phần lớn thời gian. Những người sống quanh gã trong mùa xuân và đầu hè năm 1944 cảm nhận được sự an toàn ấy, dù họ chẳng biết gì về Cục W hay tướng Pohl hay Glücks. Với họ, lòng nhân từ ấy cũng bí hiểm không kém gì tính cuồng sát của Amon. Thế nhưng, như Oskar vừa đề cập với Henry Rosner, SS đang đốt xác tại Płaszów. Nhằm chuẩn bị cho đợt tấn công của quân Nga, SS bắt đầu xóa sổ các cơ sở ở miền Đông. Treblinka, Sobibor và Bełżec được sơ tán từ mùa thu năm ngoái. Lực lượng SS ở đây được lệnh đặt thuốc nổ phá hủy phòng hơi ngạt và lò thiêu xác, không để lại bất kỳ dấu vết nào, tiếp đó được điều động sang Ý chống quân du kích. Khu tổ hợp khổng lồ Auschwitz, nằm trong vùng an toàn ở Thượng Silesia, sẽ hoàn thành nhiệm vụ lớn lao tại miền Đông, và khi xong việc, lò thiêu sẽ được vùi xuống lòng đất. Bởi không có lò thiêu làm chứng cứ, người chết chẳng thể đưa ra nhân chứng, và chỉ như tiếng thì thầm trong gió, như hạt bụi vô danh trên tán bạch dương. Trường hợp Płaszów không đơn giản như vậy, vì xác chết rải khắp nơi. Trong cơn phấn khích mùa xuân 1943, thi thể - nhất là những người bị giết trong hai ngày cuối cùng của ghetto, được vứt bừa xuống những nấm mộ tập thể trong rừng. Giờ đây Cục D bắt Amon phải tìm lại tất cả. Các ước tính về số thi thể chênh lệch nhau rất xa. Tài liệu của Ba Lan, dựa trên kết quả của Ủy ban Điều tra về Tội ác Phát xít ở Ba Lan và các nguồn khác, khẳng định có 150.000 tù nhân, nhiều nguồn từ nơi khác đến, đã vào Płaszów và năm trại phụ của nó. Trong số này, họ cho rằng 80.000 người đã chết tại đây, chủ yếu trong các vụ hành quyết tập thể ở Chujowa Górka hoặc vì bệnh dịch. Những con số ấy khiến người sống sót, vẫn chưa quên công việc gớm ghiếc là đốt xác người chết, phải ngỡ ngàng. Họ khẳng định đã hỏa thiêu từ tám ngàn đến mười ngàn xác - một con số tự nó đã đầy khiếp đảm và không ai có ham muốn phóng đại.
Khoảng cách giữa hai số liệu thu hẹp lại khi tính đến thực tế rằng việc hành quyết người Ba Lan, Digan và Do Thái vẫn tiếp diễn trên Chujowa Górka và nhiều điểm khác quanh Płaszów suốt năm ấy, và SS bắt đầu đốt xác ngay sau khi thảm sát tại lô cốt Áo. Ngoài ra, nỗ lực thu gom tất cả xác chết trong rừng của Amon cũng không thành công. Các cuộc khai quật hậu chiến còn phát hiện thêm hàng nghìn thi thể và ngày nay, khi Cracow được đô thị hóa đến tận Płaszów, người ta vẫn tìm thấy hài cốt khi đào móng. Oskar nhìn thấy dãy giàn thiêu ở triền đất bên trên khu nhà xưởng khi viếng thăm Płaszów ngay trước sinh nhật ông. Tuần sau, khi ông trở lại, tình hình càng thêm nhộn nhịp. Xác chết được các tù nhân nam, mặt đeo mặt nạ, mồm ho sặc sụa, khai quật. Sau đó người ta dùng chăn, xe cút kít và nệm rơm khiêng xác chết ra bãi đốt và xếp lên khung gỗ. Các giàn thiêu hình thành như vậy, từng lớp một, cho đến khi cao ngang vai thì được tưới xăng và châm lửa. Pfefferberg kinh hoàng chứng kiến sự sống nhất thời được ngọn lửa thổi vào xác chết, khiến chúng ngồi dậy, hất tung thanh gỗ đang cháy đi, tứ chi vươn ra, mồm há hốc trong tiếng thét cuối cùng. Một tên lính SS từ trạm khử rận chạy giữa dãy giàn thiêu, huơ súng, và quát lác rầm rĩ. Tàn tro xác chết bám lên tóc và quần áo phơi ở vườn sau dãy villa của các sĩ quan cấp dưới. Oskar ngỡ ngàng khi chứng kiến các sĩ quan thản nhiên hít khói như thể tro bụi trong không khí là hệ quả từ một vụ nổ công nghiệp đàng hoàng và không tránh khỏi. Trong màn sương, Amon ruổi ngựa đi rong cùng Majola, vẻ bình thản. Còn Leo John đưa đứa con trai mười hai tuổi đi bắt nòng nọc ở bãi lầy ngoài rừng. Ngọn lửa và xú khí chẳng hề làm chúng sao nhãng cuộc sống thường nhật. Oskar, ngả người ra sau trên ghế lái chiếc BMW, cửa sổ kéo lên, mùi soa bưng kín miệng và mũi, nghĩ đến cảnh chúng đang thiêu nhà Spira cùng những người khác. Ông bị choáng khi SS hành quyết tất cả cảnh sát ghetto và gia đình vào Giáng sinh năm
