Phần II: Đột kích
10.
Tiếng hét khởi phát từ phần lưng dưới của tôi, dâng lên khắp cơ thể rồi tắc lại trong cổ họng. Tôi là một người câm Avox, uất nghẹn vì đau đớn. Kể cả tôi có thả lỏng cơ cổ, để âm thanh xé toác không gian thì ai thèm chú ý chứ? Cả phòng đang náo loạn. Mọi người thi nhau thắc mắc, gặng hỏi đủ kiểu trong khi cố mổ xẻ lời nói của Peeta.
“Còn cậu... ở Quận 13... Sáng mai là chết!”
Tuy nhiên không ai hỏi về người đưa tin mà hình ảnh đổ máu của cậu đã bị làm nhiễu sóng.
Một giọng nói vang lên kêu gọi tất cả chú ý. “Trật tự!” Mọi ánh mắt đổ dồn vào Haymitch. “Có phải bí ẩn gì to tát đâu! Thằng bé đang cảnh báo chúng ta sắp bị tấn công. Ở đây. Tại Quận 13 này.”
“Cậu ta có có được thông tin đó bằng cách nào?”
“Sao chúng ta phải tin cậu ta?”
“Làm sao ông biết?”
Haymitch gầm lên thất vọng. “Trong lúc chúng ta đang nói đây thì chúng đang đánh thằng bé thừa sống thiếu chết. Các người còn cần thêm gì nữa? Katniss, nói giúp ta đi!”
Tôi phải lắc mình mới thốt lên lời được. “Haymitch nói đúng. Tôi không biết Peeta lấy tin đó từ đâu ra. Hay nó có chính xác không. Nhung cậu ấy tin là có. Còn họ...” Tôi không thể nói to điều Snow đang làm với cậu.
“Các ngươi không biết lão ta đâu,” Haymitch nói với Coin. “Chúng tôi thì có đấy. Bảo người của bà chuẩn bị đi.”
Thống đốc xem chừng không hốt hoảng, chỉ có phần hơi bối rối trước bước ngoặt này. Bà ta ngẫm ngợi từng lời, khẽ gõ ngón tay lên mép bảng điều khiển trước mặt. Khi lên tiếng, bà ta nhắm thẳng đến Haymitch với giọng đều đều. “Tất nhiên chúng tôi đã dự phòng cho tình huống này. Tuy nhiên hàng bao nhiêu thập kỷ qua đã củng cố giả thiết của chúng tôi rằng những cuộc tấn công trực tiếp vào Quận 13 sẽ phản tác dụng với đại cục của Capitol. Tên lửa hạt nhân sẽ phát tán phóng xạ vào khí quyển, gây ra những hậu quả khôn lường với môi trường. Ngay cả vụ đánh bom thông thường cũng có thể phá hoại nghiêm trọng khu phức hợp quân sự của chúng tôi, trong khi đây lại là thứ Capitol hy vọng chiếm lại. Và tất nhiên họ khiến ta phải phản công. Có thể thấy là dựa trên mối liên minh hiện tại của chúng ta với phiến quân, những chuyện đó sẽ được xem là các rủi ro có thể chấp nhận được.”
“Bà nghĩ vậy à?” Haymitch nói. Hơi quá thành thật, nhưng sự mỉa mai tinh tế cũng ít khi được dùng tới ở Quận 13 này.
“Phải. Dù gì cũng không kịp diễn tập an ninh Cấp Năm nữa rồi,” Coin nói, “Ra lệnh đóng cửa thôi.” Bà ta bắt đầu gõ bàn phím nhoay nhoáy để ban bố quyết định. Khoảnh khắc bà ta ngước đầu lên, mọi sự đã bắt đầu.
Đã có hai đợt diễn tập cấp thấp kể từ khi tôi đến Quận 13. Tôi không nhớ nhiều lắm về đợt đầu tiên. Lúc ấy tôi đang nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt ở bệnh viện, và tôi nghĩ chắc các bệnh nhân được miễn khoản đó vì việc di chuyển chúng tôi đến nơi luyện tập quá phức tạp mà lợi ích lại chẳng bõ bèn gì. Tôi đã mơ hồ nhận ra một giọng nói tự động hướng dẫn mọi người tập trung tại khu màu vàng. Trong suốt đợt hai, diễn tập Cấp Hai tương ứng với khủng hoảng nhẹ - ví dụ như phương án cách ly tạm thời trong khi các công dân được kiểm tra xem có lây nhiễm không hồi bùng phát dịch cúm – chúng tôi phải quay về nơi cư trú. Tôi đã nấp sau một cái ống trong phòng giặt, không đếm xỉa gì đến tiếng bíp bíp nhịp nhàng phát ra từ hệ thống truyền thanh, và ngắm một con nhện đan lưới. Chưa có trải nghiệm nào chuẩn bị tinh thần cho tôi đối phó với tiếng còi báo động không lời inh tai rợn người giờ đang rú khắp Quận 13. Sẽ chẳng ai coi thường thứ âm thanh dường như được sinh ra để đẩy toàn thể người dân vào cảnh nháo nhác này. Nhưng đây là Quận 13 và chuyện đó không xảy ra.
Boggs dẫn Finnick và tôi ra khỏi Bộ Tư lệnh, men theo hành lang đến ngưỡng cửa dẫn vào khoảng cầu thang rộng rãi. Những dòng người đang đổ về hợp thành một con sông chỉ trôi xuống dưới. Không ai la hét hay xô đẩy. Kể cả trẻ con cũng không kháng cự. Chúng tôi đi xuống, hết tầng này tới lần khác, không nói năng gì, bởi không lời nào có thể át được tiếng còi. Tôi tìm kiếm mẹ và Prim, nhưng không nhìn thấy bất kỳ ai ngoài những người vừa lập tức vây sít tôi. Tuy nhiên tối nay cả hai mẹ con đều làm trong bệnh viện, không lý nào mà họ lại bỏ lỡ buổi diễn tập.
Tai tôi lùng bùng còn mắt thì trĩu nặng. Chúng tôi đang đi sâu tít xuống phía dưới. Ưu điểm duy nhất là chúng tôi càng xuống sâu vào lòng đất thì tiếng còi càng đỡ nhức óc hơn. Như thể họ cố tình dùng sức xua chúng tôi khỏi mặt đất, tôi cho là vậy. Các nhóm người bắt đầu tỏa về những cánh cửa được đánh dấu nhưng Boggs vẫn dẫn tôi xuống dưới cho đến khi cuối cùng cầu thang cũng kết thúc ở rìa một hang động khổng lồ. Tôi dợm bước thẳng vào thì bị Boggs ngăn lại, bảo tôi phải vẩy cánh tay có in thời gian biểu trước máy quét để được ghi nhận. Rõ ràng thông tin sẽ truyền tới máy tính ở đâu đó để đảm bảo không ai đi lạc.
Nơi này xem ra khó có thể xác định là tự nhiên hay nhân tạo. Vài chỗ trên tường là đá, trong khi dầm thép và bê tông gia cố chắc chắn những chỗ khác. Giường ngủ được đẽo thẳng vào tường đá. Có bếp, buồng tắm, trạm sơ cứu. Chốn này vốn được thiết kế để lưu trú dài ngày.
Những tấm biển trắng đề chữ hoặc số được đặt cách quãng quanh hang. Khi Boggs đang bảo Finnick và tôi trình diện tại khu vực tương ứng với nơi ở được phân – trong trường hợp của tôi thì
E
đại diện cho Phòng E – thì Plutarch thong thả bước vào. “A, mọi người đây rồi,” ông nói. Sự kiện vừa nãy chẳng ảnh hưởng mấy tới tâm trạng Plutarch. Ông vẫn còn phấn khởi với thành công của Beetee trong chiến dịch Cướp Sóng. Thấy rừng mà không thấy cây. Không thấy Peeta bị trừng phạt ra sao hay Quận 13 sắp bị nổ tung thế nào. “Katniss, rõ ràng đây là khoảnh khắc tồi tệ với cô, sự sa sút của Peeta ấy, nhưng cô phải ý thức được rằng những người khác sẽ quan sát mình đấy.”
“Gì cơ?” tôi nói. Thật không thể tin nổi ông thực sự lại hạ cấp tình trạng trầm trọng của Peeta thành sự sa sút.
“Những người khác trong boong ke, họ sẽ nhìn phản ứng của cô mà làm theo. Nếu cô bình tĩnh và dũng cảm, họ cũng sẽ cố được như vậy. Nếu cô hoang mang sợ hãi thì cảm giác ấy sẽ lan ra như cháy rừng,” Plutarch giải thích. Tôi chỉ nhìn ông chằm chằm. “Đại khái là lửa sẽ bén đó,” ông nói tiếp, như thể tôi chậm hiểu lắm vậy.
“Sao không coi như là tôi đang diễn nhỉ, ông Plutarch?” tôi nói.
“Đúng! Quá chuẩn. Người ta luôn dũng cảm hơn nhiều khi có khán giả,” ông đáp. “Hãy nhìn sự dũng cảm mà Peeta vừa mới thể hiện kìa!”
Tôi phải kiềm chế hết mức để không tát ông ta.
“Tôi phải quay lại chỗ Coin trước khi có lệnh đóng cửa đây. Tốt lắm, cứ thế mà làm nhé!” ông nói rồi rảo bước đi.
Tôi lại bên chữ
E
to đùng treo trên tường. Chỗ của chúng tôi diện tích khoảng mười bốn mét vuông sàn đá, được phân chia bằng những đường kẻ màu. Hai chiếc giường được đẽo thẳng vào tường – như vậy một người trong chúng tôi sẽ phải ngủ dưới sàn – và một ngăn vuông trên mặt đất dùng để trữ đồ. Một mẩu giấy trắng bọc ni lông trong suốt đề
QUY TẮC BOONG KE
. Tôi chòng chọc nhìn những đốm đen trên mảnh giấy. Chúng bị che mờ mất một lúc bời những giọt máu thừa mà dường như tôi không thể chùi hết khỏi tầm mắt. Dần dần những con chữ mới trở nên rõ ràng. Phần đầu có tiêu đề “Khi đến”
1.
Đảm bảo không sót bất kỳ thành viên nào trong Phòng bạn.
Mẹ tôi và Prim chưa đến, nhưng tôi là một trong những người đầu tiên tới boong ke. Cả hai người chắc đang giúp chuyển bệnh nhân đến nơi ở mới.
2.
Tới Trạm Tiếp tế lấy cho mỗi thành viên trong Phòng một gói đồ. Sửa soạn Chỗ ở. Trả lại (các) túi.
Tôi quét mắt quanh hang động cho đến khi định vị được Trạm Tiếp tế, một căn phòng sâu tít phía trước có quầy. Mọi người đang đợi sau quầy, nhưng trông chưa nhộn nhịp lắm. Tôi bước về phía đó, nói chữ cái phòng mình rồi xin bà ba gói đồ. Một người đàn ông kiểm tra tờ giấy, lôi mấy gói đồ được đánh dấu riêng biệt từ trên giá xuống lẳng lên mặt quầy. Sau khi đeo một gói lên lưng, hai tay cầm hai gói kia, mặt tôi quay lại thấy một nhóm người đã nhanh chóng hình thành phía sau. “Xin lỗi,” tôi nói lúc tay xách nách mang lách qua bọn họ. Có phải chỉ là vấn đề thời điểm không? Hay Plutarch nói đúng. Tất cả những người này đang làm theo tôi chăng?
Về chỗ, tôi mở một gói đồ ra lấy một tấm nệm mỏng, chăn, hai bộ quần áo màu xám, bàn chải, lược và đèn pin. Khi kiểm tra xem hai gói kia chứa gì, tôi phát hiện ra sự khác biệt rõ rệt duy nhất là nó có cả quần áo màu xám lẫn trắng. Hai gói này là dành cho mẹ và Prim, phòng trường hợp họ phải đi khám chữa bệnh. Sau khi trải giường, cất quần áo, trả lại túi xong xuôi, tôi chẳng còn gì làm ngoài việc ngồi trơ ra nhìn quy tắc cuối cùng.
3.
Đợi chỉ dẫn tiếp theo.
Tôi ngồi khoanh chân trên sàn chờ đợi. Một dòng người đều đặn đổ vào phòng, nhận chỗ rồi lấy đồ. Chắc mấy chốc nơi đây đã chật kín. Tôi tự hỏi mẹ và Prim có qua đêm ở chỗ nào đó mà các bệnh nhân được đưa tới không. Nhưng, không, tôi không nghĩ vậy. Họ có trong danh sách ở đây mà. Tôi bắt đầu nóng ruột thì mẹ xuất hiện. Tôi nhìn sau lưng mẹ chỉ thấy cả biển người lạ. “Prim đâu ạ?” tôi hỏi.
“Con bé không ở đây à?” mẹ đáp. “Nó phải từ bệnh viện xuống thẳng đây rồi chứ. Nó đi trước mẹ mười phút mà. Nó đang ở đâu chứ? Nó đi đâu được nhỉ?”
Tôi nhắm nghiền mắt một thoáng để tìm dấu vết em như thể đang săn mồi. Thấy em nghe thấy tiếng còi liền hối hả chạy đi giúp các bệnh nhân, gật đầu khi người ta ra hiệu cho em xuống boong ke, và rồi ngập ngừng nơi bậc thang. Bị giằng xé trong giây lát. Nhưng vì sao chứ?
