Danh Sách Của Schindler

phần còn lại của thành

phần còn lại của thành

phần còn lại của thành phố này. Tất nhiên, nó chẳng ý nghĩa gì. Chỉ là một sự kiện bất thường, không ảnh hưởng tới cuộc sống của đa số; không đảo

ngược nổi thực tại hay khiến không khí mù mịt khói ở đây quang đãng hơn. Nhưng với Clara Sternberg, cảnh tượng ấy thật không tài nào chịu nổi. Và với bà Krumholz sáu mươi tuổi đang chờ chết ở lán người già, cũng vậy. Bà bắt đầu cự cãi với viên Kapo Hà Lan ở cửa lán. Tôi sẽ nhập bọn với họ, bà nói. Người kia tuôn ra một tràng lý luận. Sau cùng, bà ta nói, bà ở đây thì hơn. Nếu đi, bà sẽ chết trên toa gia súc. Ngoài ra tôi phải giải thích vì sao bà vắng mặt. Bà cứ bảo, bà Krumholz đáp, tôi có tên trong danh sách của Schindler. Họ đã thu xếp cả rồi. Các con số sẽ khớp. Không ai thắc mắc gì đâu. Họ cãi nhau năm phút, nói đến gia đình, tìm hiểu gốc gác của nhau, có lẽ mong tìm ra điểm yếu nằm ngoài logic ngặt nghèo của cuộc tranh luận. Té ra người phụ nữ Hà Lan cũng có họ Kumholz. Họ bắt đầu bàn về tung tích người thân. Chồng tôi ở Sachsenhausen, chắc thế, bà Krumholz Hà Lan nói. Bà Krumholz Cracow thì bảo, chồng và con trai lớn của tôi cũng đi rồi. Có lẽ là Mauthausen. Tôi lẽ ra sẽ đến trại Schindler ở Moravia. Nhóm phụ nữ bên kia hàng rào sắp đi đấy. Họ không đi đâu sất, bà Krumholz Hà Lan nói, bởi chỉ có một chỗ để đi thôi. Bà Krumholz Cracow nói, Nhưng họ nghĩ mình sẽ được đi. Xin chị! Vì nếu các Schindlerfrauen ảo tưởng, bà Kumholz từ Cracow muốn được ảo tưởng cùng với họ. Người nữ Kapo thông cảm với bà, và rốt cuộc mở cửa cho bà đi, muốn ra sao thì ra. Giữa bà Krumholz, bà Sternberg và nhóm phụ nữ của Schindler chỉ còn một hàng rào. Đây không phải hàng rào vòng ngoài, dẫn điện. Tuy vậy nó vẫn theo đúng quy chuẩn của Cục D, gồm ít nhất mười tám sợi, càng lên cao càng dày. Ở dưới thưa hơn, mỗi sợi song song cách nhau độ mười lăm xăng ti mét. Nhưng giữa mỗi cụm sợi song song lại có khoảng trống gần ba mươi xăng ti mét. Hôm ấy, theo lời nhân chứng và bản thân họ, cả bà Krumholz lẫn bà Sternberg, bằng cách nào đó, đã xé toang

hàng rào đến với nhóm phụ nữ của Schindler, để gia nhập bất kỳ giấc mơ giải thoát giữa ban ngày nào họ đang tận hưởng. Cố lách qua khoảng cách chắc chỉ hai mươi hai phân, căng dây ra, xé toạc quần áo và để gai cào rách thịt, họ tự mình trở lại danh sách của Schindler. Chẳng ai ngăn họ vì không ai tin vào điều đó. Với những phụ nữ khác ở Auschwitz kiểu gì thì ví dụ này cũng không liên quan tới họ. Với những kẻ đào tẩu khác, vượt qua hàng rào này chỉ dẫn ta đến hàng rào khác, rồi hàng rào khác nữa, rồi đến lớp rào ngoại vi dẫn điện. Trong khi với Sternberg và Krumholz, chỉ có một lớp rào ấy thôi. Quần áo họ mang theo từ ghetto và giữ gìn cẩn thận ở Płaszów lầy lội nay đã ở lại trên rào. Trần truồng và rướm máu, họ nhập vào hàng phụ nữ của Schindler. Bà Rachela Korn, nằm liệt trong lán cứu thương ở tuổi bốn tư, cũng được con gái lôi qua cửa sổ, đỡ đứng thẳng trong hàng. Với bà và hai người kia, hôm nay là sinh nhật. Mọi người trong hàng như đang chúc mừng họ. Trong nhà tắm, họ bị cạo nhẵn. Các nữ thợ cạo Latvia lia một đường lùa chấy chạy dọc đầu họ, cạo lông nách và lông mu họ. Tắm xong, họ bị xua trần truồng đến lán hậu cần, ở đây họ được phát quần áo của người chết. Thấy nhau trọc lốc và quần áo tạm bợ, họ phá lên cười - sự hồn nhiên của tuổi trẻ. Cảnh cô gái nhỏ nhắn Mila Pfefferberg, chỉ còn ba mươi lăm cân, mặc y phục của một phụ nữ béo tốt khiến họ cười rũ ra. Dở sống dở chết, y phục rách rưới đánh số bằng sơn, họ uốn éo, làm mẫu, đóng kịch, và rúc rích như một bầy nữ sinh. “Schindler định làm gì với lũ gái già này?” Clara Sternberg nghe một nữ nhân viên SS hỏi đồng nghiệp. “Bố ai biết được,” người kia đáp. “Hắn thích thì cho hắn mở nhà dưỡng lão.” Dù chuẩn bị tinh thần thế nào, đoàn tàu vẫn là một trải nghiệm kinh khủng. Cả khi trời lạnh, vẫn có cảm giác ngột ngạt đến từ sự tăm tối. Hễ lên xe, lũ trẻ lập tức dồn về bất kỳ khe hở