ngoái, ngay sau khi Symche Spira vừa hoàn thành chỉ đạo việc dỡ bỏ ghetto. Chúng đưa tất cả lên đây, cùng vợ con, vào một chiều u ám và bắn họ khi mặt trời lạnh lẽo lịm tắt. Chúng bắn cả những kẻ trung thành nhất (Spira và Zellinger) lẫn những người ương ngạnh nhất. Spira cùng bà vợ rụt rè và hai đứa con chậm tiến mà Pfefferberg từng kiên nhẫn kèm cặp - tất cả trần truồng đứng giữa một bầy súng, run rẩy nép vào nhau, bộ đồng phục OD đậm chất Napoleon của Spira giờ chỉ còn là một mớ quần áo để tái chế, vứt lại ở cửa lô cốt. Và Spira vẫn tiếp tục trấn an tất cả rằng điều đó không thể xảy ra. Vụ hành quyết làm Oskar bị sốc bởi nó chứng tỏ không có sự cúc cung tận tụy nào là đủ cho một người Do Thái bảo toàn tính mạng. Và giờ đây chúng đang thiêu xác nhà Spira một cách vô danh và vô ơn như lúc chúng hành quyết họ. Kể cả nhà Gutter! Chuyện xảy ra sau một bữa tiệc tại nhà Amon năm ngoái. Oskar về sớm, nhưng sau đó nghe mọi người kể lại. John và Neuschel bắt đầu chọc ghẹo Bosch. Cả hai chê y nhát. Bosch vẫn huênh hoang ta là cựu chiến binh lăn lộn chiến hào. Nhưng chúng chưa thấy y hạ sát ai bao giờ. Cả hai nhai lại hàng tiếng đồng hồ - trò đùa đinh của buổi tiệc. Cuối cùng, Bosch ra lệnh dựng David Gutter cùng con trai từ trại nam, bà Gutter và con gái bên trại nữ dậy. Một lần nữa, đây là số phận của những đầy tớ trung thành. David Gutter là Chủ tịch cuối cùng của Judenrat, và đã hợp tác trong mọi chuyện - chưa bao giờ lên phố Pomorska lý luận về phạm vi các Aktion của SS hay quy mô những đoàn tàu đi Bełżec. Gutter ký mọi giấy tờ và xem mọi yêu cầu là hợp lý. Bên cạnh đó, ông ta còn là tay sai của Bosch cả ở trong lẫn ngoài Płaszów, thay mặt y lên Cracow với hàng xe tải đồ đạc mới bọc nệm hay từng túi đầy trang sức để bán ngoài chợ đen. Và Gutter làm vậy vì bản chất vô lại, nhưng chủ yếu vì tin rằng như vậy sẽ giúp vợ con mình được miễn xá. Đúng hai giờ buổi sáng buốt giá ấy, một cảnh sát Do Thái,
Zauder, bạn Pfefferberg và Stern, về sau bị Pilarzik bắn trong cơn cuồng sát khi say, nhưng đêm đó còn là gác cổng trại nữ, đã nghe thấy vụ việc - Bosch lùa cả nhà Gutter vào một hõm đất gần trại nữ. Lũ trẻ van xin, nhưng David và bà Gutter đón nhận số phận một cách bình thản, biết có kêu cầu cũng chẳng ích gì. Và giờ đây Oskar chứng kiến, tất cả những bằng chứng ấy - nhà Gutter, nhà Spira, những kẻ nổi loạn, giáo sĩ, trẻ con, các cô gái xinh đẹp dùng giấy tờ Aryan - tất cả đang quay lại ngọn đồi điên loạn ấy để chờ bị tiêu hủy, đề phòng việc quân Nga đến Płaszów và bới bèo ra bọ. Oranienburg có thư căn dặn Amon rằng, trong tương lai việc phi tang thi thể phải hết sức chu đáo, và sẽ cử chuyên gia từ một công ty kỹ thuật ở Hamburg đến điều nghiên vị trí xây lò thiêu. Trước mắt xác chết sẽ được chôn tạm, đánh dấu kỹ càng chờ ngày khai quật. Lần sau quay lại, khi thấy tầm cỡ của ngọn lửa trên Chujowa Górka, phản ứng đầu tiên của Oskar là ở yên trong xe, cỗ máy Đức tỉnh táo ấy, và lái thẳng về nhà. Trên thực tế, ông tiếp tục viếng thăm bạn bè ở xưởng, rồi tạt qua văn phòng Stern. Ông nghĩ với bằng ấy tro bụi vương trên cửa sổ, sẽ không có gì lạ nếu cư dân Płaszów tính đến khả năng tự sát. Ai ngờ chính ông mới là người suy sụp. Ông không buồn hỏi những câu quen thuộc, kiểu như “Thế nào, Herr Stern, nếu Chúa lấy mình làm nguyên mẫu để tạo ra con người, vậy thì chủng tộc nào giống Người nhất? Dân Ba Lan hay dân Czech?” Hôm nay, ông chẳng còn chút cười cợt nào nữa. Thay vào đó ông gầm gừ, “Mọi người nghĩ sao?” Stern đáp, Tù nhân vẫn là tù nhân. Họ làm việc, và hy vọng sẽ sống sót. “Tôi sẽ cứu mọi người ra,” Oskar bỗng gừ lên. Ông đấm tay xuống bàn. “Tôi sẽ cứu tất cả ra.” “Tất cả?” Stern hỏi. Ông không nhịn nổi. Đây đâu phải là thời của những cuộc cứu rỗi tập thể kiểu Kinh Thánh. “Ít ra là ông,” Oskar đáp. “Ông.”