Tôi mở bừng mắt. “Con mèo! Nó quay lại tìm con mèo!”
“Ôi, không,” mẹ thảng thốt. Cả hai chúng tôi đều biết tôi nói đúng. Chúng tôi xô ngược dòng người đang ào đến như triều dâng, đang cố thoát ra khỏi boong ke. Lên đến trên, tôi thấy người ta chuẩn bị đóng cánh cửa kim loại nặng trịch vào. Dần lăn những bánh xe kim loại ở hai bên cửa vào trong. Không hiểu sao tôi biết rằng một khi cánh cửa đóng lại thì không cách nào thuyết phục mấy tay lính mở ra được. Có lẽ việc này thậm chí còn nằm ngoài tầm kiểm soát của họ. Khoảng cách giữa hai cánh cửa co lại còn chừng một mét rồi nửa mét; và đến lúc chỉ còn mở chừng vài phân thì tôi nhét tay vào giữa khe hở.
“Mở ra! Để tôi ra!” tôi hét.
Mấy tay lính thất kinh đảo chiều bánh xe một chút. Không đủ cho tôi qua nhưng cũng đủ để không nghiền nát ngón tay tôi. Tôi tận dụng cơ hội chen vai qua khe hở. “Prim!” tôi hét vọng lên các bậc thang. Mẹ tôi năn nỉ lính gác trong khi tôi cố lách qua. “Prim ơi!”
Rồi tôi nghe thấy. Tiếng chân văng vẳng trên bậc thang. “Bọn em tới đây!” tiếng em lanh lảnh.
“Giữ cửa đi!” Là Gale.
“Họ đang xuống đấy!” Tôi bảo mấy tay lính, và họ bèn nhích cửa ra tầm ba mươi phân. Nhưng tôi không dám di chuyển – sợ họ sẽ nhốt tất cả chúng tôi ở ngoài – cho đến khi Prim xuất hiện, má đỏ hồng vì hộc tốc chạy, vác theo Hũ Bơ. Tôi kéo em vào trong, Gale liền theo sau, ôm hành lý len vào boong ke. Cánh cửa đóng lại với tiếng cách inh tai cuối cùng.
“Em nghĩ gì mà lại làm thế?” Tôi giận dữ lắc Prim rồi lại ôm em, ép chặt Hũ Bơ giữa chúng tôi.
Lời phân bua của Prim lập tức bật ra. “Em không thể bỏ nó lại, chị Katniss à. Không thể lặp lại lần thứ hai. Chị phải nhìn thấy nó đi lại rú rít trong phòng cơ. Nó quay lại để bảo vệ chúng ta mà.”
“Được rồi. Được rồi.” Tôi hít vài hơi để trấn tĩnh, đoạn lùi lại, túm nhúm lông cổ của Hũ Bơ nhấc lên. “Lẽ ra tao phải dìm chết mày khi có dịp rồi.” Nó vểnh tai sang bên rồi giơ vuốt ra. Tôi xì xì không cho nó cơ hội, khiến nó hơi cáu, vì nó vốn coi tiếng xì xì là âm thanh biểu hiện sự khinh miệt của riêng nó. Để trả đũa, nó bật ra tiếng meo meo yếu ớt kiểu mèo con, khiến Prim bảo vệ nó ngay.
“Ôi Katniss, đừng trêu nó nữa mà,” em nói, lại ôm ấp nó trong vòng tay. “Nó đã hoảng lắm rồi.”
Tôi chỉ càng cảm thấy chua chát hơn trước ý nghĩ tôi đã làm tổn thương cảm xúc của con mèo nhỏ quái vật ấy. Nhưng Prim thực lòng lo cho nó. Vì thế tôi đành tưởng tượng ra bộ lông của Hũ Bơ được lót cho đôi găng tay, hình ảnh đã giúp tôi chịu đựng nó ngần ấy năm qua. “Được rồi, chị xin lỗi. Chỗ của chúng ta là ở dưới chữ
E
lớn trên tường nhé. Tốt hơn hết là cho nó về chỗ đi không lại lạc bây giờ.” Prim đang vội vàng đi, còn tôi thấy mình phải mặt đối mặt với Gale. Anh đang bê chiếc thùng đựng thiết bị y tế lấy từ căn bếp nhà chúng tôi ở Quận 12. Nơi đã in dấu cuộc nói chuyện, nụ hôn, cũng như điều xảy ra ngoài ý muốn cuối cùng, sao cũng được, của hai đứa. Chiếc túi săn của tôi vẫn còn lủng lẳng trên vai anh.
“Nếu Peeta nói đúng thì mấy thứ này cũng chẳng ăn thua,” anh nói.
Peeta. Máu tóe như mưa trên cửa sổ. Như bùn ẩm bám trên ủng.
“Cảm ơn... vì mọi thứ.” Tôi đỡ lấy đồ từ tay anh. “Mà khi nãy anh làm gì trên phòng em vậy?”
“Kiểm tra cho chắc thôi mà,” anh đáp. “Nếu em cần anh thì bọn anh ở số 47 nhé.”
Hầu hết mọi người đã thu về chỗ của mình khi cửa sập vào, vậy nên tôi quay lại nơi ở mới với ít nhất năm trăm người dõi theo. Tôi cố che giấu vẻ hoảng loạn bằng cách tỏ ra hết sức bình tĩnh khi len qua đám đông. Cứ như việc đó lừa được ai vậy. Làm gương như thế thì quá lố thật. Ồ mà ai thèm quan tâm cơ chứ? Đằng nào tất cả bọn họ đều cho rằng tôi bị leng keng. Một ông hình như vừa nãy bị xô ngã xuống sàn bắt gặp ánh mắt tôi, bèn xoa xoa khuỷu tay vẻ uất ức. Tôi suýt nữa cũng xùy xùy ông ta.
Prim đã đặt Hũ Bơ yên vị nơi giường dưới, quấn nó trong chăn chỉ để thò mỗi mặt ra ngoài. Đúng kiểu nó thích mỗi khi có sấm sét, thứ duy nhất khiến nó sợ xanh mật. Mẹ tôi cẩn thận đặt chiếc thùng trong ngăn vuông. Tôi lom khom, lưng tựa vào tường, kiểm tra túi săn xem Gale đã cất công lấy lại cho tôi những gì. Cuốn sách thảo mộc, áo săn, ảnh cưới của cha mẹ tôi và đồ cá nhân trong ngăn kéo của tôi. Chiếc ghim chim húng nhại giờ đi kèm với bộ trang phục của Cinna, nhưng vẫn còn đó tấm mề đay vàng, chiếc dù bạc kèm vòi máng cùng hạt trai của Peeta. Tôi luồn hạt trai vào một góc dù, vùi sau vào đáy túi như thể nó là cuộc sống của Peeta mà không ai có thể lấy đi chừng nào tôi còn bảo vệ nó.
Tiếng còi văng vẳng bỗng tắt ngúm. Giọng Coin vang lên qua hệ thống truyền thanh của quận, cảm ơn chúng tôi đã gương mẫu sơ tán khỏi các tầng trên. Bà ta nhấn mạnh rằng đây không phải diễn tập, vì rất có thể trong buổi lên sóng trực tiếp Peeta Mellark, người chiến thắng Quận 12 đã đề cập đến một cuộc tấn công vào Quận 13 tối nay.
Đúng lúc đó quả bom đầu tiên đáp xuống. Đầu tiên là nhận thức về sự va chạm, sau đó là tiếng nổ làm chấn động mọi bộ phận sâu xa nhất trong cơ thể tôi, từ màng ruột, tủy xương cho đến chân răng.
Chúng ta sắp đi đời rồi
, tôi nghĩ. Tôi ngước mắt lên, đoán chừng sẽ nhìn thấy những khe nứt toang hoác chạy ngoằn ngoèo trên trần, những khối đá trút như mưa xuống đầu chúng tôi, nhưng boong ke lại chỉ rung động nhẹ. Điện tắt, bóng tối bao bọc tứ bề khiến tôi mất phương hướng. Những âm thanh nghẹn ngào của con người – những tiếng rít tức thời, tiếng thở đứt quãng, tiếng trẻ con thút thít, một tiếng cười điên loạn có giai điệu – quay cuồng xung quanh trong bầu không khí tích điện. Rồi có tiếng máy phát điện chạy ù ù, và chút ánh sáng lập lòe mờ ảo thay thế cho ánh đèn ảm đạm theo đúng chuẩn Quận 13. Trông giống cảnh tượng ở Quận 12 chúng tôi trước kia hơn, khi nến và lửa cháy le lói một tối mùa đông.
Tôi mò đến chỗ Prim giữa lúc tranh tối tranh sáng, nắm chặt chân em, lấy thân mình bao bọc cho em. Giọng em vẫn bình tĩnh trong khi vỗ về Hũ Bơ. “Không sao đâu cưng, không sao đâu. Ở dưới đây chúng mình sẽ ổn thôi mà.”
Mẹ tôi choàng tay quanh hai chị em. Tôi cho phép bản thân được cảm thấy non nớt trong thoáng lát và ngả đầu lên vai mẹ. “Chẳng giống trận đánh bom Quận 8 chút nào,” tôi nói.
“Có lẽ là tên lửa trên boong ke,” Prim nói, vẫn giữ giọng nhẹ nhàng cho con mèo yên tâm. “Bọn em đã được học cái này trong buổi định hướng dành cho các công dân mới. Chúng được thiết kế để đâm sâu vào lòng đất trước khi phát nổ. Vì đánh bom trên mặt đất Quận 13 thì chẳng ích gì nữa.”
“Hạt nhân à?” tôi hỏi, thấy bủn rủn khắp người.
“Không nhất thiết,” Prim đáp. “Loại gì mà chứa nhiều thuốc nổ bên trong ấy. Nhưng có khi... là loại đấy không chừng.”
Ánh sáng nhập nhoạng thành ra khó mà nhìn thấy cánh cửa kim loại nặng nề ở cuối boong ke. Nó có bảo vệ được chúng tôi chút nào khỏi cuộc tấn công hạt nhân không? Cho dù nó có thể ngăn chặn phóng xạ với hiệu quả lên tới một trăm phần trăm, mà điều này thực sự bất khả, liệu có khi nào chúng tôi ra được khỏi đây? Nghĩ đến việc phải dành phần đời còn lại dưới vòm đá hun hút này là tôi sợ chết khiếp. Tôi muốn chạy như điên về phía cửa, đòi được thả ra vào bất cứ điều gì đang xảy ra trên kia. Vô ích. Họ sẽ không đời nào làm vậy, và biết đâu tôi lại khơi lên một cuộc chạy loạn điên cuồng.
“Đã xuống sâu thế này rồi, mẹ chắc là mình được an toàn mà,” mẹ tôi rã rời nói. Có phải mẹ đang nghĩ đến chuyện cha tôi nổ mất xác trong mỏ than? “Dù sao thì cũng đã thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc. Tạ ơn trời đất là Peeta có phương tiện cần thiết để cảnh báo chúng ta.”
Phương tiện cần thiết. Một thuật ngữ chung chung bao gồm mọi thứ cậu cần để rung chuông báo động. Sự hiểu biết, cơ hội, lòng dũng cảm. Và thứ gì khác mà tôi không thể định nghĩa. Peeta dường như đã phải suy nghĩ rất lung, nỗ lực truyền tin ra ngoài. Tại sao chứ? Vận dụng ngôn từ trôi chảy như không vốn là tài năng nổi bật nhất của cậu kia mà. Có phải vì bị tra tấn mà cậu gặp khó không? Còn gì nữa? Loạn trí chăng?
Giọng Coin, giờ có vẻ nghiêm nghị hơn, vang khắp boong ke, độ to nhỏ chập chờn cùng ánh đèn. “Có vẻ Peeta Mellark đã đưa thông tin chính xác và chúng ta nợ cậu ấy một lời cảm ơn sâu sắc. Máy cảm biến cho biết tên lửa đầu tiên không phải hạt nhân, nhưng cực mạnh. Dự đoán sẽ có thêm vài vụ nữa. Trong thời gian vụ tấn công, các công nhân phải ở nguyên tại khu vực chỉ định nếu không được thông báo gì khác.”
Một người lính báo cho mẹ tôi đến trạm sơ cứu. Mẹ chần chừ không nỡ rời xa hai chị em tôi, dù chỉ cách chỗ này chừng ba mươi mét.
“Bọn con sẽ ổn thôi, thật mà mẹ,” tôi vỗ về. “Có ai qua được nó chứ?” Tôi chỉ Hũ Bơ đang rít lên vẻ chẳng coi tôi ra gì, thế là mấy mẹ con cũng cười được vài tiếng. Tôi thậm chí còn thấy thương nó. Mẹ đi rồi, tôi bảo em, “Sao em không bế nó vào giưởng hả Prim?”
“Em biết là ngớ ngẩn... nhưng em sợ giường bị sập xuống người trong vụ tấn công lắm,” em nói.
