bừa bộn. Ông biết đối với người khác, tổng thể nom rất lộn xộn. – Anh có thấy cái trường kỷ cũ kỹ kia không? Tôi thừa hưởng nó từ người tiền nhiệm. Còn chiếc bàn này là tôi tự chọn đấy.

6 Trên bàn có đặt những khung ảnh gia đình của Flores. Vogel cầm một cái lên xem. Trong ảnh là ông bác sĩ tâm thần đang bị vây quanh bởi đàn cháu con giữa một bữa tiệc thịt nướng ngoài trời. – Gia đình đẹp đấy. – Vogel nhận xét với giọng hờ hững. – Ba đứa con, mười một đứa cháu. Flores tỏ ra rất hãnh diện với hình ảnh người cha vĩ đại trong gia đình. Vogel đặt tấm ảnh trở lại chỗ cũ rồi nhìn quanh. Trên tường, bên cạnh các bằng cấp, những lá thư khen ngợi và những bức vẽ của con cháu là các chiến lợi phẩm mà Flores tự hào nhất. Là một người đam mê câu cá, ông đã treo trên tường một số lượng lớn những con cá nhồi rơm mà mình câu được. – Mỗi khi có thể, tôi lại bỏ hết mọi chuyện để đi tới một cái hồ hoặc một nguồn suối. – Flores đáp. – Đó là cách tôi giải tỏa căng thẳng. Trong một góc phòng, có một chiếc tủ cất cần câu cá cùng nhiều ngăn kéo chứa lưỡi câu, mồi câu, dây câu và những dụng cụ khác. Theo thời gian, căn phòng không còn giống gì với phòng làm việc của một bác sĩ tâm thần nữa. Nó đã trở thành hang ổ của Flores, một nơi của riêng ông, và ông thấy đau lòng khi nghĩ tới ngày về hưu trong vài tháng tới đây. Ông sẽ phải dọn dẹp mọi thứ và mang đi những món đồ của mình. Bên cạnh những câu chuyện mà bốn bức tường có thể kể lại, giờ đây còn một câu chuyện mới, về buổi thăm khám khuya khoắt trong một tối mùa đông. – Tôi vẫn chưa thể tin được anh lại ở đây. – Flores thừa nhận với một chút bối rối. – Vợ tôi và tôi đã thấy anh nhiều lần trên tivi. Anh nổi tiếng lắm. Vogel khẽ gật đầu. Rõ ràng ông ta đang rối trí. Trừ phi ông ta là một diễn viên giỏi. – Anh có chắc là mình ổn không? – Tôi ổn. – Vogel đáp với giọng rất khẽ. Flores rời khỏi máy sưởi và ngồi vào bàn làm việc, an tọa trên chiếc ghế bành qua năm tháng đã in dấu vóc người của ông. – Anh may lắm đấy, anh biết không. Trên đường tới đây, tôi có đi ngang hiện trường của vụ tai nạn. Cái mương nước mà anh rơi xuống cũng khá sâu, trong khi bên kia đường là cả một khe suối. – Sương mù. – Vogel đáp. – Phải rồi, sương giá. Chúng tôi ít khi gặp nó. Tôi phải mất hai mươi phút để đến được đây, trong khi bình thường chạy xe hơi từ nhà không quá mười phút. – Flores gác cùi chỏ lên tay tựa của chiếc ghế và ngả người ra sau. – Chúng ta vẫn

