Danh Sách Của Schindler

phần của Quân đội. Đổi lại, họ

phần của Quân đội. Đổi lại, họ

phần của Quân đội. Đổi lại, họ tiếp chuyện viên Trại trưởng, cũng gốc Do Thái, tới khuya, kể cho ông ta về Amon, Płaszów, Gröss-Rosen, Auschwitz và Brinnlitz. Bọn họ hy vọng ông ta sẽ giúp họ phương tiện đi Constanz, xe tải thì tốt. Ông ta không lo được xe tải, nhưng cho họ một chiếc xe buýt, cùng một ít nhu yếu phẩm cho hành trình ấy. Mặc dù Oskar vẫn mang theo số kim cương trị giá hơn 1.000 RM, và một ít tiền mặt, có vẻ họ không mất tiền mua chiếc xe mà được tặng. Sau nhiều áp phe với giới quan chức Đức, chắc hẳn Oskar khó mà quen ngay được với cách thức giao dịch này.

Đến phía Tây Constanz, trên biên giới Thụy Sĩ và trong vùng chiếm đóng của Pháp, họ dừng xe tại làng Kreuzlingen. Rechen vào hiệu đồ sắt trong làng mua một chiếc kìm cộng lực. Xem ra họ vẫn mặc áo tù khi mua kìm. Có lẽ người bán đã chịu tác động từ một trong hai suy đoán: (a) đây là tù nhân, nếu bị gây khó dễ y sẽ mách giới bảo hộ Pháp: (b) đây kỳ thực là một sĩ quan Đức cải trang để đào vong, và có lẽ nên được giúp đỡ. Hàng rào biên giới cắt ngang Kreuzlingen, và bên thuộc Đức được hiến binh Pháp thuộc quân đoàn Sûreté canh gác. Cả nhóm tiếp cận hàng rào ở rìa làng, dùng kìm cắt dây thép, rình khi lính gác đi đến cuối đường rồi chuồn sang lãnh thổ Thụy Sĩ. Không may, một người dân làng đi đường bắt gặp họ và đã báo động cho cả phía Pháp lẫn Thụy Sĩ. Trên quảng trường tĩnh lặng của ngôi làng Thụy Sĩ, một bản sao của ngôi làng Đức đối diện, cảnh sát Thụy Sĩ bao vây cả nhóm, nhưng Richard và Anka chạy thoát và cảnh sát phải điều xe tuần tra bắt họ lại. Trong vòng nửa tiếng họ bị trao trả cho giới chức Pháp, những người lục soát tư trang của họ, phát hiện thấy kim cương và tiền mặt; đưa họ tới một nhà tù cũ của Đức và nhốt riêng từng người vào xà lim. Reubinski thấy rõ họ bị nghi ngờ là lính gác ở trại tập trung. Trong tình huống ấy, việc họ lên cân khi làm khách của quân Mỹ trở thành phản chủ, vì nhìn họ không tiều tụy như khi mới rời Brinnlitz. Họ bị thẩm vấn riêng rẽ về chuyến đi, về tài sản họ mang theo. Từng người đều có thể khai báo một cách hợp lý, nhưng không biết lời khai của mình có ăn khớp với mọi người không. Có lẽ họ lo sợ, điều họ không cảm thấy khi gặp quân Mỹ, là nếu quân Pháp biết được danh tính và thân phận của Oskar ở Brinnlitz, chắc chắn ông sẽ bị quy tội. Quanh co để bảo vệ Oskar và Emilie, họ nằm khám một tuần. Hiểu biết về Do Thái giáo của vợ chồng Schindler lúc này thừa đủ để vượt qua các bài kiểm tra. Nhưng tác phong và thể trạng của