Nếu mấy cái giường sập xuống thì cả boong ke cũng sẽ sụp đổ chôn vùi chúng tôi, nhưng tôi quyết định lý lẽ này chẳng hữu ích gì. Thay vào đó, tôi dọn gọn ngăn chứa đồ làm cho Hũ Bơ một cái ổ bên trong. Rồi tôi kéo tấm nệm phía trước ra cho hai chị em nằm chung.
Chúng tôi được chia thành nhóm nhỏ để dùng nhà vệ sinh và đánh răng rửa mặt, nhưng phải nhịn tắm rửa. Tôi cuộn tròn trên nệm cùng Prim, đắp hai lớp chăn vì trong hang vừa lạnh vừa ẩm ướt. Con Hũ Bơ ủ ê dù vẫn được Prim liên tục vỗ về thì rúc trong ngăn vuông, phả hơi mèo vào mặt tôi.
Dù hoàn cảnh chẳng mấy dễ chịu, tôi vẫn rất vui vì có thời gian ở bên em gái. Mối bận tâm lớn nhất của tôi từ khi tới đây – không, thật ra là từ kỳ Đấu trường Sinh tử đầu tiên – là chưa quan tâm chu đáo đến em. Tôi đã không sát sao em như cách một người chị phải làm và đã từng làm. Rốt cuộc, chính Gale chứ không phải tôi mới là người kiểm tra phòng tôi. Đành coi như bù đắp cho em vậy.
Tôi nhận ra mình chưa bao giờ buồn hỏi em đương đầu thế nào với cú sốc khi chuyển tới đây. “Giờ Quận 13 thế nào hở Prim?” tôi mở lời.
“Ngay lúc này á?” em hỏi lại. Cả hai chúng tôi cùng cười. “Đôi khi em nhớ nhà da diết. Nhưng rồi nhớ ra ở đó chẳng còn gì mà nhớ nữa. Ở đây em cảm thấy an toàn. Em và mọi người không phải lo lắng về chị nữa. Ừm, không phải như trước kia.” Em ngập ngừng, nụ cười bẽn lẽn thoáng nở trên môi. “Em nghĩ họ sắp đào tạo em thành bác sĩ đấy.”
Lần đầu tiên tôi nghe thấy chuyện này. “Tất nhiên phải thế chứ. Có ngốc họ mới không làm vậy.”
“Họ đã quan sát em từ hồi em đỡ đần trong bệnh viện. Em đã đăng ký tham gia khóa học y rồi. Chỉ toàn thứ cơ bản cho người mới học thôi. Ở nhà em cũng biết nhiều rồi nhưng vẫn còn ối thứ phải học,” em kể.
“Tuyệt quá,” tôi nói. Bác sĩ Prim. Ở Quận 12 em còn chẳng dám mơ điều ấy. Một thứ gì đó nhỏ bé khẽ khàng, như một que diêm được đánh lên, xua tan nỗi ảm đạm trong lòng tôi. Đây chính là kiểu tương lai mà cuộc nổi dậy có thể đem lại.
“Thế còn chị, Katnisss? Chị xoay xở thế nào?” Đầu ngón tay em dịu dàng di những vạch ngắn giữa hai mắt Hũ Bơ. “Mà đừng nói là chị ổn đấy nhé.”
Thật vậy. Dù trái nghĩa với “ổn” là gì thì đó cũng chính là tình trạng của tôi lúc này. Thế nên tôi mạnh miệng kể em nghe về Peeta, vẻ tàn tạ của cậu trên màn hình, và rằng tôi nghĩ chắc lúc đó họ đã giết chết cậu rồi. Em kéo tôi lại gần hơn, vuốt tóc tôi ra sau tai. Tôi ngưng lại vì thực sự chẳng còn gì mà nói bởi trái tim tôi buốt nhói vô cùng. Có khi tôi còn đang lên cơn đau tim ấy chứ, nhưng việc này xem ra chẳng đáng nhắc đến.
“Katniss à, em không nghĩ Tổng thống Snow sẽ giết anh Peeta đâu,” em nói. Hẳn nhiên em sẽ nói thế rồi; em cho rằng nghe vậy tôi sẽ yên lòng. Nhưng những lời em nói sau đó thật đáng ngạc nhiên. “Nếu làm vậy ông ta sẽ chẳng còn ai mà đem ra giá với chị nữa. Ông ta sẽ chẳng còn cách nào làm tổn thương chị.”
Tôi bỗng nhớ về một cô gái khác, người đã chứng kiến mọi tai ương mà Capitol mang lại. Johanna Mason, vật tế Quận 7, ở trường đấu cuối cùng. Lúc đó tôi đã cố ngăn cô vào rừng nơi lũ húng nhây giả giọng những người yêu đang bị tra tấn, nhưng cô chỉ gạt tôi ra mà nói,
“Chúng không làm tôi tổn thương được đâu. Tôi không giống đám còn lại các người. Tôi chẳng còn ai để mà yêu thương.”
Tôi biết Prim nói đúng, rằng Snow không thể lãng phí mạng sống của Peeta, nhất là bây giờ, khi Húng nhại đã gây ra quá nhiều thiệt hại. Ông đã giết Cinna rồi. Phá hủy quê hương tôi rồi. Gia đình tôi, Gale và thậm chí cả Haymitch cũng đã tuột khỏi tầm tay ông ta. Peeta là tất cả những gì ông ta còn lại.
“Thế em nghĩ chúng sẽ làm gì cậu ấy?” tôi hỏi.
Prim nói nghe như bà cụ nghìn tuổi.
“Bất cứ cái gì để đánh gục chị.”
11.
Cái gì sẽ đánh gục tôi đây?
Đó là câu hỏi cứ quẩn quanh tâm trí tôi suốt ba ngày sau trong lúc đợi được phóng thích khỏi nơi giam giữ an toàn này. Cái gì sẽ đánh gục tôi hoàn toàn đến nỗi không thể phục hồi, chẳng còn hữu dụng? Tôi không đề cập chuyện này với ai, nhưng nó khiến tôi thao thức không yên và cứ len lỏi khắp những cơn ác mộng kinh hoàng.
Có thêm bốn tên lửa boong ke nữa phóng xuống trong thời gian này, tất cả đều là tên lửa hạng nặng có sức công phá dữ dội, nhưng chưa thấy lệnh khẩn cấp nào được ban bố. Những vụ đánh bom lan rộng suốt nhiều giờ liền để rồi ngay lúc ta tưởng cuộc không kích đã chấm dứt, thì một vụ nổ khác lại bùng lên khiến ruột gan ta nôn nao chao đảo. Có cảm giác cuộc tấn công nhằm ép chúng tôi duy trì lệnh đóng cửa hơn là hủy diệt Quận 13. Làm tê liệt quận này, đúng vậy. Để lại cho người dân bao việc cần làm nếu mong đưa nơi này trở lại hoạt động bình thường. Nhưng phá hủy nó ư? Không. Về điểm này thì Coin đúng. Người ta không phá hủy thứ mình muốn chiếm đoạt trong tương lai. Tôi cho rằng tạm thời thứ chúng thực sự muốn là ngặn chiến dịch Cướp Sóng và ngăn tôi xuất hiện trên truyền hình Panem.
Chúng tôi hầu như không nhận được tin tức gì về diễn biến sự việc. Màn hình chẳng bao giờ sáng lên và chúng tôi chỉ được Coin cập nhật vắn tắt qua loa truyền thanh về tính chất của trái bom. Hẳn chiến tranh vẫn đang tiếp diễn, nhưng tình hình ra sao thì chúng tôi không rõ.
Trong boong ke, nhất thiết phải có sự hợp tác. Chúng tôi tuân thủ lịch trình hết sức chặt chẽ về ăn uống, vệ sinh, luyện tập và ngủ nghỉ. Chút thời gian giao lưu cũng được thêm vào cho đỡ buồn tẻ. Chỗ chúng tôi thành ra rất được mến chuộng vì cả người lớn lẫn trẻ con đều mê tít Hũ Bơ. Nó nổi danh với trò chơi buổi tối mang tên Mèo Điên mà tôi đã tình cờ nghĩ ra vài năm trước trong một tối mùa đông mất điện. Ta chỉ cần lia ánh đèn pin quanh sàn là Hũ Bơ sẽ cố vồ bằng được. Tôi cũng đủ nhỏ mọn để khoái trò này vì tôi nghĩ nó làm Hũ Bơ trông thật ngớ ngẩn. Thế mà ở đây ai cũng thấy Hũ Bơ thông minh thú vị mới lạ chứ. Tôi thậm chí còn được cấp một bộ pin đặc biệt – cực kỳ lãng phí – để sử dụng cho mục đích này. Công dân Quận 13 đúng là đói giải trí.
Chính đêm thứ ba, giữa buổi tiêu khiển, tôi đã tìm ra lời đáp cho câu hỏi cứ gặm nhấm mình mấy ngày qua. Mèo Điên trở thành hình ảnh ẩn dụ cho hoàn cảnh của tôi. Tôi là Hũ Bơ. Peeta, thứ mà tôi muốn giành được đến phát điên, là ánh đèn. Chừng nào Hũ Bơ còn cảm thấy nó có cơ hội chụp gọn ánh đèn khó bắt dưới móng mình thì nó còn xù lông hung hăng. (Như tôi từ hồi rời khỏi trường đấu, với Peeta còn sống.) Khi ánh đèn tắt ngắm, Hũ Bơ tạm thời bối rối, bấn loạn, nhưng rồi nó cũng bình thường trở lại và chuyển sang chơi thứ khác. (Chuyện sẽ xảy ra nếu Peeta chết.) Nhưng thứ hạ đo ván Hũ Bơ chính là chiêu bật đèn nhưng lại lia quá tầm với của nó đến vô vọng, cao tít trên tường, dù nhảy lên cũng không vồ được. Nó đi đi lại lại dưới chân tường mà rên rỉ, bứt rứt, quẫn trí. Nó cứ vô dụng như thế đến khi tôi tắt đèn. (Điều mà hiện giờ Snow đang tìm cách làm với tôi, chỉ có điều tôi không biết ông ta chơi theo kiểu nào.)
Chắc Snow chỉ cần tôi nhận ra có thể. Nghĩ đến việc Peeta bị ông ta khống chế và tra tấn hòng moi tin nổi dậy đã tồi tệ lắm rồi. Nhưng nghĩ đến việc cậu bị tra tấn chủ yếu nhằm vô hiệu hóa tôi thì thật quá sức chịu đựng. Và chính bởi phát hiện đó đè nặng mà tôi thực sự suy sụp.
Sau trò Mèo Điên, chúng tôi được lệnh đi ngủ. Điện lúc có lúc không; đôi khi đèn sáng đủ độ, đôi khi chúng tôi phải nheo mắt nhìn nhau trong ánh lờ nhờ. Vào giờ đi ngủ, chúng tôi vặn đèn xuống nấc gần như tối om và mỗi chỗ đều bật đèn bảo an. Prim, sau khi đi đến kết luận rằng mấy bức tường sẽ trụ vững thì ôm chặt Hũ Bơ vào lòng mà ngủ nơi giường dưới. Mẹ tôi ngủ ở giường trên. Tôi tỏ ý muốn ngủ giường, nhưng mẹ và em bắt tôi ngủ dưới nệm sàn vì khi ngủ tôi cứ quẫy đạp liên hồi.
Giờ tôi không quẫy đạp nữa, bởi cơ bắp đã cứng đờ vì lúc nào cũng phải căng ra cố giữ tỉnh táo. Nỗi nhức nhối nơi trái tim quay trở lại, và tôi tưởng tượng ra những khe nứt tí xíu từ đó lan khắp cơ thể. Qua thân trên, xuống cánh tay, cẳng chân, lên khắp mặt, để lại những vết rạn ngang dọc. Chỉ cần một chấn động mạnh của tên lửa boong ke là tôi vỡ vụn thành những mảnh sắc kỳ dị, sắc như dao cạo.
Khi phần lớn những người trằn trọc thao thức đã yên giấc, tôi rón rén ra khỏi chăn, nhón chân xuyên qua hang đến chỗ Finnick, không rõ vì sao nhưng tôi có cảm giác là anh sẽ hiểu. Anh đang ngồi thắt dây dưới ánh đèn bảo an trong chỗ mình, thậm chí còn chả buồn giả vờ nghỉ ngơi. Khi thì thào kể anh nghe về việc phát hiện ra kế hoạch đánh gục tôi của Snow, tôi chợt ngộ ra một điều. Chiêu này đúng là cũ rỉ rì ri với Finnick. Đấy chính là thứ đã đánh gục anh.
“Chúng cũng lấy Annie ra mà làm thế với anh, phải không?” tôi hỏi.
“Ừm, chúng bắt cô ấy không phải vì cô ấy là mỏ thông tin về phiến quân,” anh đáp. “Chúng biết anh sẽ không bao giờ dám liều kể cho cô ấy nghe bất cứ thứ gì như thế. Vì chính sự an toàn của cô ấy.”
“Ôi Finnick, em xin lỗi,” tôi nói.
“Không, anh mới cần xin lỗi. Vì không hiểu sao anh lại không cảnh báo em,” anh bảo tôi.
Một ký ức đột ngột trồi lên. Tôi bị buộc vào giường, cuồng loạn vì thịnh nộ và đau khổ sau khi được giải cứu. Finnick đang cố xoa dịu tôi tôi về chuyện Peeta.