7 còn chưa tự giới thiệu với nhau. Tôi là bác sĩ Auguste Flores. Thế còn anh, tôi nên gọi anh là gì? Thanh tra Vogel, hay chỉ là ngài Vogel? Vogel tỏ vẻ ngẫm nghĩ trong giây lát. – Tùy anh. – Tôi không nghĩ một nhân viên cảnh sát có khi nào mất đi cấp bậc, kể cả lúc đã giải nghệ. Thế nên với tôi, anh vẫn là thanh tra Vogel. – Nếu anh thích thế. Hàng chục câu hỏi quay cuồng trong đầu Flores, nhưng ông biết mình phải chọn một câu thích hợp để bắt đầu. – Nói thật nhé, tôi không nghĩ sẽ lại thấy anh ở chốn này. Tôi nhớ anh đã quay về thành phố cách đây ít lâu, sau những gì đã xảy ra. Vì sao anh quay lại? Thanh tra Vogel chậm rãi lướt tay trên quần, như thể đang tìm cách phủi đi một hạt bụi không tồn tại. – Tôi không biết. – Ông ta chỉ nói có thế. Flores gật đầu. – Tôi hiểu. Anh đi một mình à? – Vâng. – Vogel đáp. Vẻ mặt của Vogel cho thấy ông ta không hoàn toàn hiểu ý nghĩa của câu hỏi. – Tôi đi một mình. – Sự hiện diện của anh ở đây có liên quan gì tới cô gái mất tích không? – Flores thăm dò. – Bởi vì theo tôi nhớ, hình như anh đã bị loại khỏi cuộc điều tra. Câu nói vừa rồi đã đánh thức điều gì đó trong Vogel. Dường như chạm tự ái, ông ta gắt lên: – Sao các anh lại bắt giữ tôi? Cảnh sát muốn gì ở tôi? Tại sao tôi không được về? Flores cố gắng huy động tất cả sự kiên nhẫn còn lại và đáp: – Thanh tra Vogel, tối nay đã anh đã bị tai nạn. – Tôi biết. – Vogel giận dữ đáp lại. – Và anh chỉ có một mình trên xe, đúng không? – Tôi đã nói với anh rồi. Flores mở một ngăn kéo bàn, lấy ra chiếc gương nhỏ và đặt nó trước mặt Vogel. Ông ta tỏ ra không mấy chú ý. – Và anh không hề hấn gì. – Tôi ổn mà, anh còn hỏi tôi câu đó bao nhiêu lần nữa đây? Flores chồm người tới trước.

8 – Vậy hãy giải thích với tôi một chuyện này. Nếu anh không hề hấn gì, thì chỗ máu trên quần áo anh là của ai? Vogel bỗng ngẩn ra, không biết phải nói gì. Sự giận dữ biến mất, ánh mắt ông ta dừng lại nơi chiếc gương soi mà Flores đã đặt trước mặt mình. Giờ thì ông ta đã thấy. Những chấm đỏ li ti trên cổ tay áo sơ mi, vài ba chấm to hơn trước bụng. Một số vết sẫm màu hơn, khó thấy vì màu vải của áo vest và áo khoác, nhưng vẫn có thể nhận ra vì sắc độ đậm hơn. Vogel nom như thể mới trông thấy chúng lần đầu tiên. Nhưng một phần trong ông ta biết chúng ở đó, Flores chắc chắn như vậy. Bởi vì Vogel không tỏ ra quá ngạc nhiên và cũng không lập tức chối bỏ sự hiện diện của chúng. Trong đôi mắt ông ta lúc này có một ánh sáng khác, và tình trạng lú lẫn của ông ta bắt đầu tan biến như thể nó là một màn sương. Nhưng màn sương thực sự vẫn tồn tại bên ngoài cửa sổ, bao trùm lên vạn vật. Cái đêm mà mọi thứ thay đổi hoàn toàn chỉ mới bắt đầu. Vogel nhìn thẳng vào trong mắt Flores, đột nhiên minh mẫn hẳn. – Anh nói đúng. – Ông ta lên tiếng. – Tôi nghĩ tôi nợ anh một lời giải thích.