nào có ánh sáng. Sáng hôm ấy Niusia Horowitz làm như vậy - áp sát vào thành toa, nơi có một tấm ván xộc xệch. Nhìn qua kẽ hở, em thấy hàng rào của trại nam bên kia đường tàu. Em thấy một dúm trẻ con đứng dòm và vẫy đoàn tàu. Trong động tác của chúng, có gì đó bền bỉ một cách rất riêng tư. Em cảm thấy kỳ lạ vì một đứa giống hệt cậu em lên sáu của mình, đang an toàn ở chỗ Schindler. Còn thằng bé bên cạnh thì giống đứa em họ Olek Rosner như đúc. Rồi em hiểu ra. Chính là Richard. Chính là Olek. Em quay sang tìm mẹ và kéo bà ra. Regina nhìn, cũng trải qua quá trình nhận diện tàn nhẫn ấy, và bắt đầu kêu gào. Cửa toa đã đóng; họ bị lèn chặt trong bóng tối, và mỗi cử động, mỗi hơi hướm hy vọng hoặc hoảng sợ, đều dễ lây lan. Ai nấy bắt đầu kêu khóc. Manci Rosner, đứng gần chị dâu, nhẹ nhàng đẩy Regina dịch sang, nhìn, thấy con trai đang vẫy, và cũng bắt đầu gào khóc. Cửa lại mở ra và một hạ sĩ quan vạm vỡ hỏi làm gì mà ồn thế. Không ai có động cơ gì để bước lên, trừ Manci và Regina vật lộn chen lên trước. “Con tôi đang ở ngoài kia,” họ đồng thanh. “Con trai tôi,” Manci nói. “Tôi muốn cho nó biết tôi còn sống.” Người nọ ra lệnh cho họ xuống tàu. Khi xuống rồi, họ mới bắt đầu tự hỏi mục đích của anh ta là gì. “Tên chị?” anh ta hỏi Regina. Bà trả lời và thấy anh ta vòng tay ra sau, lục tìm dưới thắt lưng da. Bà ngỡ bàn tay sẽ rút ra một khẩu súng. Nhưng hóa ra đấy là thư của chồng bà. Anh ta có một bức thư tương tự từ Henry Rosner. Anh ta kể vắn tắt chuyến đi từ Brinnlitz, với chồng họ. Manci gợi ý anh ta cho phép họ chui xuống gầm xe, giữa đường ray, để đi tiểu. Khi tàu dừng lâu, đôi khi họ vẫn được phép làm vậy. Anh ta bằng lòng. Vừa chui xuống gầm tàu, Manci liền phát ra tiếng huýt chói tai của nhà Rosner cô vẫn dùng trên Appellplatz ở Płaszów để gọi Henry và Olek. Olek nghe thấy, và bắt đầu vẫy. Em nắm đầu Richard, quay về hướng hai bà mẹ, đang lấp ló giữa bánh xe của đoàn tàu.