“Rồi chúng sẽ mau chóng nhận ra cậu ấy chẳng biết gì cả. Và chúng tôi cũng sẽ không giết cậu ấy nếu nghĩ có thể sử dụng cậu ấy để chống lại em.”
“Anh đã cảnh báo em rồi mà. Trên tàu bay ấy. Chỉ có điều khi anh nói chúng sẽ lợi dụng Peeta để chống lại em thì em cứ nghĩ anh muốn nói đến mồi nhử. Dụ em vào bẫy Capitol bằng cách nào đó,” tôi nói.
©STENT:
http://www.luv-ebook.com
“Lẽ ra anh không nên nói cả điều ấy. Lúc đó đã quá muộn, có nói vậy cũng chẳng giúp gì được em. Vì anh đã không cảnh báo em trước Huyết trường Tứ phân, đáng lẽ anh nên ngậm miệng về kế hoạch của Snow mới phải.” Finnick giật mạnh một đầu dây, và nút thắt tinh xảo bỗng chốc lại trở thành đường thẳng. “Chỉ là có điều này anh không hiểu khi gặp em. Sau kỳ Đấu trường đầu tiên em tham gia, anh tưởng toàn bộ trò yêu đương lãng mạn là màn kịch của em. Bọn anh tất cả đều mong em sẽ tiếp tục chiến lược đó. Nhưng đến khi Peeta va phải trường lực suýt chết thì anh...” Finnick ngập ngừng.
Tôi nhớ về trường đấu. Về chuyện tôi đã nức nở ra sao khi Finnick làm Peeta hồi sinh. Vẻ mặt bối rối của Finnick. Cách anh viện vào lối cư xử của tôi, đổ lỗi cho việc tôi giả vờ mang thai. “Thì anh sao?”
“Thì anh biết mình đã đánh giá sai em. Rằng em thực sự yêu cậu ấy. Anh không định nói là theo kiểu nào. Có lẽ em không hiểu chính mình đâu. Nhưng bất cứ ai để ý cũng thấy em quan tâm cậu ấy nhường nào,” anh nhẹ nhàng nói.
Bất cứ ai? Khi ghé qua nhà tôi trước chuyến Diễu hành Chiến thắng, Snow đã thách tôi xóa bỏ mọi nghi ngờ về tình yêu tôi dành cho Peeta. “
Thuyết phục
tôi đi,” Snow đã nói vậy. Có vẻ như dưới bầu trời hồng nóng rực ấy, với Peeta ở lưng chừng sự sống và cái chết, cuối cùng tôi đã làm được. Và khi làm vậy, tôi đã cho ông ta thứ vũ khí ông ta cần để đánh gục tôi.
Finnick và tôi ngồi im lặng hồi lâu, nhìn những cái nút hết thắt vào lại tung ra, rồi tôi hỏi, “Làm sao anh chịu nổi chuyện đó?”
Finnick nhìn tôi sửng sốt. “Anh không làm được, Katniss ạ! Hiển nhiên là anh không làm được. Mỗi sáng anh lôi mình ra khỏi ác mộng, thấy có thức cũng chẳng nhẹ nhõm gì.” Mặt tôi lộ vẻ gì đó khiến anh ngưng lại. “Tốt hơn là chịu thua đi. Hàn gắn bản thân còn lâu gấp mười lần so với để nó tan nát.”
Hẳn là anh biết. Tôi hít sâu, gồng lên giữ mình không tan vỡ.
“Em càng khiến bản thân sao nhành thì càng đỡ hơn,” anh nói. “Ngay sáng mai chúng ta sẽ kiếm cho em sợi thừng riêng. Từ giờ cho đến lúc đó cứ dùng cái của anh.”
Cả buổi tối còn lại tôi ngồi trên nệm thắt nút như kẻ bị ám ảnh, giơ lên cho Hũ Bơ xem xét. Nếu cái nào trông có vẻ đáng ngờ, nó vụt hú họa rồi nhay vài lần xem thứ đó đã chết thật hay chưa. Đến sáng, ngón tay tôi nhức nhối hết cả, nhưng tôi vẫn tiếp tục.
Sau hai tư giờ bình lặng, Coin cuối cùng cũng thông báo rằng chúng tôi được phép rời khỏi boong ke. Chỗ ở cũ của chúng tôi đã bị bom tàn phá. Ai nấy đều phải theo chỉ dẫn chính xác đến phòng mới. Theo lệnh, chúng tôi dọn dẹp chỗ ở mấy ngày qua rồi nghiêm chỉnh xếp hàng đi ra cửa.
Mới đi được nửa chừng, Boggs đã xuất hiện kéo tôi ra khỏi hàng. Ông ra dấu cho Gale và Finnick đi theo. Mọi người dạt sang bên nhường lối cho chúng tôi. Có người thậm chí còn mỉm cười với tôi vì xem ra trò Mèo Điên đã khiến tôi trở nên đáng yêu hơn. Ra khỏi cửa, lên cầu thang, men theo hành lang tới một trong những thang máy đa hướng, cuối cùng đến Ban Phòng thủ Đặc biệt. Suốt dọc đường đi không có gì bị phá hủy cả, nhưng chúng tôi vẫn xuống rất sâu.
Boggs dẫn chúng tôi vào một căn phòng gần giống y hệt Bộ Tư lệnh. Coin, Plutarch, Haymitch, Cressida và mọi người khác ngồi quanh bàn đều khoác vẻ rệu rã. Ai đó cuối cùng cũng lôi cà phê ra – dù tôi chắc nó chỉ được xem như chất kích thích khẩn cấp – và Plutarch thì khum chặt hai tay quanh tách cà phê như sợ nó bị cướp mất bất cứ lúc nào.
Không có màn chào hỏi xã giao nào. “Chúng tôi cần cả bốn người thay đồng phục lên mặt đất,” thống đốc nói. “Mọi người có hai giờ để quay những tổn thất do trận đánh bom để lại, xác minh rằng đơn vị quân sự của Quận 13 không những duy trì được chức năng mà còn chứng tỏ ưu thế vượt trội, và quan trọng nhất rằng Húng nhại vẫn còn sống. Còn câu hỏi nào nữa không?”
“Cho chúng tôi xin tách cà phê được không?” Finnick nói.
Những chiếc tách nghi ngút khói được trao tay. Tôi ghê tởm nhìn chằm chằm vào thứ chất lỏng màu đen lấp loáng, chưa bao giờ mê món này, nhưng có lẽ nó sẽ giúp tôi trụ vững. Finnick đổ ít kem vào tách tôi rồi với lấy bát đường. “Làm một viên không?” anh hỏi với giọng quyến rũ ngày xưa. Ngày ấy Finnick mời tôi ăn đường, thế là thành quen nhau. Được vây quanh bởi những cỗ xe ngựa, hóa trang và tô vẽ nhằm mua vui cho đám đông trước khi trở thành đồng minh. Trước khi tôi manh nha biết về động cơ của anh. Kỷ niệm đó quả thực đã dỗ tôi mỉm cười. “Đây, uống ngon hơn đấy,” anh nói bằng giọng thật, thảy ba viên vào tách của tôi.
Khi tôi quay bước chuẩn bị đi thay trang phục Húng nhại thì bắt gặp Gale đang nhìn tôi và Finnick vẻ không vui. Giờ sao đây? Anh nghĩ là giữa chúng tôi có chuyện thật à? Chắc anh thấy tôi đến chỗ Finnick đêm qua. Hẳn là tôi đã đi qua chỗ nhà Hawthorne. Có lẽ vì thế mà anh cáu. Tôi không tìm anh mà lại tìm Finnick bầu bạn. Ờ thì, được thôi. Ngón tay tôi đang đau rát, mắt hầu như không mở nổi, còn đội quay phim đang đợi tôi làm gì đó ra trò. Snow lại đang giữ Peeta. Gale muốn nghĩ gì thì tùy.
Trong Phòng Tái tạo mới của tôi ở Ban Phòng thủ Đặc biệt, đội chuẩn bị vội vàng tròng vào người tôi bộ đồ Húng nhại, chỉnh trang lại đầu tóc và thoa một lớp trang điểm thật nhẹ trước cả khi cà phê của tôi kịp nguội. Trong vòng mười phút, toàn bộ đoàn làm phim của ĐTT tiếp theo đã vòng vèo lê bước ra ngoài. Tôi vừa đi vừa xì xụp cà phê, phát hiện ra kem và đường đúng là làm dậy vị hơn hẳn. Khi tôi nốc đến lớp cặn đóng nơi đáy tách, một cảm giác rân rân nhè nhẹ bắt đầu lan khắp tĩnh mạch tôi.
Sau khi trèo lên nấc thang cuối cùng, Boggs gạt một cái cần làm cánh cửa lật mở ra. Không khí tươi mới ùa vào. Tôi hít từng ngụm lớn và lần đầu tiên cho phép mình cảm thấy ghét boong ke đến nhường nào. Chúng tôi lên mặt đất vào rừng, và tôi lướt tay qua đám lá trên đầu. Có lá đã bắt đầu chuyển màu. “Hôm nay là ngày mấy?” tôi hỏi vu vơ. Boggs bảo tôi một tuần tới là sang tháng Chín.
Tháng Chín. Tức là Peeta đã nằm trong tay Snow được năm, mà cũng có khi là sáu tuần rồi. Tôi ngắm kỹ một chiếc lá trong lòng bàn tay, thấy mình đang run rẩy. Tôi không thể bắt mình dừng lại được. Tôi đổ lỗi cho cà phê và cố tập chung thở chậm lại, với tốc độ hiện tại thì tôi thở quá nhanh rồi.
Những đống đổ nát bắt đầu xuất hiện rải rác trên thảm rừng. Chúng tôi đến chỗ hố bom đầu tiên, rộng chừng ba mươi mét còn sâu bao nhiêu thì tôi không dám chắc. Cực sâu. Boggs nói rằng bất kỳ ai ở mười tầng đầu tiên cũng sẽ mất mạng. Chúng tôi đi vòng qua cái hố tiếp tục hành trình.
“Chúng ta có thể xây lại không?” Gale hỏi.
“Trước mắt thì chưa. Chỗ đấy không quan trọng lắm. Vài máy phát điện và một trại gia cầm,”Boggs đáp. “Chúng ta chỉ niêm phong lại thôi.”
Cây cối biến mất khi chúng tôi tiến vào một khu vực bên trong hàng rào. Bao quanh các hố bom là những đống gạch vụn lẫn lộn cả cũ cả mới. Trước trận đánh bom, Quận 13 hiện thời chỉ có vài công trình trên mặt đất. Mấy trạm gác. Khu huấn luyện. Khoảng ba mươi phân tầng trên cùng của khu chúng tôi ở - nơi cái cửa sổ dành cho Hũ Bơ nhô ra – với vài mét thép phía trên. Kể cả nó cũng chỉ chịu được một cuộc tấn công bề mặt là cùng.
“Lời cảnh báo của cậu bé kịp được bao phần?” Haymitch hỏi.
“Khoảng mười phút trước khi hệ thống riêng của chúng tôi đáng lẽ phải phát hiện ra tên lửa,” Boggs nói.
“Nhưng nó cũng có ích chứ, phải không?” tôi hỏi. Tôi không chịu nổi nếu câu trả lời của ông là không.
“Hẳn rồi,” Boggs đáp. “Công dân được sơ tán đâu vào đấy cả. Khi bị tấn công thì thời gian tính bằng giây. Mười phút tức là cứu sống được rất nhiều mạng người.”
Prim
. Tôi nghĩ.
Và Gale
. Họ vừa vào boong ke được vài phút thì quả tên lửa đầu tiên giáng xuống. Peeta có lẽ đã cứu sống họ. Và tên họ lại được bổ sung vào danh sách những món nợ tôi không bao giờ trả hết cho cậu.
Cressida có ý tưởng ghi hình tôi trước đống đổ nát xưa là Tòa Tư pháp, quả là hài hước vì Capitol từng sử dụng nó làm phông nền cho những mẩu tin giả hàng bao năm trời, để chứng tỏ quận này không còn tồn tại. Giờ đây, với cuộc tấn công vừa xong, Tòa Tư pháp nằm cách miệng hố bom mới khoảng chục mét.
Khi chúng tôi tiến đến nơi từng là cổng lớn, Gale chỉ ra một thứ, cả đoàn liền đi chậm lại. Ban đầu tôi không nhận ra vấn đề nhưng rồi thấy dưới đất rải đầy hoa hồng nhung và hồng cánh sen tươi. “Đừng chạm vào chúng!” tôi hét lên. “Chúng là để cho tôi đấy!”
Thứ mùi ngọt đến lợm giọng xộc lên mũi tôi, và tim tôi bắt đầu đập thình thịch vào lồng ngực. Vậy là không phải tôi tưởng tượng. Bông hồng trên bàn phấn nhà tôi. Trước mắt tôi là món quà chuyển phát thứ hai của Snow. Những bông hoa đẹp thân dài tươi sắc đỏ và hồng, y hệt những bông hoa trang trí sân khấu nơi Peeta và tôi từng thực hiện cuộc phỏng vấn hậu chiến thắng. Hoa không phải dành cho một người, mà cho một cặp tình nhân.