9 25 tháng Mười Hai Hai ngày sau vụ mất tích Cánh rừng thông đổ xuống sườn núi như những hàng quân lính san sát chuẩn bị đánh chiếm thung lũng dài và hẹp như một vết sẹo cũ. Ở trung tâm của nó, một dòng sông xanh biếc chảy qua, khi lững lờ, lúc sôi sục. Avechot nằm giữa khung cảnh ấy. Ngôi làng trên núi Alpes cách biên giới chỉ vài cây số. Những ngôi nhà mái dốc, nhà thờ có tháp chuông, tòa thị chính, đồn cảnh sát, một bệnh viện nhỏ. Một cụm trường, vài quán bar và một sân trượt băng. Khu rừng, thung lũng, dòng sông, ngôi làng. Cùng một khu phức hợp khai mỏ gớm ghiếc, một vết rạch vào quá khứ và thiên nhiên nơi đây. Một quán ăn nằm ngay ở rìa khu dân cư, bên cạnh quốc lộ. Qua ô kính cửa sổ của quán, người ta có thể nhìn thấy con đường và một cây xăng. Hàng chữ bằng đèn neon trên đó gửi lời chúc Nghỉ lễ vui vẻ đến khách qua đường. Nhưng nhìn từ phía bên trong, những chữ cái lộn ngược tạo thành một thứ ký tự tượng hình khó hiểu. Quán ăn có khoảng ba chục cái bàn bằng formica màu xanh dương nhạt, một số được che chắn bằng những tấm vách ngăn gắn cố định vào tường. Tất cả đều được sửa soạn, nhưng chỉ một bàn duy nhất có khách ngồi. Nó ở ngay giữa quán. Thanh tra Vogel một mình dùng bữa sáng gồm có trứng và thịt xông khói. Ông mặc một bộ com lê xám chì, áo gile xám xanh, cà vạt xanh sẫm, và không buồn cởi chiếc áo khoác len cashmere khi ngồi vào bàn. Vogel ngồi thẳng người, ánh mắt tập trung vào một cuốn sổ đen mà ông dùng để ghi chép với một chiếc bút thanh nhã mạ bạc, chốc chốc lại đặt bút xuống để xúc một nĩa thức ăn. Ông tuần tự làm các động tác đó một cách đều đặn, tuân theo một thứ nhịp điệu bên trong cơ thể. Ông chủ quán đeo một chiếc tạp dề lấm tấm vệt mỡ bên ngoài chiếc áo sơ mi hàng thịt bằng vải ca rô đỏ, tay áo xắn lên tận khuỷu. Ông ta rời quầy và tiến lại gần vị khách với một bình cà phê bốc khói. – Anh thấy đấy, hôm nay tôi thậm chí không muốn mở cửa. Tôi đã nghĩ: ai lại đến đây vào ngày Giáng sinh kia chứ? Cho đến thời điểm cách đây vài năm, nơi này đầy khách du lịch, những gia đình đi cùng trẻ con… Nhưng từ khi họ phát

10 hiện ra vỉa quặng chết tiệt kia, mọi thứ đã thay đổi. – Ông ta nói ra câu đó tuồng như nuối tiếc một thời đại sung sướng xa vời không bao giờ quay trở lại. Trước đó ít lâu, cuộc sống ở Avechot thật thanh bình và yên tĩnh. Mọi người sống bằng nghề du lịch và thủ công nghiệp. Nhưng một ngày nọ, một người đến từ nơi khác đã dự đoán trong lòng núi nơi đây có một vỉa quặng fluorit. Quả vậy, Vogel nghĩ thầm, ông già này nói đúng: mọi thứ đã thay đổi. Một tập đoàn đa quốc gia đã đến, mua lại quyền sử dụng các khu đất quanh vỉa quặng với giá cao. Nhiều người chủ đất đột nhiên trở nên giàu có. Còn những người không có may mắn sở hữu các lô đất vàng thì nghèo đi, vì khách du lịch không đến nữa. – Lẽ ra tôi nên bán quách chỗ này đi và nghỉ hưu cho khỏe. – Ông chủ quán tiếp lời. Nói đoạn, vừa lắc đầu ngao ngán, ông ta vừa rót cà phê vào