phần mười là xác chết cong queo. Trong hồ sơ về sau, chính Oskar cũng ám chỉ rằng ông mua lô đất vì những thi hài từ Goleszów. Có người kể rằng, khi cha xứ đề cập đến mảnh đất ở ngoài tường nhà thờ, vốn dành cho những ca tự sát, và gợi ý chôn những người từ Goleszów tại đây, Oskar trả lời rằng họ không tự sát. Họ là nạn nhân của một cuộc thảm sát. Dù sao đi nữa, cái chết của những tù nhân Goleszów và bà Hofstatter hẳn phải xảy ra gần nhau và đều được an táng với đầy đủ nghi lễ trong nghĩa trang Do Thái độc nhất vô nhị tại DeutschBielau. Qua cách đề cập của tù nhân Brinnlitz, có thể thấy rõ rằng nghi lễ này đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần trại viên. Những thi thể méo mó dỡ từ trên toa tàu xuống nhìn không còn ra hình người. Nhìn họ, người ta thấy khiếp sợ cho cái nhân tính chông chênh ở chính mình. Ăn uống, tắm rửa, ủ ấm thế nào cũng không xóa nổi sự phi nhân ấy. Cách duy nhất phục hồi được nhân tính cho họ - và cho chính mình - là bằng nghi lễ. Thánh lễ của Levartov, sự thăng hoa của bài kinh cầu Kaddish, do đó, với tù nhân Brinnlitz có sức nặng lớn lao hơn nhiều những nghi thức tương tự diễn ra trong cảnh thanh bình tương đối của Cracow thời tiền chiến. Để giữ nghĩa trang sạch sẽ phòng khi cần tới, Oskar thuê một Unterscharführer SS trung niên làm quản trang và trả lương đàng hoàng. * Emilie Schindler cũng có những giao dịch của riêng mình. Mang theo chiếc xắc tay đựng giấy tờ do Bejski giả mạo, chỉ huy
hai tù nhân chất đầy vodka và thuốc lá lên xe tải, và lệnh cho họ chở bà đến thị trấn mỏ Ostrava ở gần biên giới vùng Đức thuộc. Tại bệnh viện quân y, bà dàn xếp với các mối làm ăn của Oskar và mang về kem trị bỏng lạnh, sulfa, và các loại vitamin mà Biberstein ngỡ chẳng thể nào mua nổi. Những hành trình như vậy đã thành thông lệ với Emilie. Bà đã dần trở thành một lữ khách, như chồng mình. Sau những cái chết đầu tiên, không có ai chết nữa. Đoàn người từ Goleszów được xem là Mussulman, mà nguyên lý đầu tiên là tình trạng của Mussulman không thể đảo ngược. Nhưng ở Emilie có một sự ương bướng không chịu chấp nhận điều đó. Bà nhồi nhét cho họ từng xô cháo bột. “Trong số những người được giải cứu khỏi Goleszów,” bác sĩ Biberstein nói, “sẽ không một ai sống sót nếu thiếu sự chăm sóc của Emilie.” Họ bắt đầu nhúc nhắc đi lại trong xưởng, gắng tỏ ra hữu ích. Một hôm viên thủ kho Do Thái sai một người đem một thùng hàng xuống xưởng. “Cái thùng nặng ba mươi lăm cân,” cậu ta đáp, “còn tôi nặng ba mươi hai. Tôi khiêng thế quái nào được?” Nhà máy của những máy móc vô dụng, sàn rải bù nhìn rơm này là nơi Herr Amon Goeth tìm đến mùa đông ấy, sau khi ra tù, để viếng thăm nhà Schindler. Tòa án SS cho gã ra tù vì bệnh tiểu đường. Gã mặc một bộ đồ cũ, có lẽ là quân phục đã lột bỏ quân hàm. Có nhiều đồn đoán về ý nghĩa của cuộc viếng thăm này, kéo dài đến tận ngày nay. Một số nghi Goeth đến xin tiền, số khác đoán Oskar còn giữ hộ gã gì đó - tiền hoặc hiện vật từ một trong những cú áp phe cuối cùng của gã ở Cracow, với Oskar trong vai trò đầu mối. Một số làm việc sát văn phòng của Oskar khẳng định Amon thậm chí đã xin một chân quản lý tại Brinnlitz. Không ai có thể bảo gã thiếu kinh nghiệm. Thực ra, ba kịch bản về động cơ của Amon khi tìm đến Brinnlitz đều có cơ sở, dù khó có khả năng Oskar từng làm đầu mối cho gã. Khi Amon bước qua cổng trại, có thể thấy lao tù và khổ não đã
bào mòn gã. Khuôn mặt gã không còn nung núc thịt. Dung mạo gã gần giống Amon