Sau khi vẫy rối rít, Olek giơ tay lên cao và kéo áo xuống khoe một hình xăm ngoằn ngoèo như vết dãn tĩnh mạch trên bắp tay. Và tất nhiên hai bà mẹ vẫy, gật đầu, và hoan hô; cậu bé Richard cũng giơ hình xăm lên, để được hoan hô. Mẹ, nhìn này, lũ trẻ tay áo xắn cao như muốn nói, chúng con vào biên chế rồi. Nhưng giữa những bánh xe hai bà mẹ đang kinh hoảng. “Chúng bị sao thế?” họ hỏi nhau. “Lạy Chúa, chúng làm gì ở đây?” Họ hiểu rằng trong thư sẽ giải thích rõ ràng hơn. Cả hai xé thư ra đọc, cất đi, rồi tiếp tục vẫy. Tiếp đó, Olek xòe tay ra khoe mấy củ khoai tây bé xíu. “Đó,” cậu hét và Manci nghe rõ từng lời. “Mẹ không phải lo con bị đói nữa nhé.” “Bố đâu?” Manci hỏi. “Bố đi làm,” Olek nói. “Bố sẽ về sớm thôi. Khoai này con để dành cho bố.” “Chúa ơi,” Manci than thở với chị dâu. Một tí thức ăn như thế. Cậu bé Richard thật thà hơn. “Mamushka, Mamushka, Mamushka,” cậu kêu, “con đói quá!” Nhưng cậu cũng giơ lên mấy củ khoai. Khoai cho Dolek, cậu bảo. Dolek và Rosner đang làm việc ở mỏ đá. Henry Rosner về đầu tiên. Anh đứng sát rào, giơ cánh tay trần lên, “Hình xăm đây rồi,” anh hân hoan gọi lớn. Tuy vậy Manci vẫn thấy anh cùng lúc vừa run, vừa toát mồ hôi vừa lạnh. Cuộc sống ở Płaszów chẳng dễ dàng gì, nhưng anh còn được ngủ bù dưới xưởng sơn sau những giờ chơi Lehar trên biệt thự. Ở đây, ban nhạc thỉnh thoảng vẫn diễn tấu cho dòng người tiến về “nhà tắm”, nhưng họ không chơi thứ nhạc của Rosner. Khi Dolek quay về, Richard dẫn bố tới hàng rào. Ông thấy hai gương mặt xinh đẹp nhưng thất thần ló ra dưới gầm tàu. Điều ông lẫn Henry sợ nhất là họ đòi ở lại. Họ không thể ở cùng các con trong trại nam. Họ đang có hoàn cảnh khả quan nhất tại Auschwitz - ngồi dưới gầm một đoàn tàu chắc chắn sẽ lăn bánh

trước khi trời tối. Ý niệm đoàn viên ở chốn này chỉ là ảo tưởng, nhưng hai người đàn ông ở hàng rào Birkenau vẫn sợ vợ họ sẵn sàng chết vì điều đó. Vì vậy Dolek và Henry trò chuyện với vẻ hồ hởi giả tạo - như hai ông bố thời bình định đưa con đi biển Baltic cho vợ được thảnh thơi đi chơi Carlsbad. “Trông nom Niusia nhé,” Dolek nhắc đi nhắc lại, cốt để Regina nhớ rằng họ còn một đứa con nữa, trong toa xe ngay trên đầu bà. Cuối cùng tiếng còi ân huệ vang lên từ trại nam. Giờ bốn bố con phải rời hàng rào. Manci và Regina thẫn thờ leo lên tàu và cửa toa đóng lại. Họ lặng thinh. Chẳng còn gì làm họ ngạc nhiên được nữa. Tàu lăn bánh vào buổi chiều. Chị em lại đoán già đoán non như thường lệ. Mila tin rằng nếu đích đến không phải là trại của Schindler, phân nửa số hành khách bị lên trên tàu khó lòng sống được một tuần nữa. Cô tự biết mình cũng chỉ còn tính bằng ngày. Cô bé Lusia bị tinh hồng nhiệt. Bà Dresner, được Danka săn sóc song vẫn lả dần vì kiết lỵ, cũng đang chết mòn. Nhưng ở toa của Niusia Horowitz, họ thấy núi non và rặng thông qua kẽ vách. Hồi trẻ, một số đã đến chơi vùng này, và nhìn thấy những ngọn đồi khó quên ấy, dù từ những toa tàu hôi thối, cũng khơi dậy trong họ một cảm xúc đầy phi lý về kỳ nghỉ. Họ lay những người bần thần ngồi trong vũng xú uế. “Sắp đến rồi,” họ hứa. Nhưng đến đâu? Một lần mừng hụt nữa sẽ kết liễu tất cả. Buổi sáng lạnh giá ngày thứ hai, họ được lệnh xuống tàu. Tiếng đầu máy xì xì vẳng lại từ đâu đó trong sương. Băng đóng thành những hàm râu lem luốc quanh

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 103

Đang tải bình luận...