tách của Vogel, dù không hề được yêu cầu. – Khi tôi nhìn thấy anh bước vào, tôi đã nghĩ anh là một trong những gã bán dạo thỉnh thoảng tìm cách lừa tôi mua mấy món đồ vớ vẩn. Nhưng rồi tôi hiểu ra… Anh đến đây là vì con bé, đúng không? Với một cử động gần như không thể ghi nhận của cái đầu, ông ta hất hàm chỉ tờ giấy dán trên tường, bên cạnh cửa ra vào. In trên đó là hình ảnh tươi cười của một cô bé thiếu niên với mái tóc hung và khuôn mặt lấm tấm tàn nhang. Một cái tên, Anna Lou. Một câu hỏi: Có ai nhìn thấy cháu không? Kèm theo một số điện thoại và vài hàng chữ. Nhận thấy ông chủ quán đang xem trộm cuốn sổ đen, Vogel vội đóng nó lại. Ông đặt nĩa xuống. – Ông biết cô bé à? – Tôi biết gia đình con bé. Họ thật can đảm. – Ông chủ quán đáp trong lúc kéo một chiếc ghế để ngồi xuống đối diện với Vogel. – Theo anh, con bé đã gặp chuyện gì? Vogel đưa tay chống cằm. Đã bao nhiêu lần người ta hỏi ông câu này nhỉ? Luôn là như thế. Họ có vẻ lo lắng thật lòng, hoặc cố tỏ ra như vậy, nhưng chung quy lại vẫn chỉ là vì tò mò. Một sự tò mò bệnh hoạn, không thương xót. – Hai mươi tư. Ông chủ quán không hiểu gì cả, nhưng Vogel đã chặn trước mọi câu hỏi bằng một lời giải thích. – Trung bình, các thiếu niên đi bụi cầm cự được hai mươi tư giờ trước khi bật điện thoại di động trở lại. Sau đó, chúng sẽ gọi một đứa bạn, hoặc kiểm tra xem người ta có nhắc đến mình trên mạng hay không. Và thế là chúng tôi định vị được

11 chúng. Đa phần bọn trẻ tự động quay về sau bốn mươi tám tiếng… Do vậy, trong vòng hai ngày kể từ khi mất tích, trừ phi bọn trẻ gặp kẻ xấu hoặc bị tai nạn, có một khả năng lớn là mọi chuyện sẽ kết thúc tốt đẹp. – Thế sau đó thì sao? – Sau đó, thường thì người ta gọi cho tôi. Vogel đứng dậy, đút tay vào túi rồi đặt lên bàn một tờ giấy bạc hai mươi euro để thanh toán cho bữa sáng. Ông tiến ra cửa, nhưng trước khi rời quán, ông quay lại nhìn ông chủ quán. – Hãy tin tôi đi: đừng có bán cái chỗ này. Nó sắp đầy khách trở lại rồi đấy. Bên ngoài vẫn còn lạnh, nhưng bầu trời đã quang mây và rực nắng. Những chiếc xe tải chạy trên quốc lộ làm vạt áo khoác của Vogel bay lật phật. Hai tay đút túi, ông đứng bất động trên sân trước của nhà hàng, bên cạnh cây xăng, mắt ngước lên trời. Một thanh niên trạc ba mươi tuổi xuất hiện phía sau lưng Vogel. Anh ta cũng mặc com lê, đeo cà vạt, và có một chiếc áo khoác màu sẫm, nhưng không phải chất liệu cashmere. Mái tóc màu hạt dẻ rẽ ngôi lệch, đôi mắt có màu xanh nhạt. Đó là khuôn mặt của một chàng trai tử tế. – Xin chào. – Anh chàng lên tiếng. Không có lời đáp nào. – Tôi là trung úy Borghi. Người ta bảo tôi đến tìm ông. Vogel không buồn để mắt đến anh ta. Ông vẫn nhìn lên trời. – Cuộc họp chỉ đạo sẽ bắt đầu sau nửa tiếng nữa. Mọi người đều có mặt, đúng như ông đã yêu cầu. Đến lúc này Borghi mới nghiêng đầu, và nhận ra ông thanh tra đang quan sát thứ gì đó trên nóc cây xăng. Một chiếc camera giám sát với ống kính hướng ra quốc lộ. Vogel