Tôi cố giải thích nó rõ ràng hết mức. Soi kỹ thì thấy chúng có vẻ vô hại, dù là hoa được tăng cường gen. Hai tá hồng. Hơi héo. Nhiều khả năng đã được ném xuống sau trận bom cuối cùng. Một nhóm mặc trang phục đặc biệt thu nhặt chỗ hoa mang đi. Tuy vậy tôi cảm thấy chắc chắn họ sẽ không phát hiện ra điều gì khác lạ ở chúng. Snow biết rõ ông đang làm gì với tôi. Như đã lệnh nện Cinna nhừ tử trước mặt tôi khi đó đang đứng trong cái ống trụ đưa vật tế lên trường đấu. Nhằm làm tôi suy sụp.
Như hồi đó, tôi cố lấy lại tinh thần mà chống trả. Nhưng khi Cressida bảo Castor và Pollux vào chỗ thì tôi lại thấy bồn chồn. Tôi quá mỏi mệt, quá nôn nao, không thể nào tập chung vào bất cứ thứ gì ngoài Peeta từ lúc nhìn thấy đám hoa hồng. Cà phê đúng là một sai lầm nghiêm trọng. Tôi đâu cần chất kích thích chứ. Người tôi run bần bật và tôi dường như không thể lấy lại hơi được. Sau bao ngày trú trong boong ke, giờ đi theo hướng nào tôi cũng nheo mắt, và ánh sáng làm tôi nhức nhối. Giữa gió lạnh mà mồi hôi vẫn chảy ròng ròng trên mặt tôi.
“Vậy chính xác mọi người lại cần gì ở tôi?” tôi hỏi.
“Chỉ nói mấy câu ngăn ngắn cho thấy cô còn sống và vẫn chiến đấu,” Cressida đáp.
“Được rồi.” Tôi vào vị trí rồi nhìn chằm chằm vào ánh đèn đỏ. Chằm chằm. Chằm chằm. “Tôi xin lỗi, tôi chẳng biết nói gì cả.”
Cressida tiến lại chỗ tôi. “Cô ổn chứ?” Tôi gật đầu. Chị lấy trong túi ra một cái khăn nhỏ chấm chấm mồ hôi cho tôi. “Thế chúng ta làm màn Hỏi Đáp trước nhé?”
“Vâng. Chắc là được.” Tôi khoanh tay giấu vẻ run rẩy. Liếc sang Finnick thấy anh giơ ngón tay cái lên động viên. Nhưng chính anh cũng khá run.
Giờ Cressida đã trở lại vị trí. “Nào Katniss. Cô đã sống sót sau trận bom Capitol giáng xuống Quận 13. Cô có so sánh gì với chuyện cô từng trải qua trên mặt đất Quận 8?”
“Lần này chúng tôi xuống khá sâu dưới lòng đất nên không có nguy hiểm đáng kể nào. Quận 13 vẫn còn, bình an và tôi...” Đến đây giọng tôi khô khốc rin rít không nói tiếp được nữa.
“Thử nói lại câu đó nào,” Cressida bảo. “Quận 13 vẫn còn, bình an và tôi cũng vậy.”
Tôi hít một hơi, cố dồn không khí xuống cơ hoành. “Quận 13 vẫn còn và tôi...” Không, nhầm rồi.
Tôi thề rằng mình vẫn ngửi thấy mùi hoa hồng thoang thoảng.
“Katniss à, nốt câu này thôi là hôm nay cô xong việc. Tôi hứa đấy,” Cressida nói. “Quận 13 vẫn còn, bình an, và tôi cũng vậy.”
Tôi lắc tay để thả lỏng cơ thể. Đặt nắm tay lên hông. Rồi buông xuống bên mình. Nước bọt túa ra đầy miệng với tốc độ nhanh đến nực cười và tôi cảm thấy gây gây buồn nôn nơi cuống họng. Tôi nuốt mạnh, hé môi đẩy câu nói ngớ ngẩn đó ra ngoài cho xong để còn trốn vào rừng và... đúng lúc ấy thì tôi bật khóc.
Không thể nào làm Húng nhại. Không thể nào nói trọn vẹn dù chỉ một câu này. Vì giờ tôi biết mình có nói gì cũng khiến Peeta bị giận cá chém thớt. Khiến cậu bị tra tấn. Nhưng điểm đến cuối cùng không phải là cái chết, không, được thế đã tốt. Snow chắc chắn sẽ cho cậu sống không bằng chết.
“Cắt,” tôi nghe Cressida khẽ nói.
“Cô ấy sao vậy?” Plutarch thì thào hỏi.
“Cô ấy đã phát hiện ra Snow lợi dụng Peeta,” Finnick đáp.
Có gì đó nghe như tiếng thở dài cùng chung nỗi niềm thương tiếc phát ra từ nhóm người xếp theo hình bán nguyệt đang dãn ra trước mặt tôi. Vì giờ tôi đã biết điều đó. Vì sẽ chẳng còn cách nào để tôi không biết được nữa. Vì hơn cả cái thế bất lợi quân sự do việc mất Húng nhại gây ra, tôi đã suy sụp.
Vài đôi cánh tay sẵn sàng ôm tôi. Nhưng cuối cùng, người duy nhất mà tôi thực lòng muốn ai ủi mình lại là Haymitch, bởi ông cũng yêu quý Peeta. Tôi bước lên tìm ông, ông nói gì đó như tên ông và rồi ông ở đó, ôm tôi vào lòng, nhẹ nhàng vỗ lưng. “Không sao. Sẽ không sao đâu, cháu ngoan.” Ông đỡ tôi ngồi xuống dọc một cây cột cẩm thạch gãy đổ, vẫn vòng tay quanh người tôi trong khi tôi nức nở.
“Cháu không làm thế được đâu,” tôi nói.
“Ta biết,” ông đáp.
“Cháu chỉ nghĩ đến... những gì ông ta đang làm với Peeta... bởi vì cháu là Húng nhại!” tôi bật nói.
“Ta biết.” Cánh tay Haymitch lại siết chặt tôi hơn.
“Bác thấy rồi chứ? Cậu ấy hành xử kỳ quặc thế nào? Chúng... đang làm gì cậu ấy?” Tôi hớp hớp không khí giữa những hồi nức nở, nhưng vẫn cố nói được ra câu cuối cùng.
“Tại cháu!” Rồi tôi lên cơn kích động, rồi một mũi tiêm được cắm ngay vào tay tôi và tôi chìm vào vô thức.
Dù họ tiêm cho tôi thứ gì chăng nữa thì nó hẳn rất mạnh, vì tôi đã mê mệt trọn một ngày mới tỉnh. Dù vậy giấc ngủ của tôi cũng chẳng bình yên. Tôi có cảm giác như đang thoát ra khỏi hàng đống những nơi tăm tối ma ám mình phải đơn độc đi qua. Haymitch ngồi trên chiếc ghế bên giường tôi, da dẻ nhợt nhạt, mắt đỏ ngầu. Tôi nhớ đến Peeta và lại bắt đầu run rẩy.
Haymitch nhoài tới bóp vai tôi. “Ổn cả rồi. Chúng ta sẽ tìm cách cứu thoát Peeta.”
“Gì cơ?” Nghe mà chẳng hiểu gì.
“Plutarch sẽ cử đội giải cứu đi. Ông ta có tay trong. Ông ta tin rằng chúng ta có thể mang Peeta sống sót trở về,” ông nói.
“Sao lúc trước chúng ta không làm?” tôi hỏi.
“Việc đó hao tổn nhiều lắm. Nhưng giờ ai cũng nhất trí làm. Đó cũng chính là lựa chọn mà chúng ta đã đưa ra ở trường đấu. Làm bất cứ việc gì để hỗ trợ cháu. Giờ chúng ta không thể mất Húng nhại được. Còn cháu thì chẳng làm gì nổi trừ phi biết Snow không thể trút giận lên Peeta nữa.” Haymitch đưa cho tôi một cái tách. “Đây, uống chút gì đi.”
Tôi từ từ ngồi dậy hớp ngụm nước. “Bác nói hao tổn là có ý gì?”
Ông nhún vai. “Mọi vỏ bọc sẽ lộ hết. Mọi người có thể sẽ chết. Nhưng hãy nhớ rằng họ đang chết dần chết mòn mỗi ngày rồi. Mà không chỉ có Peeta; chúng ta sẽ cứu cả Annie cho Finnick nữa.”
“Anh ấy đâu rồi?” tôi hỏi.
“Sau tấm màn kia, khi nào rã thuốc an thần sẽ tỉnh lại thôi. Cậu ấy lên cơn hoảng loạn ngay sau khi chúng ta tiêm cho cháu bất tỉnh,” Haymitch đáp. Tôi thoáng mỉm cười, cảm thấy đỡ yếu mệt hơn. “Phải rồi, đúng là một mũi tiêm ra trò. Trong khi hai đứa li bì thì Boggs đã sắp xếp nhiệm vụ giải cứu Peeta rồi. Chúng ta đã chính thức tái đấu.”
“Ừm, nếu Boggs chỉ huy thì đúng là lợi thế,” tôi nói.
“Ồ, ông ấy kiểm soát hết. Lấy tinh thần tình nguyện, thế mà ông ấy lại giả vờ không thấy ta vẫy tay,” Haymitch nói. “Thấy chưa? Ông ấy đã tỏ ra biết cách nhìn nhận rồi đấy.”
Có gì đó không ổn. Haymitch đang khiên cưỡng cố làm tôi vui. Không giống phong cách của ông chút nào. “Thế còn ai xung phong nữa ạ?”
“Ta nghĩ tổng cộng là bảy người,” ông đánh trống lảng.
Vùng lõm thượng vị của tôi nhộn nhạo. “Còn ai nữa hả bác Haymitch?” tôi dồn ép.
Haymitch cuối cùng cũng gỡ bỏ lớp mặt nạ ông bác đôn hậu. “Cháu biết người đó là ai mà Katniss. Cháu biết ai là kẻ bước lên đầu tiên mà.”
Tất nhiên là tôi biết.
Gale.
12.
Hôm nay tôi có thể sẽ mất cả hai người bọn họ
.
Tôi cố tưởng tượng ra một thế giới nơi tiếng nói của Gale lẫn Peeta đều không bao giờ cất lên trở lại. Những bàn tay bất động. Những đôi mắt không chớp. Tôi đứng trước thi thể bọn họ, nhìn họ lần cuối rồi rời khỏi căn phòng họ nằm. Nhưng khi tôi mở cửa bước ra ngoài thế giới thì chỉ có một khoảng trống toang hoác. Tương lai tôi chỉ còn là cõi hư không xám nhạt.
“Cháu có muốn ta bảo họ cho cháu dùng thuốc an thần đến khi mọi chuyện kết thúc không?” Haymitch nói. Ông không đùa. Đây là người đàn ông đã vùi lấp cả cuộc đời trưởng thành của mình vào đáy chai rượu, cố gây tê bản thân trước tội ác của Capitol. Cậu bé mười sáu tuổi từng gánh chiến thắng trong Huyết trường Tứ phân lần hai chắc hẳn cũng có những người thương yêu – gia đình, bạn bè, có lẽ cả người yêu – mà mình phải quyết quay về gặp lại. Giờ họ đâu rồi? Thế nào mà đến khi phải gánh lấy Peeta và tôi thì chẳng còn hình bóng nào hiện diện trong đời ông nữa? Snow đã làm gì họ?
“Không,” tôi nói. “Cháu muốn đến Capitol. Cháu muốn tham gia vào nhiệm vụ giải cứu.”
“Họ đi rồi,” Haymitch nói.
“Họ đi bao lâu rồi? Cháu có thể đuổi theo mà. Cháu có thể...” Gì chứ? Tôi có thể làm gì đây?
Haymitch lắc đầu. “Không bao giờ có chuyện đó đâu. Cháu quá giá trị và cũng quá mong manh. Mọi người đã bàn tính đưa cháu đến quận khác để đánh lạc hướng Capitol trong lúc tiến hành giải cứu. Nhưng chẳng ai nghĩ là cháu làm được.”
“Đi mà bác Haymitch!” Giờ thì tôi giở giọng năn nỉ. “Cháu phải làm gì đó. Cháu không thể cứ ngồi đây đợi nghe tin họ chết. Phải có gì đó cháu làm được chứ!”
“Được rồi. Để ta nói chuyện với Plutarch đã. Cháu cứ ở nguyên đó.” Nhưng tôi không thể. Tiếng chân Haymitch còn văng vẳng ngoài hành lang mà tôi đã lồm cồm mò đến bên khe hở giữa tấm rèm ngăn, thấy Finnick đang duỗi người nằm sấp, tay xoắn chặt lớp vỏ gối. Dù thấy ngại – thậm chí là dã man nữa khi đánh thức anh khỏi cơn mê lặng câm âm u về với hiện thực tàn khốc, tôi vẫn cứ làm vì tôi không thể nào đối mặt với chuyện này một mình.
Khi tôi giải thích tình hình, cơn kích động ban đầu của anh đã lắng xuống đầy bí ẩn. “Em không thấy sao, Katniss, cái này sẽ quyết định mọi sự. Thế này hoặc thế kia. Đến cuối cùng, họ sẽ chết hoặc ở bên chúng ta. Còn... còn hơn cả ta hy vọng!”
