Danh Sách Của Schindler

phần là công nhân nhà máy

phần là công nhân nhà máy

phần là công nhân nhà máy của Hoffman, cũng chẳng ưa gì việc cái ao làng công nghiệp tù đọng của mình bị ô nhiễm sắc tộc khi chiến tranh sắp đến hồi kết thúc. Dẫu sao, Oskar vẫn lái xe đến ngó qua địa điểm này. Ông không đi cửa trước, vì sợ sẽ đánh động người rắn hơn trong hai anh em nhà Hoffman, đang là Chủ tịch Công ty. Ông vào được khu nhà phụ mà không bị hỏi han gì. Đây là một nhà xưởng kiểu cũ, xây hai tầng quanh một khoảnh sân. Tầng trệt trần cao, chất đầy máy cũ và các thùng len. Tầng trên có lẽ định dành cho văn phòng và các máy móc hạng nhẹ. Sàn này không chịu nổi sức nặng của các máy ép cỡ lớn. Tầng dưới có thể làm xưởng mới của DEF, làm văn phòng, và căn hộ của Herr Direktor ở một góc. Tầng trên sẽ là nơi ở cho tù nhân. Địa điểm mới làm Oskar phấn chấn. Ông trở về Cracow, háo hức được bắt tay vào việc, được tiêu những món tiền cần thiết, và tính đặt lại vấn đề với Madritsch. Bởi Sussmuth có thể kiếm chỗ - thậm chí cả mặt bằng sẵn có ở Brinnlitz - cho Madritsch. Khi về nhà máy, ông thấy một máy bay ném bom của quân Đồng minh, bị tiêm kích của Luftwaffe bắn hạ, đã đâm xuống hai lán cuối dãy của nhà tù Emalia. Phần thân cháy đen nằm méo mó trong đống đổ nát của hai căn lán bị san bằng. Chỉ còn một nhóm nhỏ tù nhân ở lại kết thúc sản xuất và duy trì nhà máy. Họ đã chứng kiến nó bốc cháy và lao xuống. Trong đó có hai người, đều chết cháy. Người của Luftwaffe đưa xác đi bảo Adam Garde rằng đó là một chiếc Stirling, và hai phi công là người Úc. Một người vẫn giữ cuốn Kinh Thánh tiếng Anh cháy sém, có lẽ đã cầm nó trong tay khi lao xuống. Hai người khác nhảy dù xuống ngoại thành. Quân Đức tìm được một, đã chết vì thương tích, người vẫn

đeo dù. Người kia được du kích giải cứu và giấu đi. Nhiệm vụ của các phi công Úc này là thả đồ tiếp tế cho du kích ở rừng rậm phía Đông Cracow. Nếu Oskar chờ đợi một sự xác thực, thì đây là cái ông cần. Việc có người lặn lội từ những thị trấn vô danh tận hoang mạc Úc châu hẻo lánh đến đây để đẩy nhanh cái kết của Cracow. Ông liền gọi điện cho viên quản lý đầu máy ở văn phòng chủ tịch Ostbahn và mời ông ta ăn tối để bàn về nhu cầu thuê toa chở hàng của DEF. * Một tuần sau khi Oskar gặp Sussmuth, Ủy ban Quân giới Berlin ra chỉ thị cho Toàn quyền Moravia rằng nhà máy quân giới của Oskar Schindler sẽ chuyển đến xưởng phụ thuộc nhà máy dệt của Hoffman. Phủ Toàn quyền không thể làm gì hơn ngoài việc trì hoãn thủ tục giấy tờ, Sussmuth cho Oskar biết qua điện thoại. Nhưng riêng Hoffman và các đảng viên Quốc xã vùng Zwittau đã nhóm họp và thông qua nghị quyết phản đối việc Oskar xâm phạm Moravia. Kreisleiter (74) tại Zwittau gửi thư lên Berlin cáo buộc tù nhân Do Thái ở Ba Lan là hiểm họa đối với sức khỏe người dân Đức ở Moravia. Sốt phát ban nhiều khả năng sẽ xuất hiện ở đây lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại; trong khi cơ sở vũ khí bé nhỏ của Oskar, giá trị đối với công cuộc chiến tranh còn rất mơ hồ, sẽ thành mục tiêu ném bom của Đồng minh và liên lụy đến nhà máy quan trọng của Hoffman nằm kề bên. Số tội phạm Do Thái trong trại của Schindler cũng sẽ áp đảo số cư dân tử tế ít ỏi của Brinnlitz, và thành một khối ung nhọt trên sườn núi Zwittau trung thực. Sự phản đối này hoàn toàn vô ích, vì nó đi thẳng đến văn phòng của Erich Lange ở Berlin. Khiếu nại gửi đến Troppau thì bị Sussmuth chính trực im đi. Tuy vậy ở quê nhà Oskar vẫn xuất hiện trên tường dòng chữ “LŨ TỘI PHẠM DO THÁI CÚT ĐI”. Oskar tiếp tục tiêu tiền. Ông chi cho Ủy ban Di tản Cracow để