rốt cuộc cũng quay người lại. – Con đường này là lối vào thung lũng duy nhất, đúng không? – Vâng, thưa thanh tra. Không có con đường ra vào nào khác. Nó chạy xuyên qua đây, từ đầu này đến đầu kia. – Tốt. – Vogel đáp. – Bây giờ hãy đưa tôi đến đầu kia. Nói đoạn ông bước nhanh về phía chỗ chiếc xe sedan màu đen không mã hiệu cảnh sát Borghi đã lái đến. Anh chàng cảnh sát trẻ tuổi ngập ngừng trong giây lát, trước khi nối gót ông thanh tra. Vài phút sau, họ đã có mặt trên một cây cầu bắc qua sông dẫn vào thung lũng. Anh cảnh sát đứng chờ trước chiếc xe hơi bên vệ đường, trong khi Vogel ở cách

12 đó vài mét lặp lại cùng một động tác như lúc nãy. Lần này ông ngước mắt nhìn một chiếc camera giao thông nằm trên đỉnh một cây cột bên đường. Những chiếc xe chạy qua chỗ ông bóp còi inh ỏi để phản đối. Nhưng Vogel điềm nhiên làm việc của mình. Borghi thấy cảnh tượng đó thật khó hiểu và ngược đời. Khi đã chán chê, Vogel quay lại chỗ chiếc xe. – Chúng ta đến gặp bố mẹ của cô bé. – Ông nói trong lúc bước lên xe mà không buồn đợi Borghi đáp. Anh cảnh sát nhìn đồng hồ, rồi kiên nhẫn ngồi vào ghế lái. – Anna Lou chưa bao giờ làm tôi phiền lòng. – Maria Kastner khẳng định một cách chắc chắn. Mẹ của cô bé là một phụ nữ nhỏ nhắn nhưng tỏa ra một sức mạnh đặc biệt. Chị ta ngồi trên chiếc trường kỷ trong phòng khách ngôi nhà hai tầng, bên cạnh ông chồng, một người đàn ông vạm vỡ có vẻ hiền lành. Cả hai vẫn đang mặc đồ ngủ và nắm tay nhau. Một thứ mùi ngòn ngọt pha trộn giữa mùi thức ăn và nước hoa xịt phòng làm Vogel cảm thấy khó chịu. Ông đang ngồi trên một chiếc ghế bành, trong khi Borghi ngồi cách đó một quãng. Giữa hai người cảnh sát và cặp vợ chồng là một cái bàn thấp với những tách cà phê sắp nguội lạnh: không ai tỏ ra muốn uống. Trong phòng có một cây thông Giáng sinh. Dưới gốc cây là hai cậu bé sinh đôi bảy tuổi đang chơi với những món quà vừa mở. Một gói quà vẫn còn nguyên vẹn. Nó có buộc một chiếc nơ to màu đỏ. Bắt gặp ánh mắt của Vogel, người mẹ phân trần: – Chúng tôi vẫn muốn bọn trẻ mừng ngày Chúa Jesus ra đời. Đó cũng là một cách để làm chúng khuây khỏa trong tình cảnh này. Tình cảnh ở đây là con gái đầu lòng của họ, đứa con gái duy nhất, đã biến mất hai ngày trước đó. Cô bé rời nhà vào buổi chiều, tầm 17 giờ, để đi tới nhà thờ nằm cách đó vài trăm mét. Và không bao giờ đến nơi. Anna Lou đã đi một lộ trình ngắn ngủi trong một khu dân cư với những ngôi nhà nhỏ có sân vườn giống hệt nhau. Mọi người ở đây đều quen biết nhau từ lâu. Nhưng không ai nhìn thấy hay nghe thấy bất cứ điều gì. Báo động được phát lúc 19 giờ, khi mẹ của cô bé không thấy con về và gọi vào điện thoại di động của con, lúc ấy đã bị tắt. Mọi chuyện đều có thể xảy ra trong khoảng hai tiếng đồng hồ đằng đẵng đó. Cuộc tìm kiếm diễn ra trong suốt buổi tối, trước khi lý trí khuyên bảo họ về nghỉ để tiếp tục vào sáng hôm sau. Hơn nữa, cảnh sát địa phương không có đủ nguồn lực để rà soát toàn bộ khu vực.