Thật là cách nhìn nhận tình hình lạc quan. Tuy nhiên, quả cũng có chút nhẹ lòng khi tin rằng sự giày vò này sẽ chấm dứt.
Tấm rèm được kéo tung ra và Haymitch đứng đó. Ông có việc cho chúng tôi, nếu chúng tôi đảm đương được. Họ vẫn cần cảnh hậu đánh bom Quận 13. “Nếu mấy tiếng nữa mà ta làm xong thì Beetee có thể đem phát trước cuộc giải cứu, có lẽ sẽ lái được sự chú ý của Capitol sang hướng khác.”
“Phải rồi, đánh lạc hướng,” Finnick nói. “Một thứ mồi nhử.”
“Cái ta thực sự cần là một thứ cực kỳ cuốn hút để ngay cả Tổng thống Snow cũng không thể rời mắt. Có ý tưởng nào không?”
Tôi tập chung hẳn lên vì có thể làm gì đó hỗ trợ cho nhiệm vụ. Trong khi nhồm nhoàm ăn sáng và được chuẩn bị, tôi vắt óc nghĩ xem sẽ nói gì. Tổng thống Snow hẳn đang băn khoăn không biết cái sàn nhà lấm máu và đám hoa hồng của ông ta tác động đến tôi thế nào. Nếu ông ta muốn tôi suy sụp thì tôi phải tỏ ra mạnh mẽ. Nhưng tôi nghĩ mình sẽ chẳng mảy may thuyết phục ông ta bằng cách hét vài câu chống đối vào máy quay. Với lại làm thế cũng chẳng câu thêm được chút thời gian nào cho đội giải cứu. Những cơn bột phát thường ngắn ngủi. Chính những câu chuyện mới tốn thì giờ.
Tôi không biết liệu có ăn thua gì không, nhưng khi đội truyền hình tập trung đông đủ trên mặt đất, tôi đề nghị Cressida hãy bắt đầu bằng cách hỏi tôi về Peeta. Tôi ngồi lên cây cột cẩm thạch gãy đổ mà chính tại đây lúc trước tôi đã suy sụp, đợi ánh đèn đỏ và câu hỏi của Cressida.
“Cô gặp Peeta thế nào?” chị hỏi.
Và rồi tôi làm đúng cái việc mà Haymitch đã muốn tôi làm từ buổi phỏng vấn đầu tiên. Tôi giãi bày. “Tôi gặp Peeta năm mười một tuổi, lúc ấy tôi đã suýt chết.” Tôi nói về cái ngày khủng khiếp mà tôi dầm mưa cố bán vài bộ quần áo sơ sinh, mẹ Peeta đứng ở cửa tiệm bánh xua đuổi tôi thế nào, và Peeta chịu đòn để mang cho tôi mấy ổ bánh đã cứu sống gia đình tôi ra sao. “Chúng tôi thậm chí chưa từng nói chuyện. Lần đầu tiên tôi nói chuyện với Peeta là trên chuyến tàu tới Đấu trường.”
“Nhưng khi đó cậu ấy đã yêu cô rồi,” Cressida nói.
“Có lẽ vậy,” Tôi cho phép mình thoáng mỉm cười.
“Hai người chia cách như vậy thì cô xoay sở làm sao?” chị hỏi.
“Không tốt lắm. Tôi biết bất cứ lúc nào Snow cũng có thể giết cậu ấy. Nhất là từ khi cậu ấy cảnh báo Quận 13 về vụ đánh bom. Sống chung với điều đó thật kinh hoàng,” tôi nói. “Nhưng với những gì chúng đang bắt cậu ấy chịu đựng thì tôi không còn chút e dè nào nữa. Về việc làm bất cứ điều gì để hủy hoại Capitol. Tôi cuối cùng cũng đã tự do rồi,” Tôi ngước mắt lên trời ngắm một con chim ưng bay qua. “Tổng thống Snow đã có lần thú nhận với tôi rằng Capitol rất mong manh. Lúc đó tôi không hiểu ý ông ta. Thật khó nhìn thấu vấn đề vì tôi đã quá sợ hãi. Giờ thì không. Capitol mong manh vì nó phải phụ thuộc mọi thứ vào các quận. Thức ăn, năng lượng, thậm chí cả các Trị an viên cai trị chúng ta. Nếu chúng ta tuyên bố tự do thì Capitol sẽ sụp đổ. Tổng thống Snow. Nhờ ông mà hôm nay tôi chính thức tuyên bố mình tự do.”
Tôi đã làm đủ, nếu không muốn nói là ấn tượng. Ai cũng thích câu chuyện bánh mì. Nhưng chính thông điệp tôi gửi cho Tổng thống Snow đã khiến Plutarch nảy ra một ý. Ông ta vội vàng gọi Finnick và Haymitch lại và họ trao đổi vắn tắt nhưng khá gay gắt mà tôi thấy Haymitch chẳng vui vẻ gì. Xem ra Plutarch đã thắng thế - Finnick tái nhợt nhưng cuối cùng vẫn gật đầu.
Khi Finnick đến chỗ tôi trước máy quay, Haymitch bảo anh, “Cậu không nhất thiết phải làm việc này đâu.”
“Có, nhất thiết đấy. Nếu làm thế giúp được cô ấy,” Finnick vo sợi thừng trong tay. “Tôi sẵn sàng rồi.”
Tôi không biết mình nên trông đợi gì. Một câu chuyện tình yêu về Annie. Thuật lại sự ngược đãi ở Quận 4. Nhưng Finnick Odair đã chọn một chiến thuật hoàn toàn khác.
“Tổng thống Snow từng... bán tôi... đúng ra là thân xác tôi,” Finnick bắt đầu bằng giọng vô cảm, xa xăm. “Tôi không phải người duy nhất. Nếu một người chiến thắng xem là quyến rũ, Tổng thống sẽ mang họ ra làm phần thưởng hoặc cho phép người ta mua họ với số tiền khổng lồ. Nếu anh không chịu, ông ta sẽ giết người anh yêu thương. Thế nên anh phải nhắm mắt đưa chân.”
Thảo nào. Cả một đội tình nhân của Finnick ở Capitol. Họ chưa bao giờ là tình nhân thật sự. Chỉ là những kẻ giống Trưởng đội Trị an cũ của chúng tôi, Cray, lão già mua những cô gái trẻ tuyệt vọng để nghiến ngấu rồi vứt bỏ vì lão có thể làm thế. Tôi muốn ngắt quãng việc ghi hình mà cầu xin Finnick tha thứ cho mọi suy nghĩ sai lầm tôi từng dành cho anh. Nhưng chúng tôi có việc phải làm, và tôi cảm thấy vai trò của Finnick còn hiệu quả hơn vai trò của tôi nhiều.
“Tôi không phải kẻ duy nhất, nhưng là kẻ được yêu chuộng nhất,” anh nói. “Và có lẽ là kẻ yếu đuối nhất, vì những người tôi yêu thương đều quá yếu đuối. Để khiến bản thân cảm thấy dễ chịu hơn, các nhà tài trợ tặng tôi tiền hoặc trang sức làm quà, nhưng tôi phát hiện một cách trả công còn hậu hĩnh hơn nhiều.”
Những bí mật
, tôi nghĩ. Đó là cách các tình nhân trả cho Finnick như anh từng kể với tôi, chỉ có điều lúc đó tôi nghĩ rằng toàn bộ sự sắp xếp này là do anh lựa chọn.
“
Những bí mật,”
anh nói, dội lại suy nghĩ của tôi. “Và đây chính là lúc ông muốn nghe tiếp đấy. Tổng thống Snow ạ, vì quá nhiều trong số đó là về ông. Nhưng cứ khai vị với vài cái đã nhé.”
Finnick bắt đầu kể một mớ chuyện phong phú cực kỳ chi tiết mà ta không thể nghi ngờ tính xác thực của nó. Chuyện về sở thích tình dục quái gở, trái tim phản bội, lòng tham vô đáy và trò chơi quyền lực đẫm máu. Những bí mật nồng hơi men được thì thầm trên lớp vỏ gối ấm ướt lúc giữa đêm. Finnick là kẻ bị mua bán. Một nô lệ quận. Một kẻ đẹp trai, hẳn nhiên rồi, nhưng thực ra lại vô lại. Anh biết kể với ai đây? Mà nếu có thì ai sẽ tin anh? Nhưng một số bí mật quá hấp dẫn không thể không chia sẻ. Tôi không biết những người mà Finnick nhắc tên – hình như tất cả đều là những công dân Capitol nổi tiếng – nhưng nhờ nghe những mẩu chuyện phiếm của đội chuẩn bị tôi biết rằng một lời nhận xét cực kỳ vu vơ có thể lôi kéo sự chú ý lớn đến thế nào. Nếu một quả đầu cắt xấu điên có thể dẫn tới hàng giờ bàn tán to nhỏ thì chuyện loạn luân, đe dọa tống tiền, cố ý gây hỏa hoạn có thể gây ảnh hưởng đến đâu? Bất chấp nỗi bàng hoàng và những lời tố cáo lẫn nhau cuộn khắp Capitol như sóng trào thì người dân ở đó, như tôi bây giờ, cũng háo hức chờ nghe chuyện ngài tổng thống.
“Và giờ hãy nói về Tổng thống Coriolanus Snow đức hạnh của chúng ta,” Finnick nói. “Khi lên nắm quyền ông ta mới trẻ làm sao. Một nhà cầm quyền mới thông mình làm sao. Bằng cách nào, ta hãy tự hỏi mình, mà ông ta làm được thế? Một từ thôi. Đó là tất cả những gì ta thực sự cần biết.
Đầu độc
.” Finnick điểm lại con đường thăng tiến chính trị mà tôi chẳng hề hay biết của Snow, rồi tiếp tục nói đến hiện tại, chỉ ra những cái chết bí ẩn liên tiếp nhau của những người chống đối Snow hay, thậm chí tệ hơn, những đồng minh có nguy cơ trở thành mối đe dọa. Mọi người chết bất đắc kỳ tử ở một bữa tiệc hay chết dần chết mòn một cách khó hiểu trong quãng thời gian được tính bằng tháng. Nguyên nhân được quy cho các món tôm cua sò hến không đủ chất lượng, virut bí ẩn, hoặc sự suy yếu của động mạch chủ. Snow đã tự mình uống một tách nước độc để xóa tan nghi ngờ. Nhưng thuốc giải độc không phải lúc nào cũng hiệu quả. Người ta nói thế nên ông ta mới cài thứ hoa hồng nặng mùi đến vậy. Người ta nói đấy là để át đi mùi máu từ những vết lở miệng chẳng bao giờ lành. Người ta nói, người ta nói, người ta nói... Snow có một danh sách và chẳng ma nào biết ai sẽ là người kế tiếp.
Đầu độc. Vũ khí hoàn hảo cho một con rắn.
Vì hình ảnh Capitol và ngài tổng thống đức cao vọng trọng trong mắt tôi vốn dĩ đã chẳng ra gì, không thể nói là những cáo buộc của Finnick khiến tôi choáng váng. Có vẻ chúng gây sốc nhiều hơn đối với các phiến quân di dời khỏi Capitol như bộ sậu của tôi và Fulvia – thậm chí Plutarch thỉnh thoảng còn phản ứng đầy ngạc nhiên, có lẽ không hiểu sao mình lại bỏ qua một mẩu tin chi tiết như vậy. Khi Finnick nói xong, họ vẫn tiếp tục quay cho đến khi cuối cùng chính anh phải hô “Cắt”.
Bộ sậu vội vã vào trong để biên tập đoạn phim vừa quay, Plutarch thì dẫn Finnick đi tán gẫu, chắc để xem anh còn chuyện gì nữa không. Còn lại tôi với Haymitch giữa đống đổ nát, tôi tự hỏi liệu một ngày nào đó số phận của Finnick có vận vào mình không. Tại sao không chứ? Snow có thể đã đặt ra một cái giá cực kỳ đích đáng cho Cô gái Lửa.
“Đó là chuyện đã xảy ra với bác phải không?” tôi hỏi Haymitch.
“Không. Mẹ ta và em trai ta. Người con gái của ta. Hai tuần sau khi ta được trao vương miện chiến thắng thì họ đều chết hết. Vì cái trò mà ta đã làm với trường lực,” ông đáp. “Snow chẳng có ai mà sử dụng để chống lại ta cả.”
“Cháu thấy lạ là ông ta lại không giết bác,” tôi nói.
“Ồ không. Ta là một ví dụ. Kẻ được đưa ra làm gương với những Finnick, Johanna và Cashmere trẻ tuổi. Về những gì có thể xảy ra với một kẻ chiến thắng gây rối,” Haymitch nói. “Nhưng ông ta biết mình không còn sức ảnh hưởng với ta nữa.”
“Cho đến khi Peeta và cháu xuất hiện,” tôi khẽ nói. Tôi thậm chí chẳng nhận được một cái nhún vai đáp lại.