sớm có giấy phép di chuyển máy móc. Sở Kinh tế Cracow cần được động viên để giải tỏa các khoản thế chấp ngân hàng. Tiền mặt lúc này không được chuộng, nên ông trả bằng hàng hóa - từng cân chè, từng đôi giày da, từng tấm thảm, từng gói cà phê, từng hộp cá. Ông quần đảo suốt chiều trên những con phố nhỏ quanh Quảng trường Cracow và mặc cả với những cái giá trên trời để mua bất cứ thứ gì đám quan lại thèm muốn. Nếu không, ông dám chắc, chúng sẽ cho ông đợi đến khi tù nhân Do Thái cuối cùng của ông đã vào Auschwitz. Chính Sussmuth tiết lộ với ông, đám người ở Zwittau đã viết cho Tổng cục Quân giới tố cáo Oskar buôn bán chợ đen. Nếu họ đã viết cho tôi, Sussmuth, anh có thể cá rằng thư này cũng sẽ đến tay trùm cảnh sát Moravia Obersturmführer Otto Rasch. Anh nên ra mắt Rasch và cho ông ta thấy mình dễ mến ra sao. Oskar biết Rasch từ thời ông ta là trùm cảnh sát SS tại Katowice. Tình cờ Rasch lại là bạn với chủ tịch Công ty Ferrum AG ở Sosnowiec, đối tác bán sắt cho Oskar. Khi lao xuống Brno hòng đi trước những kẻ tố cáo mình một bước, Oskar đâu có trông đợi vào một mối liên hệ mong manh là bạn bè chung. Ông mang theo một viên kim cương tuyệt mỹ, và bằng cách nào đó đã giới thiệu nó với viên sĩ quan. Khi băng qua mặt bàn và dừng lại bên Rasch, nó đã thay Oskar vỗ yên mặt trận Brno. Sau này Oskar ước tính ông đã tiêu 100.000 RM - gần 40.000 dollar - để bôi trơn việc chuyển nhà máy về Brinnlitz. Hiếm có ai trong số những người sống sót hoài nghi con số này, tuy nhiên một số lắc đầu và nói, “Không, hơn! Phải hơn thế nhiều.” * Ông soạn một văn bản gọi là danh sách chuẩn bị và gửi lên Tòa nhà Quản trị. Trong đó có trên một nghìn cái tên - toàn bộ tù nhân tại nhà tù sân sau của Emalia, và cả những tên mới. Helen Hirsch là cái tên mới tinh trong danh sách, và Amon chẳng còn ở đó mà phản đối.

Và danh sách sẽ còn mở rộng nếu Madritsch đồng ý dọn đến Moravia cùng Oskar. Bởi vậy Oskar kiên trì tranh thủ Titsch, đồng minh của ông trong việc thuyết phục Julius Madritsch. Những ai gần gũi với Titsch ở nhà máy của Madritsch biết Oskar đang lên danh sách, và họ có thể có tên trong đó. Titsch không giấu giếm gì họ: Cố mà chui vào đó. Ở vương quốc giấy tờ của Płaszów, vài chục trang danh sách của Oskar là những trang duy nhất dẫn tới tương lai. Nhưng Madritsch vẫn chưa quyết có liên minh với Oskar không, có bổ sung ba ngàn lao động của ông vào danh sách không. Một lần nữa, tồn tại sự mơ hồ rất thích hợp với một huyền thoại xung quanh sự ra đời của bản danh sách. Việc bản danh sách có thật hay không thì không có gì mơ hồ cả - bản sao của nó ngày nay vẫn được lưu trữ ở Yad Vashem. Và không có gì mù mờ, như chúng ta sẽ thấy, xung quanh những cái tên được Oskar và Titsch nhớ ra vào phút chót và đính kèm vào cuối văn bản chính thức. Những cái tên trong danh sách đều xác định. Nhưng hoàn cảnh là mảnh đất màu mỡ cho huyền thoại. Vấn đề là người ta ghi nhớ bản danh sách mãnh liệt đến mức làm nó nhòa đi dưới chính sức nóng ấy. Nó là cái thiện tuyệt đích. Nó là sự sống. Còn xung quanh cái lề chật hẹp của nó là vực sâu thăm thẳm. Một số người có tên trong danh sách kể rằng có một bữa tiệc ở tư dinh của Goeth, một cuộc tái ngộ của các sĩ quan SS và doanh nhân để kỷ niệm quãng thời gian tốt đẹp ở đây. Một số cho rằng Goeth cũng có mặt; nhưng do SS không cho phép đóng tiền bảo lãnh, điều này là không thể. Số khác tin rằng bữa tiệc diễn ra ở căn hộ của Oskar bên trên nhà máy. Oskar đã gây những cuộc tiệc tùng tuyệt hảo tại đây suốt hơn hai năm qua. Một tù nhân Emalia nhớ lại phiên gác đêm năm 1944, khi Oskar từ trên lầu đi xuống lúc một giờ sáng để trốn tránh sự náo nhiệt, và mang theo hai chiếc bánh, hai trăm điếu thuốc và một chai rượu cho anh