13 Trong lúc này, họ chưa có bất kỳ giả thiết nào về sự mất tích của cô bé. Vogel một lần nữa quan sát cặp vợ chồng có đôi mắt trũng sâu vì mất ngủ. Trong những tuần lễ sắp tới, tình trạng thiếu ngủ sẽ làm họ già đi rất nhanh, dù hiện giờ nó chỉ để lại một dấu vết mờ nhạt. – Con gái chúng tôi luôn là đứa có trách nhiệm. – Người mẹ nói tiếp. – Tôi không biết phải nói thế nào… Chúng tôi chưa bao giờ phải lo lắng cho nó. Con bé tự lớn lên, phụ giúp việc nhà, chăm sóc các em. Ở trường, các thầy cô đều hài lòng về nó. Dạo gần đây con bé còn dạy giáo lý trong hội thân hữu mà chúng tôi tham gia nữa cơ. Phòng khách được bài trí khá khiêm nhường. Lúc đi vào, Vogel đã nhận ra nhiều đồ vật thể hiện một đức tin sâu sắc. Trên tường có treo ảnh thánh và những cảnh trích từ trong Kinh thánh. Chúa Jesus ngự trị khắp nơi, dưới dạng các bức tượng bằng nhựa hoặc thạch cao, Đức Mẹ đồng trinh cũng vậy, chưa kể hàng loạt vị thánh. Một cây thập giá bằng gỗ được đặt phía bên trên chiếc tivi. Trong phòng cũng bày nhiều khung ảnh gia đình. Một cô bé tóc hung xuất hiện ở nhiều tấm trong số đó. Anna Lou là phiên bản nữ của bố cô bé. Cô bé luôn tươi cười. Ngày rước lễ lần đầu, chuyến đi núi cùng hai cậu em, đôi giày trượt quàng trên vai tại sân trượt băng và chiếc huy chương được khoe đầy tự hào sau một cuộc thi. Vogel biết căn phòng này, những bức tường này, ngôi nhà này sẽ không còn như trước được nữa. Chúng chứa đầy những kỷ niệm mà không bao lâu nữa sẽ chỉ gây đau lòng. – Chúng tôi sẽ không hạ cây thông xuống chừng nào con bé chưa về nhà. – Maria Kastner tuyên bố với giọng hùng hồn. – Nó sẽ sáng đèn để người ta có thể trông thấy qua cửa sổ. Vogel nghĩ tới sự nghịch lý của chuyện đó, đặc biệt là trong những tháng tới. Một cây thông Giáng sinh đóng vai trò của ngọn hải đăng dẫn lối cho một người có thể sẽ không bao giờ trở về. Bởi vì rất có thể như thế. Chỉ là bố mẹ của Anna Lou chưa nhận ra mà thôi. Những ánh đèn tươi vui sẽ thông báo với mọi người bên ngoài rằng, một thảm kịch đang xảy ra bên trong những bức tường này. Sự hiện diện của chúng sẽ trở nên nặng nề. Người qua đường, hàng xóm láng giềng sẽ không thể phớt lờ cái cây cùng với ý nghĩa của nó, và theo thời gian, thậm chí họ sẽ cảm thấy khó chịu vì nó. Khi đi ngang qua ngôi nhà, họ sẽ phải băng sang lề đường bên kia để khỏi nhìn thấy nó. Biểu tượng đó sẽ làm mọi người xa lánh gia