Công việc xong xuôi rồi, chẳng còn gì cho Finnick và tôi làm nữa ngoài chờ đợi. Chúng tôi cố gắng lấp đầy những phút dài đằng đẵng trong Ban Phòng thủ Đặc Biệt. Thắt nút. Đảo đồ ăn trưa quanh bát. Làm nổ tung các thứ trong trường bắn. Do sợ bị phát hiện nên không có liên lạc nào từ đội giải cứu. Vào 15:00, giờ đã định, chúng tôi đứng ngây đơ lặng phắc ở cuối căn phòng đầy những màn hình và máy tính, xem Beetee cùng đội của ông cố át sóng. Vẻ phân tâm bồn chồn thường gặp ở ông được thay thế bằng lòng quyết tâm mà tôi chưa bao giờ thấy. Phần lớn đoạn phỏng vấn của tôi không ăn thua, chỉ đủ cho thấy tôi còn sống và vẫn phản kháng. Chính những tình tiết dâm ô và bạo lực trong lời kể của Finnick về Capitol mới gọi là ăn tiền. Có phải Beetee đã lên tay? Hay là các đối trọng của ông ở Capitol quá mê mải không muốn rời mắt khỏi Finnick? Trong sáu mươi phút tiếp theo, đường truyền sóng Capitol xen kẽ giữa bản tin chiều thông thường với Finnick và những nỗ lực xóa đen bằng sạch. Nhưng đội ngũ kỹ thuật của phiến quân đã xoay xở phát đè lên cả những đoạn đen đó, và trong một cuộc lật đổ đích thực, giữ quyền kiểm soát hầu như toàn bộ cuộc tấn công nhằm vào Snow.
“Thôi bỏ đi!” Beetee nói, giơ hai tay lên, nhường lại chương trình phát sóng cho Capitol. Ông lấy khăn lau mặt. “Nếu giờ họ còn chưa ra khỏi đó thì họ sẽ chết hết.” Ông xoay người trên ghế xem Finnick và tôi phản ứng với lời ông nói thế nào. “Dù vậy đó là một kế hoạch hữu hiệu. Plutarch có chỉ ra cho các cháu không?”
Tất nhiên là không rồi. Beetee dẫn chúng tôi sang một căn phòng khác cho chúng tôi thấy đội của ông, với sự giúp đỡ của các phiến quân tay trong, sẽ nỗ lực – đã nỗ lực – giải thoát những người chiến thắng khỏi hầm ngục. Có vẻ các phần của kế hoạch sẽ là một vụ rò rỉ khí độc từ hệ thống thông hơi, một vụ mất điện, một quả bom nổ trong tòa nhà chính phủ cách nhà tù vài cây số, và vừa rồi là gián đoạn chương trình phát sóng. Beetee vui mừng vì chúng tôi thấy kế hoạch này khó theo, bởi kẻ thù của chúng tôi cũng sẽ như vậy.
“Như cái bẫy điện của bác ở trường đấu ạ?” tôi hỏi.
“Chính xác. Thấy nó hoạt động hiệu quả thế nào rồi chứ?” Beetee nói.
Ừm... không hẳn
, tôi nghĩ.
Finnick và tôi cố canh me trong Bộ Tư lệnh, nơi chắc chắn sẽ nhận được tin tức đầu tiên của cuộc giải cứu, nhưng chúng tôi bị ngăn lại vì người ta đang tiến hành công tác chiên tranh nghiêm túc. Chúng tôi không chịu rời khỏi Ban Phòng thủ Đặc biệt nên cuối cùng đành ngồi trong căn phòng chim ruồi chờ tin.
Thắt nút. Thắt nút. Không một lời nào. Thắt nút. Tích tắc. Đó là cái đồng hồ. Đừng nghĩ về Gale. Đừng nghĩ về Peeta. Thắt nút. Chúng tôi không muốn ăn tối. Những ngón tay ran rát rớm máu. Finnick cuối cùng cũng bỏ cuộc và khom mình đúng cái tư thế mà anh làm ở trường đấu khi bị lũ húng nhây tấn công. Tôi hoàn thiện một cái thòng lọng nho nhỏ. Lời bài hát “Cây treo cổ” vẳng đi vẳng lại trong đầu tôi. Gale và Peeta. Gale và Peeta.
“Anh có yêu Annie ngay từ đầu không, Finnick?” tôi hỏi.
“Không.” Mãi lâu sau anh mới nói thêm, “Cô ấy dần dần len lỏi vào trong tâm trí anh.”
Tôi soát lại lòng mình, nhưng vào khoảnh khắc này, kẻ duy nhất tôi cảm thấy đang dần dần len lỏi vào trong tâm trí mình là Snow.
Lúc Haymitch đẩy cửa bước vào, hẳn đã là nửa đêm, mà cũng có khi đã sang ngày mới. “Họ trở lại rồi. Chúng ta được yêu cầu vào viện.” Tôi dồn dập hỏi nhưng ông đã cắt ngang bằng câu “Ta chỉ biết có thể.”
Tôi muốn chạy, nhưng Finnick phản ứng rất kỳ lạ, như thể anh đã mất khả năng dịch chuyển, thế nên tôi phải cầm tay dắt anh đi như một đứa trẻ. Qua Ban Phòng thủ Đặc biệt, vào thang máy đi theo hướng này hướng kia rồi đến cánh bệnh viện. Nơi này đúng là hỗn loạn, với các bác sĩ hò hét ra lệnh và người bị thương nằm trên giường được đẩy qua hành lang.
Một chiếc băng ca sượt qua người chúng tôi, trên có một phụ nữ trẻ gầy trơ xương, đầu cạo trọc nằm bất tỉnh. Da thịt cô đầy vết bầm tím và những chỗ loét đang chảy nước. Johanna Mason. Kẻ thực sự biết bí mật nổi dậy. Ít nhất là bí mật về tôi. Và đây là cái giá cô phải trả.
Qua một ô cửa, tôi thoáng thấy Gale, cởi trần đến thắt lưng, mồ hôi ròng ròng trên mặt trong khi ông bác sĩ dùng cây kẹp dài thòng gắp cái gì đó dưới xương bả vai anh. Bị thương, nhưng còn sống. Tôi gọi tên anh, dợm bước về phía anh thì một cô y tá đẩy tôi ngăn không cho đến gần.
“Finnick!” Âm nhanh nghe tựa tiếng rít, lại vừa như tiếng hét vui mừng. Một phụ nữ trẻ duyên dáng dù có hơi nhếch nhác – tóc đen rối bù, mắt xanh đại dương – khoác độc mảnh ga giường chạy về phía chúng tôi. “Finnick!” Và bất thình lình, như thể trên đời này chỉ còn lại hai người, họ lao ào qua khoảng trống để đến với nhau. Họ đâm bổ vào nhau, ôm nhau, mất thăng bằng rồi va đánh rầm vào giường, cứ ở nguyên đó. Quấn thành một khối. Không thể tách rời.
Nỗi ghen tị nhói lên trong tôi. Không phải với Finnick hay Annie mà với sự chắc chắn của họ. Ai nhìn thấy họ cũng không thể nghi ngờ tình yêu họ dành cho nhau.
Boggs, trông có vẻ hơi xơ xác, nhưng không bị thương, tìm thấy Haymitch và tôi. “Chúng tôi cứu thoát được tất cả bọn họ. Trừ Enobaria. Nhưng vì cô ta là người Quận 2, chúng tôi không chắc cô ta bị giam giữ. Peeta nằm ở cuối hành lang ấy. Khí độc vừa mới hết tác dụng. Cháu nên ở đó khi cậu bé tỉnh lại.”
Peeta.
Còn sống và bình an – có lẽ không bình an nhưng còn sống và ở đây. Cách xa Snow. An toàn. Ở đây. Với tôi. Chỉ giây khắc nữa thôi là tôi có thể chạm vào cậu. Nhìn thấy nụ cười của cậu. Nghe thấy tiếng cười của cậu.
Haymitch toét miệng cười với tôi. “Kìa, đi đi,” ông nói.
Tôi lâng lâng ngây ngất. Tôi sẽ nói gì đây? Ồ mà ai quan tâm tôi nói gì chứ? Peeta sẽ vui phát điên dù tôi có làm gì đi nữa. Có thể cậu sẽ hôn tôi không chừng. Tôi tự hỏi liệu nó có giống như những nụ hôn cuối trên bãi biển nơi trường đấu, những nụ hôn mà đến giờ phút này tôi mới dám cho phép mình để tâm tới.
Peeta đã tỉnh lại, ngồi bên mép giường, có vẻ hoang mang khi một nhóm ba bác sĩ trấn an cậu, soi đèn pin vào mắt cậu, kiểm tra mạch cậu. Tôi cảm thấy thất vọng khi khuôn mặt mình không phải là khuôn mặt đầu tiên cậu nhìn thấy lúc tỉnh lại, nhưng giờ thì cậu thấy rồi. Nét mặt cậu lộ vẻ sững sờ cùng biểu cảm gì đó mãnh liệt hơn mà tôi không thể nhận ra. Khao khát? Tuyệt vọng? Chắc hẳn là cả hai, vì cậu đã gạt các bác sĩ sang bên, đứng bật dậy tiến đến chỗ tôi. Tôi chạy lại gặp cậu, dang tay chuẩn bị ôm cậu. Tay cậu cũng vươn về phía tôi, có lẽ để vuốt ve khuôn mặt tôi.
Môi tôi vừa mấp máy tên cậu thì những ngón tay cậu đã siết chặt quanh cổ tôi.
13.
Chiếp nẹp cổ lạnh ngắt cạ vào cổ tôi và khiến cơn run rẩy càng khó kiểm soát hơn. Ít ra tôi cũng không còn ở trong cái ống trụ đáng sợ đó nữa, giữa lúc máy móc kêu lách cách ù ù quanh tôi, lắng nghe giọng nói từ đâu vẳng tới bảo tôi nằm yên trong khi tôi cố thuyết phục bản thân rằng mình vẫn thở được. Kể cả bây giờ, khi đã được đảm bảo sẽ không có thương tổn vĩnh viễn nào, tôi vẫn thèm không khí đến cháy họng.
Mỗi lo ngại chủ yếu của đội y tế - liệu tủy sống, thanh quản, tĩnh quản, động mạch của tôi có bị thương tổn không – đã lắng dịu. Bầm tím, khản giọng, đau thanh quản, cơn ho thi thoảng kéo đến bất thường thì không đáng lo. Tất cả rồi sẽ ổn. Húng nhại sẽ không mất tiếng. Tôi muốn hỏi cái ông bác sĩ quyết định xem tôi có bị mất khả năng nhận thức không đâu rồi? Chỉ có điều ngay lúc này tôi chưa được phép nói. Tôi thậm chí không thể cảm ơn Boggs khi ông đến xem tôi thế nào. Để ngó qua tình hình tôi và bảo với tôi rằng khi họ dạy kỹ thuật kẹp cổ trong lúc huấn luyện, ông còn thấy những chiến binh bị thương nặng hơn nhiều.
Chính Boggs đã hạ gục Peeta bằng một cú đấm trước khi tôi bị bất cứ thương tổn vĩnh viễn nào. Tôi biết lẽ ra Haymitch cũng xông vào bảo vệ tôi nếu ông không ngỡ ngàng đến ngay đơ như thế. Thật hiếm có điều gì khiến cả Haymitch lẫn chính tôi bất ngờ không kịp trở tay. Nhưng chúng tôi đã quá mê mải với việc giải cứu Peeta, quá dằn vặt vì cậu nằm trong tay Capitol, đến nỗi niềm vui thấy cậu trở lại đã che mờ mắt chúng tôi. Nếu tôi đoàn tụ riêng với Peeta thì có lẽ cậu đã giết tôi rồi. Vì giờ cậu đã thành kẻ loạn trí.
Không, không phải loạn trí
, tôi nhắc mình.
Bị bắt hồn
. Đó là từ tôi đã nghe thấy Plutarch và Haymitch trao đổi với nhau lúc tôi lăn xe qua họ trong hành lang.
Bị bắt hồn
. Tôi không hiểu từ đó có nghĩa gì.
Prim, có mặt chỉ vài phút sau vụ tấn công và ở gần tôi hết mức kể từ lúc đó, đắp thêm tấm chăn lên người tôi. “Em nghĩ người ta sẽ sớm bỏ cái nẹp cổ ra thôi, Katniss à. Rồi chị sẽ không bị lạnh quá nữa.” Mẹ tôi đang hỗ trợ một ca phẫu thuật phức tạp, vẫn chưa được thông báo gì về việc Peeta hành hung. Prim cầm một bàn tay tôi đang co thành nắm đấm, xoa bóp nhẹ nhàng đến khi nó duỗi ra và máu bắt đầu lưu thông trở lại qua các ngón tay. Em dợm chuyển sang nắm tay kia thì bác sĩ đến, tháo nẹp cổ, đoạn tiêm cho tôi một mũi giảm đau và chống phù nề. Tôi nằm xuống như hướng dẫn, đầu giữ yên, tránh làm cổ bị đau thêm.