Schindler khiến khó ai tin được ông vừa là tù nhân của SS. Không may thay, lá thư tiếng Hebrew của ông đã bị để lại Linz, trong hồ sơ của quân Mỹ. Edek Reubinski, thủ lĩnh của cả bọn, bị thẩm vấn nhiều nhất, và vào ngày thứ bảy ở tù, khi được giải đến phòng hỏi cung, thấy có thêm một người nữa mặc thường phục, nói tiếng Ba Lan, được đưa đến để xác minh lời khai của Reubinski rằng anh đến từ Cracow. Không rõ tại sao - do người Ba Lan nọ đóng vai thương cảm trong cuộc thẩm vấn hay vì sự quen thuộc của ngôn ngữ - mà Reubinski sụp đổ, òa khóc và khai hết bằng tiếng Ba Lan lưu loát. Bảy người còn lại lần lượt bị triệu lên, cho gặp Reubinski, được biết anh ta đã thú nhận, và bị bắt khai lại bằng tiếng Ba Lan. Đến cuối buổi sáng, khi lời khai của họ đã khác nhau, cả nhóm, kể cả hai vợ chồng Schindler, được tập trung ở phòng thẩm vấn và được cả hai điều tra viên ôm hôn. Tay người Pháp, Reubinski kể, còn bật khóc. Ai nấy đều hân hoan trước tình cảnh ấy - một điều tra viên đẫm lệ. Khi đã lấy lại bình tĩnh, ông ta cho người mang bữa trưa lên cho mình, người đồng nghiệp, vợ chồng Schindler, và tám tù nhân. Đến chiều, ông ta cho chuyển họ tới một khách sạn bên hồ ở Constanz, nơi họ lưu lại vài ngày dưới sự đài thọ của chính quyền quân sự Pháp. Tối hôm đó, khi ông ngồi ăn tối tại khách sạn với Emilie, Reubinski, hai vợ chồng Rechen và mọi người, tài sản của Oskar đã rơi vào tay chính quyền Xô Viết, trong khi những viên kim cương và số tiền mặt ít ỏi cuối cùng đã thất lạc qua những kẽ hở của bộ máy chính quyền giải phóng. Ông không còn lấy một xu dính túi, nhưng vẫn ăn uống thịnh soạn hết mức có thể, tại một khách sạn đàng hoàng, với một số thành viên trong “đại gia đình” của mình. Tất cả những điều ấy sẽ thành nếp sống của ông trong tương lai.

VĨ THANH Thời hoàng kim của Oskar đã kết thúc. Thời bình sẽ không bao giờ giúp ông thăng hoa như thời chiến. Oskar và Emilie đến Munich. Họ ở chung với anh em Rosner một thời gian, vì Henry và em trai đã tìm được suất chơi nhạc tại một nhà hàng ở Munich với thu nhập không đến nỗi nào. Một cựu tù, khi gặp ông ở căn hộ nhỏ bé, chật chội của nhà Rosner, ngỡ ngàng khi thấy chiếc áo khoác rách của ông. Tài sản của ông ở Cracow và Moravia, tất nhiên, đã bị quân Nga tịch thu, chỗ trang sức sót lại đã mang đổi hết lấy thức ăn và rượu. Khi nhà Feigenbaum đến Munich, họ gặp tình nhân mới nhất của ông, một cô gái Do Thái, một tù nhân sống sót không phải từ Brinnlitz mà từ một nơi khác khắc nghiệt hơn. Khách khứa, khi tới thăm Oskar ở nhà thuê, dù có bao dung với những điểm yếu người hùng của ông đến mấy, vẫn thấy hổ thẹn vì thương cảm cho Emilie. Ông vẫn là một người bạn vô cùng hào phóng và một cao thủ săn lùng hàng hiếm. Henry Rosner nhớ ông vẫn tìm được mối bán gà giữa một Munich không đào đâu ra gà. Ông gắn bó với những cựu tù Do Thái đã đến Đức định cư - nhà Rosner, nhà Pfefferberg, nhà Dresner, nhà Feigenbaum, nhà Sternberg. Một số đầu óc hay hoài nghi sau này sẽ nói thời kỳ ấy ai dính dáng đến trại tập trung nếu khôn ra đều gần gũi bạn bè Do Thái để tô hồng lớp vỏ bảo vệ bản thân. Nhưng sự tin cậy của ông đã vượt ra ngoài thứ khôn lanh bản năng ấy. Schindlerjuden đã trở thành gia đình của Oskar. Giống như họ, ông biết tin Amon Goeth đã bị quân Mỹ của tướng Patton bắt giữ từ tháng Hai, khi đang nằm ở viện điều dưỡng SS tại Bad Tolz. Y bị giam ở Dachau và khi chiến tranh kết thúc bị giao lại cho chính quyền Ba Lan. Trên thực tế, Amon là