14 đình Kastner, làm trầm trọng thêm sự cô độc của họ. Bởi vì cái giá mà ta phải trả để sống tiếp cuộc đời của mình, như Vogel đã biết, chính là sự bàng quan. – Người ta nói một hành động phản kháng hay bốc đồng là chuyện bình thường ở lứa tuổi mười sáu. – Maria khẳng định, trước khi kiên quyết lắc đầu. – Với con gái tôi thì không. Vogel gật đầu. Mặc dù chưa có bằng chứng gì, ông vẫn đồng ý với chị ta. Không phải ông chỉ chiều lòng một bà mẹ đang tìm cách gỡ tội cho bản thân qua việc cam đoan rằng con gái mình không hư hỏng. Ông thực sự tin rằng Maria nói đúng. Điều khiến Vogel tin tưởng như thế chính là khuôn mặt tươi cười của Anna Lou đang nhìn ông từ khắp nơi trong phòng, vẻ giản đơn gần như trẻ con của nụ cười ấy mách bảo ông rằng một chuyện gì đó đã xảy ra với cô bé. Và nó đã xảy ra không theo ý muốn của Anna Lou. – Chúng tôi rất gắn bó với nhau, con bé giống tôi lắm. Nó đã làm cái này cho tôi đấy. Nó đã tặng cho tôi cách đây một tuần. – Người mẹ vừa nói vừa giơ ra một chiếc vòng đeo tay kết bằng những hạt nhựa màu ở cổ tay mình. – Dạo gần đây con bé rất mê món này. Nó làm vòng rồi tặng cho những người mà nó yêu quý. Vogel nhận thấy trong khi kể lể những chi tiết vừa rồi, những chi tiết chẳng ích lợi gì đối với cuộc điều tra, giọng nói và ánh mắt của Maria Kastner không thể hiện chút cảm xúc nào. Nhưng dù sao thì nó cũng không phải là sự lạnh lùng. Vogel đã hiểu: thật ra, người đàn bà này tin rằng đây là một thử thách mà họ phải vượt qua trong thời điểm này, để chứng minh rằng đức tin của họ vẫn nguyên vẹn và vững chắc. Vì vậy, trong thâm tâm, chị ta chấp nhận sự việc đã xảy ra và chỉ biết kêu gào bất công với hy vọng ai đó ở trên kia, đích thân Chúa trời chẳng hạn, có thể nhanh chóng giải quyết mọi chuyện. – Anna Lou tin tưởng tôi, nhưng một người mẹ không thể biết tường tận mọi điều về con cái của mình được, tất nhiên rồi. Hôm qua, khi dọn phòng con bé, tôi đã tìm thấy cái này… Người phụ nữ buông tay chồng mình trong giây lát để đưa cho Vogel một quyển nhật ký có bìa màu sắc sặc sỡ mà chị ta giữ bên cạnh. Ông chồm người qua chiếc bàn thấp để đón lấy nó. Trên bìa quyển nhật ký có hai con mèo nhỏ đang vờn nhau. Vogel lật vài trang. – Ông sẽ không tìm thấy bất cứ điều gì đáng ngờ đâu. – Người mẹ nói. Vogel đóng quyển nhật ký lại, rồi rút từ túi áo trong ra cuốn sổ đen và cây bút. – Tôi đoán anh chị nắm được hết những mối quan hệ của con gái… – Đương nhiên. – Maria tuyên bố với giọng hơi bực bội.