bạn gác đêm. Buổi dạ tiệc tốt nghiệp của Płaszów, dù diễn ra ở đâu, cũng có một bác sĩ Blancke, Franz Bosch, và theo một số người, cả Oberführer Julian Scherner, đang tạm nghỉ công việc săn lùng du kích. Madritsch và Titsch cũng có mặt. Sau này Titsch tiết lộ chính ở buổi tiệc này Madritsch đã lần đầu tiên thông báo với Oskar rằng mình sẽ không chuyển tới Moravia. “Tôi đã làm tất cả những gì có thể cho người Do Thái,” Madritsch nói. Và ông không nói ngoa. Nhưng lần này ý ông đã quyết, dù Titsch đã cố thuyết phục ông mấy ngày qua. Madritsch là người chính trực. Sau này ông sẽ được tôn vinh một cách xứng đáng. Chỉ là ông không tin vào giải pháp Moravia. Nếu tin, mọi tín hiệu đều cho thấy ông sẽ theo đuổi nó. Người ta còn biết bữa tiệc diễn ra trong sự khẩn trương, bởi tối hôm ấy Schindler phải nộp bản danh sách. Đây là tình tiết được xác thực qua lời kể của tất cả những người sống sót. Họ chỉ có thể thuật lại và bồi thêm chi tiết nếu được nghe từ chính miệng Oskar, người có thói quen thêu hoa dệt gấm khi kể chuyện. Nhưng vào đầu thập niên 1960 chính Titsch đã khẳng định chuyện này cơ bản là xác thực. Có lẽ viên Commandant tạm quyền tại Płaszów, một Hauptsturmführer tên là Büscher, đã bảo Oskar, “Đùa thế đủ rồi, Oskar! Chúng ta phải hoàn tất giấy tờ và việc vận chuyển.” Cũng có thể Ostbahn đã đặt thời hạn dựa trên thời gian khả dụng của phương tiện vận tải. Do đó, cuối danh sách của Oskar, Titsch phải gõ bổ sung bên dưới chữ ký, tên các tù nhân của Madritsch. Họ thêm vào gần bảy mươi cái tên, dựa trên trí nhớ của cả hai. Trong số đó có tên nhà Feigenbaum - Cô con gái bị ung thư xương vô phương cứu chữa; có cậu con trai Lutek tay nghề sửa máy khâu còn bập bõm. Giờ đây, qua bàn tay vội vàng của Titsch, họ trở thành công nhân sản xuất đạn dược lành nghề. Trong căn hộ, giữa tiếng hát hò trò chuyện râm ran, cười nói ầm ĩ và màn sương khói thuốc, ở một