một trong những người Đức đầu tiên bị xét xử ở Ba Lan. Một số cựu tù được mời tham dự phiên tòa với tư cách nhân chứng, và trong số các nhân chứng của bên bị mà Amon giữa cơn hoang tưởng định mời ra, có Helen Hirsch và Oskar Schindler. Oskar không đích thân đến Cracow dự phiên tòa. Những người có mặt thấy Goeth, gầy đi vì tiểu đường, bào chữa một cách nhỏ nhẹ nhưng không chút ăn năn. Tất cả các sắc lệnh hành quyết hoặc vận chuyển tù nhân, gã tuyên bố, đều do thượng cấp của gã ký, và do đó là tội của họ chứ không phải của gã. Các nhân chứng kể lại việc viên Commandant tự tay giết người, theo gã, đều cố tình bóp méo sự thật. Đúng là có một số bị xử tử vì tội phá hoại, nhưng thời chiến bao giờ chả có những phần tử phá hoại. Mietek Pemper, ngồi chờ ở dưới để lên làm chứng, ngồi cạnh một cựu tù Płaszów, người chằm chằm nhìn Amon trước vành móng ngựa và thì thào, “Tới giờ hắn vẫn làm tôi khiếp sợ.” Nhưng Pemper, với tư cách nhân chứng số một của bên công tố, đã liệt kê một cách chính xác tội ác của Amon. Tiếp theo anh là những người khác, trong đó có bác sĩ Biberstein và Helen Hirsch, chủ nhân của những ký ức xác thực và đau đớn. Amon bị kết án tử hình và bị treo cổ ở Cracow vào hôm 13 tháng Chín năm 1946, hai năm sau ngày gã bị SS bắt giữ ở Vienna với tội danh buôn bán chợ đen. Theo báo chí Cracow, gã lên đoạn đầu đài không chút ăn năn, và làm động tác chào Quốc xã trước khi chết. Ở Munich, Oskar đứng ra nhận diện Leipold, khi y bị quân Mỹ tạm giữ. Một cựu tù Brinnlitz đi cùng Oskar và kể lại, khi y phản đối, Oskar hỏi, “Mi muốn ta làm việc này, hay mi thích để năm mươi người Do Thái phẫn uất đang đợi dưới đường làm điều đó?” Liepold cũng sẽ bị treo cổ - không phải vì tội ác ở Brinnlitz mà vì những vụ sát nhân thời ở Budzyn. Lúc này có lẽ Oskar đã nhen nhóm ý tưởng mở nông trang ở Argentina, chăn nuôi hải ly, loài động vật gặm nhấm thủy sinh cỡ lớn ở Nam Mỹ, có bộ da đắt giá. Oskar tin rằng bản năng kinh