15 – Anna Lou có gặp gỡ người nào đó dạo gần đây hay không? Một người bạn trai, hoặc bạn gái mới chẳng hạn. – Không. – Chị chắc chứ? – Chắc. Nếu có thì con bé đã kể với tôi. Trước đó ít phút chị ta đã thừa nhận rằng một người mẹ không thể biết được mọi thứ về con cái mình, nhưng bây giờ chị ta lại khẳng định một cách quả quyết. Điển hình cho những cặp cha mẹ có con mất tích. Họ muốn giúp cảnh sát, nhưng cũng biết lỗi tại họ một phần, ít nhất là ở sự thiếu quan tâm con cái. Nếu khơi lên vấn đề này, bản năng tự vệ sẽ trỗi dậy, dù phải chối bỏ sự thật. Và Maria đã bắt đầu nói năng mâu thuẫn. Nhưng Vogel muốn tìm hiểu thêm. – Anh chị có ghi nhận thái độ khác thường nào trong khoảng thời gian gần đây hay không? – Khác thường nghĩa là sao? – Chắc chị cũng biết bọn trẻ rồi đấy. Từ những dấu hiệu rất nhỏ, chúng ta có thể hiểu ra nhiều điều. Cô bé có mất ngủ không? Ăn uống có điều độ không? Tâm trạng có thay đổi không? Cô bé có khép mình lại, bẳn tính, hoặc tỏ những thái độ mà trước đây không có hay không? – Nó vẫn luôn là Anna Lou của chúng tôi. Tôi hiểu con gái mình, thưa thanh tra, có điều gì không ổn là tôi biết ngay. Cô bé có một chiếc điện thoại di động. Theo ghi nhận của Vogel thì nó thuộc đời cũ, không phải là smartphone. – Con gái anh chị có hay lên mạng không? Bố mẹ cô bé nhìn nhau. – Hội thân hữu của chúng tôi không khuyến khích sử dụng một số công nghệ. – Maria đáp. – Mạng Internet toàn là bẫy rập, thưa thanh tra. Những thứ lọc lừa dối trá có thể ảnh hưởng tới việc nuôi dạy một tín đồ ngoan đạo. Nhưng dù sao thì chúng tôi cũng không bao giờ cấm đoán con gái mình. Đó luôn là sự lựa chọn của con bé. Tất nhiên rồi, Vogel nhủ thầm. Nhưng người phụ nữ này nói đúng. Hiểm nguy thường đến từ Internet. Các thiếu niên nhạy cảm như Anna Lou có thể dễ dàng bị tác động. Trên mạng đầy những kẻ săn mồi có thể thao túng những tâm hồn không vững vàng, và len lỏi vào cuộc đời họ. Bằng cách triệt tiêu dần sự đề phòng và đảo ngược những mối quan hệ đáng tin, chúng có thể chiếm chỗ của những vị phụ huynh khó tính, sai khiến bọn trẻ từ xa, cho đến khi đạt được điều mình muốn. Trên phương diện này, Anna Lou là một con mồi hoàn hảo. Cô bé có thể chỉ giả

16 vờ nghe lời bố mẹ và lướt mạng ở nơi khác, chẳng hạn tại trường hoặc thư viện. Vogel sẽ phải kiểm tra chuyện này. Còn hiện tại, ông cần đào sâu những chi tiết khác. – Anh chị thuộc nhóm những dân làng may mắn được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho công ty khai mỏ, đúng không? Câu hỏi thực ra dành cho Bruno Kastner, nhưng một lần nữa, vợ anh ta lại là người lên tiếng. – Bố tôi đã để lại cho chúng tôi một thửa đất ở phía bắc khu dân cư. Ai mà biết được nó lại có giá trị đến thế… Chúng tôi đã dành một phần tiền cho hội thân hữu và trả dứt nợ ngôi nhà này.

Đầu truyệnChương Sau

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 1

Đang tải bình luận...