góc, Oskar và Titsch vật lộn với những cái tên, căng óc tìm cách đánh vần một cái họ Ba Lan. Cuối cùng, Oskar phải giữ tay Titsch lại. Nhiều quá rồi, ông bạn. Con số này đã đủ làm chúng chần chừ. Titsch vẫn vắt óc nhớ thêm, và sáng hôm sau sẽ thức dậy đầy ăn năn vì một cái tên đến với ông quá muộn. Nhưng ông cũng đã tới hạn, kiệt sức vì việc này. Điều ông vừa làm gần đến mức báng bổ với việc tái sinh con người chỉ bằng cách nghĩ đến họ. Ông không thấy miễn cưỡng khi làm vậy. Chính sự thật mà nó phản ánh về thế giới này - chính đó là điều khiến không khí nặng nề trong căn hộ của Schindler trở nên ngạt thở với Titsch. Tuy nhiên, bản danh sách lại bị lợi dụng bởi tay thư ký nhân sự, Marcel Goldberg. Büscher, viên Commandant mới, có mặt chỉ để giải thể trại giam, chẳng quan tâm đến chuyện ai có tên trong danh sách, miễn là số lượng có giới hạn nhất định. Do vậy, Goldberg có cơ hội thao túng ở vòng ngoài. Tù nhân đều biết, Goldberg là loại ăn tiền. Nhà Dresner biết. Juda Dresner - bác cô bé Genia áo đỏ, chồng bà Dresner từng bị từ chối không cho trốn trong tường, cha của Janek và cô thiếu nữ Danka - Juda Dresner biết rõ. “Ông ấy hối lộ Goldberg,” cả gia đình giải thích đơn giản như vậy về việc tại sao họ lọt vào danh sách của Schindler. Họ không bao giờ biết ông phải trả những gì. Bác thợ kim hoàn Wulkan hẳn cũng lo được suất cho mình, cho vợ và con trai bằng cách đó. Poldek Pfefferberg biết đến bản danh sách từ một hạ sĩ quan SS tên gọi Hans Schreiber. Schreiber, một thanh niên trạc hai lăm, cũng có ác danh ở Płaszów chẳng kém ai, nhưng Pfefferberg ít nhiều chiếm được cảm tình của gã theo một cách khá phổ biến ở khắp chế độ này trong quan hệ cá nhân giữa tù nhân và nhân viên SS. Mọi sự bắt đầu một hôm khi Pfefferberg, là trưởng nhóm ở lán, chịu trách nhiệm lau cửa sổ. Schreiber đi kiểm tra thấy vết ố và bắt đầu dọa nạt Poldek theo kiểu thường là khúc dạo đầu cho một vụ hành quyết. Pfefferberg nổi điên và bảo

Schreiber rằng cả ông lẫn tôi đều thừa biết cái cửa rất sạch rồi, và nếu ông muốn kiếm cớ bắn tôi thì làm mẹ nó đi cho xong. Cơn bột phát ấy, trái với lẽ thường, khiến Schreiber thấy thú vị, và sau này thỉnh thoảng lại vẫy Pfefferberg ra hỏi thăm sức khỏe hai vợ chồng, đôi khi còn gửi cho Mila quả táo. Mùa hè 1944, Poldek cầu xin gã cứu Mila khỏi chuyến tàu toàn phụ nữ từ Płaszów đến địa ngục Stutthof, ven biển Baltic. Mila đã xếp hàng lên tàu thì Schreiber vung vẩy tờ lệnh xuất hiện và gọi tên cô. Một lần khác, vào Chủ nhật, gã đến lán của Pfefferberg, say khướt và nức nở, trước mặt Poldek cùng mấy tù nhân khác, về “những điều khủng khiếp” gã gây ra ở Płaszów. Gã bảo sẽ chuộc tội bằng cách xung phong ra Mặt trận phía Đông. Rốt cuộc, gã làm thế thật. Lần này gã mách Poldek rằng Schindler có bản danh sách và Poldek cần làm tất cả những gì có thể để có tên trong đó. Poldek xuống Tòa nhà Quản trị để xin Goldberg đưa tên anh và Mila vào danh sách. Hơn một năm rưỡi qua, Schindler vẫn hay đến thăm Poldek ở ga ra của trại và luôn hứa sẽ cứu anh ra. Tuy nhiên Poldek đã trở thành một thợ hàn lành nghề tới mức đám quản lý, những người rất cần cho ra lò sản phẩm chất lượng cao để bảo toàn tính mạng bản thân, không đời nào chịu nhả anh. Giờ đây Goldberg nắm danh sách trong tay - y đã tự ghi tên mình vào đó - và anh bạn cũ của Oskar, từng thường xuyên là khách ở căn hộ trên phố Straszewskiego, hy vọng sẽ có tên trong danh sách vì chút tình cố cựu với Oskar. “Chú mày có kim cương không?” Goldberg hỏi Pfefferberg. “Ông đùa đấy à?” Poldek hỏi. “Cái danh sách này,” Goldberg, kẻ ngẫu nhiên vớ được quyền lực tối thượng, đáp, “nó chỉ nhận kim cương thôi.” Giờ đây khi Hauptsturmführer Goeth, người yêu nhạc thành Vienna, đã vào tù, hai anh em nhà Rosner, nghệ sĩ cung đình, có thể tự do vận động để có tên trong danh sách. Dolek Horowitz, trước đây từng thu xếp cho vợ con đến Emalia, cũng thuyết phục