doanh nhạy bén từng mang ông đến Cracow năm 1939 giờ đây đang thôi thúc ông vượt Đại Tây Dương. Ông chẳng còn xu dính túi, nhưng Ủy ban Cứu trợ Do Thái, tổ chức Oskar đã cung cấp thông tin trong thời chiến, và biết rõ thành tích của ông, sẵn lòng giúp đỡ. Năm 1949 họ dành cho ông một khoản vay ex gratia (86) 15.000 đô la Mỹ và một lá thư giới thiệu (“Gửi những ai liên quan”), doM. W. Beckelman, Phó chủ tịch Hội đồng Điều hành tổ chức này ký. Thư viết: Ủy ban Cứu trợ Do Thái tại Mỹ đã điều tra kỹ hành động của ông Schindler vào thời chiến và giai đoạn Đức thuộc… Chúng tôi hết lòng kêu gọi mọi tổ chức và cá nhân được ông Schindler liên hệ hãy làm hết sức mình để giúp đỡ ông, nhằm ghi nhận những thành tích vượt bậc của ông… Dưới vỏ bọc điều hành một trại lao động, đầu tiên ở Ba Lan và sau đó ở Sudetenland, ông Schindler đã tuyển mộ và bảo vệ những lao động Do Thái mà số phận đã định sẽ phải chết ở Auschwitz hoặc các trại tập trung ô nhục khác… “Trại của Schindler tại Brinnlitz,” các nhân chứng từng nói với Ủy ban Cứu trợ Do Thái, “là trại duy nhất trên vùng lãnh thổ bị Đức Quốc xã chiếm đóng nơi người Do Thái chưa bao giờ bị giết, bị đánh đập, mà luôn được đối xử như con người.” Giờ đây, khi ông sắp bắt đầu cuộc đời mới, hãy chung tay giúp ông, như ông từng giúp đồng bào của chúng ta. Khi lên tàu sang Argentina, ông đem theo sáu gia đình Schindlerjuden, và trả tiền vé cho nhiều người trong số họ. Cùng với Emilie, ông định cư ở một trang trại tại tỉnh Buenos Aires và làm ăn ở đây gần mười năm. Những cựu tù không được thấy ông trong những năm tháng ấy, giờ cảm thấy khó lòng hình dung ra ông trong vai nông dân, do Oskar chưa bao giờ là người của nếp sống đều đặn. Một số nhận xét, và cũng có lý của nó, rằng sở dĩ mô hình kỳ dị của Emalia và Brinnlitz thành công là nhờ sự nhạy bén của những người như Stern và Bankier. Đến Argentina, Oskar không còn sự hậu thuẫn ấy, tất nhiên trừ đầu óc tỉnh táo và sự

tần tảo của Emilie. Thập niên Oskar nuôi hải ly, tuy nhiên, lại là giai đoạn người ta nhận ra rằng, chất lượng da hải ly nuôi không đạt tiêu chuẩn như hải ly đánh bẫy. Nhiều dự án hải ly khác cũng thất bại, và vào năm 1957, trang trại của nhà Schindler phá sản. Emilie và Oskar dọn đến một căn nhà do tổ chức B’nai B’rith bố trí ở San Vicente, ngoại ô phía Nam Buenos Aires, và Oskar đi làm nhân viên tiếp thị một thời gian. Tuy vậy, chưa đầy một năm, ông bỏ về Đức. Còn Emilie ở lại. Sống trong một căn hộ nhỏ ở Frankfurt, ông tìm nguồn vốn để mua một nhà máy xi măng, và theo đuổi khả năng đòi bồi thường lớn của Bộ Tài chính Tây Đức cho những tài sản bị mất ở Ba Lan và Czechoslovakia. Nỗ lực ấy chẳng đi đến đâu. Một số cựu tù cho rằng chính quyền không bồi thường cho Oskar là vì trong hàng ngũ viên chức bậc trung vẫn còn tàn dư của tư tưởng Hitler. Nhưng thất bại của Oskar có lẽ vì lý do kỹ thuật, bởi trong các công văn Bộ Tài chính gửi Oskar không phát hiện thấy có biểu hiện gian lận hành chính. Schindler khởi nghiệp sản xuất xi măng nhờ vốn của Ủy ban Cứu trợ Do Thái cùng “vốn vay” của một số cựu tù thành đạt tại Đức thời hậu chiến. Vòng đời của nó rất ngắn ngủi. Đến năm 1961, Oskar lại phá sản. Nhà máy của ông gặp thiệt hại vì liên tiếp nhiều mùa đông thời tiết khắc nghiệt khiến ngành xây dựng đóng cửa, nhưng một số cựu tù nghĩ rằng một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 126

Đang tải bình luận...