được Goldberg đưa tên ông, vợ ông, con trai ông và con gái nhỏ của ông vào. Trước giờ Horowitz vẫn làm việc ở kho hàng chính của Płaszów và tranh thủ giấu được chút của nả. Giờ đây nó rơi vào túi Marcel Goldberg. Trong số những cái tên có anh em nhà Bejski, Uri và Moshe, danh nghĩa là thợ sửa máy và thợ vẽ. Uri am hiểu vũ khí còn Moshe có tài làm giả giấy tờ. Hoàn cảnh của bản danh sách mù mờ đến nỗi khó xác định được đây có phải nguyên nhân khiến họ được đưa vào hay không. Josef Bau, chàng rể trọng lễ nghi, về sau sẽ được đưa vào mà anh không hề biết. Goldberg chủ định bưng bít thông tin về bản danh sách. Xét tính cách của chàng trai, có thể phỏng đoán rằng nếu Bau chủ động đặt vấn đề với Goldberg thì anh sẽ đòi phải có cả mẹ và vợ đi cùng. Về sau khi anh phát hiện ra chỉ mình có tên đi Brinnlitz thì đã quá muộn. Về phần Stern, Herr Direktor đã ghi tên ông vào ngay từ đầu. Ông là đức Cha xưng tội duy nhất của Oskar từ trước đến nay, và ý kiến của Stern có ảnh hưởng rất lớn đến ông. Từ 1 tháng Mười, không tù nhân Do Thái nào được phép rời Płaszów để tới nhà máy cáp hay vì bất kỳ mục đích nào khác. Đồng thời, các trưởng nhóm ở trại tù Ba Lan bắt đầu bố trí canh gác để ngăn việc tù Do Thái đánh đổi bánh mì. Giá bánh mì lậu lên cao đến mức khó lòng biểu thị bằng złoty. Trước đây, một tấm áo khoác có thể đổi được một ổ, một chiếc áo lót sạch được 250 gam. Giờ đây - như với Goldberg, nó được tính bằng kim cương. Tuần đầu tháng Mười, Oskar và Bankier có việc đến Płaszów và, như thường lệ, rẽ vào thăm Stern ở Phòng Xây dựng. Từ văn phòng cũ của Amon đi xuống cuối hành lang mới đến chỗ Stern. Chưa bao giờ họ có thể trao đổi tại đây thoải mái như thế. Stern kể cho Schindler về tình hình lạm phát phi mã của bánh mì đen. Oskar quay sang Bankier. “Nhớ chuyển cho Weichert 50.000 złoty,” Oskar lầm bầm.

Bác sĩ Michael Weichert là chủ tịch của Cộng đồng Tương thân Do Thái trước đây, nay là Văn phòng Cứu trợ Do Thái. Ông và văn phòng được phép hoạt động chỉ để làm màu và phần khác do ông có quan hệ mật thiết với Hội Chữ thập đỏ Đức. Mặc dù nhiều người Do Thái Ba Lan đối xử với ông bằng một sự hoài nghi dễ hiểu, và mặc dù chính sự hoài nghi này đã đưa ông ra tòa, sau chiến tranh - rồi ông được trắng án - Weichert đích thực là người thích hợp để nhanh chóng kiếm được 50.000 zł bánh mì và đưa vào Płaszów. Cuộc đối thoại của Stern và Oskar tiếp tục. Đoạn 50.000 złoty chỉ là tiểu tiết trong câu chuyện giữa họ về thời loạn lạc và việc Amon đang hưởng thú ở tù tại Breslau ra sao. Đến cuối tuần, bánh mì chợ đen từ thành phố được tuồn vào trại trong xe chở vải, than hoặc sắt vụn. Trong vòng một ngày, bánh mì đã về lại giá cũ. Đó là trường hợp điển hình về sự thông đồng giữa Oskar và Stern, và sau này còn nhiều vụ khác. (72) Thủ lĩnh đảng Quốc xã ở cấp tỉnh/bang. (73) Trại trưởng Auschwitz. (74) Thủ lĩnh Đảng Quốc xã ở cấp địa phương (quận, huyện).

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 90

Đang tải bình luận...
phần là công nhân nhà máy - Danh Sách Của Schindler | DocTruyen.vip | DocTruyen.vip