Plutarch, Haymitch và Beetee đợi trong sảnh từ nãy để xin phép bác sĩ cho gặp tôi. Chẳng biết họ đã nói với Gale chưa, nhưng vì anh không ở đây nên tôi nghĩ chắc là chưa. Plutarch tiễn bác sĩ ra cửa và cố lệnh cho Prim ra cùng, nhưng em nói, “Không. Nếu ông bắt cháu đi, cháu sẽ tới thẳng phòng phẫu thuật kể hết với mẹ chuyện vừa xảy ra. Và cháu cảnh báo ông, mẹ cháu chẳng coi một vị Trưởng Ban Tổ chức Đấu trường quyết định tính mạng chị Katniss ra gì đâu. Nhất là khi ông để chị cháu ra nông nỗi này.”
Plutarch có vẻ phật ý, nhưng Haymitch thì tặc lưỡi. “Thôi bỏ đi, Plutarch,” ông nói. Thế là Prim ở lại.
“Thế này, Katniss ạ, tình trạng của Peeta khiến tất cả chúng tôi đều sốc,” Plutarch nói. “Chúng tôi không thể không để ý thấy sự tàn tạ của cậu ấy trong hai cuộc phỏng vấn cuối cùng. Rõ ràng cậu ấy đã bị ngược đãi, và chúng tôi coi đó là nguyên nhân khiến tâm lý cậu ấy bất ổn như vậy. Giờ thì chúng tôi tin rằng chuyện còn nghiêm trọng hơn thế nhiều. Rằng Capitol đã bắt cậu ấy chịu dựng một phương pháp khá dị thường được gọi là bắt hồn. Beetee?”
“Bác rất tiếc,” Beetee nói, “nhưng bác không thể nói rõ mọi chi tiết với cháu được, Katniss à. Captiol ém rất kỹ hình thức tra tấn này, và bác tin rằng kết quả không phải lúc nào cũng giống nhau. Những gì chúng ta biết là thế này. Đó là một dạng điều tiết nỗi sợ. Thuật ngữ
bắt hồn
có nguồn gốc từ tiếng Anh cổ có nghĩa là ‘thâu tóm’ hay nói rõ nghĩa hơn là ‘chiếm giữ’. Các bác tin rằng từ đó được chọn vì phương pháp này có sử dụng nọc độc của loài bắt-là-cắt, còn từ
bắt
thì liên tưởng tới
bắt hồn
. Lần đầu tham gia Đấu trường Sinh tử cháu từng bị đốt, vì thế không giống như phần lớn chúng ta, cháu đã trực tiếp nếm trải những tác động của nọc độc.”
Sợ hãi. Ảo giác. Hư cảnh đánh mất người mình yêu thương đầy hãi hùng. Vì nọc độc nhắm tới phần não bộ nơi nỗi sợ hãi cư trú.
“Bác chắc là cháu vẫn nhớ trải nghiệm đó đáng sợ đến chừng nào. Sau đấy cháu có bị rối loạn tâm thần nữa không?” Beetee hỏi. “Cảm giác không thể đánh giá đúng sai ấy? Hầu như hễ ai còn sống sau khi bị đốt thì khi kể lại chuyện này cũng nhắc đến những điều tương tự.”
Có. Cuộc chạm trán với Peeta. Kể cả sau khi đầu óc đã thông suốt, tôi vẫn không chắc có phải cậu đã chiến đấu với Cato để cứu mạng tôi không hay đấy là do tôi tưởng tượng ra.
“Nó khiến việc hồi tưởng khó khăn hơn rất nhiều vì ký ức có thể bị thay đổi.” Beetee gõ gõ trán. “Bị dồn thành những suy nghĩ chiếm ưu thế trong tâm trí, bị biến đổi và lưu lại dưới hình thức bị chỉnh sửa. Giờ hãy tưởng tượng bác yêu cầu cháu nhớ lại một việc, hoặc gợi ý bằng miệng hoặc bắt cháu xem một đoạn băng ghi lại sự kiện ấy – và trong khi trải nghiệm đó được hồi nhớ thì bác tiêm cho cháu một liều nọc độc bắt-là-cắt. Không đủ để khiến cháu bất tỉnh ba ngày. Chỉ đủ truyền cho ký ức nỗi sợ hãi và nghi ngờ. Và đó là cái mà não cháu sẽ lưu giữ trong thời gian dài.”
©STENT:
http://www.luv-ebook.com
Tôi bắt đầu cảm thấy nôn nao. Prim hỏi đúng câu hỏi vướng mắc trong đầu tôi. “Có phải họ đã làm vậy với anh Peeta không ạ? Khơi lên những ký ức của anh ấy về chị Katniss rồi bóp méo khiến chúng trở nên vô cùng đáng sợ?”
Beetee gật đầu. “Vô cùng đáng sợ đến nỗi cậu ấy coi cô bé là mối đe dọa đến tính mạng mình. Đến nỗi cậu ấy cố giết cô bé. Phải, đó là giả thiết hiện tại của các bác.”
Tôi vùi mặt vào đôi cánh tay vì không tin chuyện này lại đang xảy ra. Làm sao có thể chứ. Kẻ nào đó khiến Peeta quên rằng cậu yêu tôi... không ai làm được việc đó cả.
“Nhưng các bác có thể đảo ngược tình thế phải không ạ?” Prim hỏi.
“Ừm, có rất ít dữ liệu về việc đó,” Plutarch nói. “Thực ra là không hề có. Cho dù trước đây người ta có từng thử phương pháp hoàn hồn rồi thì chúng ta cũng không thể tiếp cận với những hồ sơ ấy.”
“Ôi nhưng các bác sẽ cố tìm cách chứ ạ?” Prim không chịu thôi. “Các bác sẽ không chỉ nhốt anh ấy trong căn phòng lót nệm nào đó và mặc anh ấy chịu đựng phải không ạ?”
“Tất nhiên các bác sẽ tìm cách mà Prim,” Beetee nói. “Chỉ là các bác không biết sẽ thành công đến đâu. Nếu như có thành công được. Bác cho rằng những sự kiện đáng sợ là thứ khó xóa bỏ nhất. Xét cho cùng đó là thứ mà ta vốn nhớ rõ nhất.”
“Và ngoài những ký ức của cậu ấy về Katniss, chúng ta vẫn chưa biết còn có gì bị xáo trộn nữa không,” Plutarch nói. “Chúng ta sẽ thành lập một đội chuyên gia sức khỏe tâm thần và quân sự để tìm cách đối phó. Cá nhân tôi lạc quan tin tưởng rằng cậu ấy sẽ hồi phục hoàn toàn.”
“Ông tin thế ạ?” Prim mỉa mai hỏi. “Còn
bác
thì nghĩ sao hả bác Haymitch?”
Tôi hơi nhích cánh tay ra một chút để nhìn nét mặt ông qua khe hở. Trông ông phờ phạc và chán nản khi thừa nhận, “Ta nghĩ Peeta có thể đỡ hơn phần nào. Nhưng... ta không nghĩ thằng bé sẽ còn được như xưa nữa.” Tôi khép đôi cánh tay lại, đóng sập khe hở, chặn mọi thứ lại bên ngoài.
“Ít nhất cậu ấy còn sống,” Plutarch nói, như thể ông đã mất kiên nhẫn với tất cả chúng tôi. “Snow đã kết liễu nhà tạo mẫu cùng đội chuẩn bị của Peeta trong chương trình truyền hình trực tiếp tối nay. Chúng ta không biết chuyện gì xảy ra với Effie Trinket. Peeta bị hủy hoại, nhưng cậu ấy đang ở đây. Với chúng ta. Và đấy là bước cải thiện rõ ràng so với tình hình của cậu ấy mười hai tiếng trước. Hãy ghi nhớ điều đó, được chứ?”
Nỗ lực của Plutarch nhằm làm tôi vui lên – điểm thêm tin tức về bốn, có khi là năm, vụ giết người nữa – lại thành ra phản tác dụng. Portia. Đội chuẩn bị của Peeta. Effie. Cố gắng kìm nước mắt khiến cổ họng tôi đau buốt cho đến khi lại thở hổn hển. Cuối cùng, họ không có lựa chọn nào khác ngoài tiêm thuốc an thần cho tôi.
Khi tỉnh lại, tôi tự hỏi liệu bây giờ cách duy nhất giúp tôi ngủ được có phải là tiêm thuốc vào cánh tay tôi không. Tôi mừng là mình không nói được trong vài ngày nữa, vì tôi chả muốn nói gì hết. Hay làm gì. Trên thực tế, tôi là một bệnh nhân mẫu mực, sự uể oải của tôi được hiểu là biết kiềm chế, vâng lời bác sĩ. Tôi không còn cảm thấy muốn khóc nữa. Trên thực tế, tôi chỉ có thể cố bám lấy một suy nghĩ giản đơn: hình ảnh bộ mặt Snow đi kèm lời thì thầm văng vẳng trong đầu tôi.
Tôi sẽ giết ông
.
Mẹ tôi và Prim thay nhau chăm sóc tôi, dỗ tôi nuốt vài miếng thức ăn mềm. Mọi người đến theo định kỳ để cập nhận cho tôi về tình hình của Peeta. Một hàm lượng lớn nọc độc bắt-là-cắt đang được đào thải khỏi cơ thể cậu. Điều trị cho cậu toàn là người lạ, dân bản địa Quận 13 - người cùng quê hoặc dân Capitol không ai được phép gặp cậu – để tránh khơi lên bất kỳ ký ức nguy hiểm nào. Một đội chuyên gia làm việc hàng giờ đằng đẵng để vạch ra chiến lược giúp cậu phục hồi.
Gale không tới thăm tôi vì phải nằm bẹp giường do vết thương ở vai. Nhưng vào đêm thứ ba, sau khi tôi được tiêm thuốc và đèn được vặn nhỏ cho giờ đi ngủ, anh khẽ khàng lẻn vào phòng tôi. Anh không nói gì, chỉ lướt ngón tay lên những vết thâm tím trên cổ tôi, cử chỉ nhẹ nhàng như cánh một con ngài, đặt một nụ hôn giữa hai mắt tôi, rồi đi mất.
Sáng hôm sau, tôi được xuất viện với lời dặn dò đi lại thật từ tốn và chỉ nói khi cần. Tôi không bị in thời gian biểu lên tay, vì thế tôi cứ đi lang lang vô định cho đến khi Prim xong việc ở bệnh viện đưa tôi đến căn phòng mới nhất của nhà tôi. 2212. Giống căn trước, nhưng không có cửa sổ.
Hũ Bơ giờ được phát suất ăn hằng ngày và một chậu cát đặt dưới bồn rửa trong phòng tắm. Khi Prim dém chăn cho tôi, nó nhảy phóc lên gối, giành giật sự chú ý của em. Em bồng nó nhưng vẫn không rời mắt khỏi tôi. “Katniss à, em biết toàn bộ chuyện về Peeta thật khủng khiếp với chị. Nhưng hãy nhớ này, Snow đã tác động đến anh ấy hàng tuần liền, còn chúng ra mới chỉ cho anh ấy vào ngày thôi. Ta vẫn có cơ sở tin rằng trong sâu thẳm anh ấy vẫn là Peeta trước đây, người mà yêu chị ấy. Cố trở lại chính mình nhé. Đừng thôi hy vọng vào anh ấy.”
Tôi nhìn cô em gái nhỏ và tự hỏi làm sao em lại thừa hưởng được nhiều nét tốt nhất của gia đình chúng tôi đến vậy: bàn tay chữa trị của mẹ, cái đầu bình tĩnh của cha, và tinh thần chiến đấu của tôi. Ở em còn có gì khác nữa, một điều hoàn toàn thuộc về em. Khả năng nhìn sâu vào đống hỗn độn của cuộc đời và nhìn nhận mọi thứ đúng bản chất của nó. Có lẽ nào em đúng không? Rằng Peeta có thể trở lại với tôi?
“Em phải quay lại bệnh viện đây,” Prim nói, đặt Hũ Bơ lên giường cạnh tôi. “Cả hai chơi với nhau nhé?”
Hũ Bơ nhảy phắt khỏi giường theo em ra cửa, kêu nheo nhéo vì bị bỏ lại. Chúng tôi còn lâu mới chơi được với nhau. Chừng ba mươi giây sau, tôi biết mình không thể chịu nổi cảnh bị giam hãm trong căn phòng ngầm này và để mặc Hũ Bơ muốn làm gì thì làm. Tôi bị lạc mấy lần, nhưng cuối cùng cũng tìm ra lối xuống Ban Phòng thủ Đặc biệt. Ai nấy mà tôi đi qua đều chằm chằm nhìn vào những vết thâm tím của tôi, và tôi không thể không cảm thấy ngại ngùng tới mức phải kéo cổ áo lên tận tai.
Gale chắc hẳn cũng được ra viện sáng nay, vì tôi thấy anh trong một phòng nghiên cứu với Beetee. Họ mải mê cúi xuống một bản vẽ, đo đạc gì đó. Các bản vẽ nằm la liệt khắp bàn và sàn nhà. Đính trên những bức tường cách nhiệt cách âm và giăng trên vài màn hình máy tính là các bản thiết kế tương tự. Qua những đường nét thô ráp ở một bản, tôi nhận ra cái bẫy treo của Gale. “Mấy thứ này là gì vậy?” tôi khàn khàn hỏi, kéo theo sự chú ý của họ khỏi tờ giấy.
“A, Katniss, cháu phát hiện ra chúng ta rồi,” Beetee vui vẻ nói.
“Gì cơ? Đây là bí mật ạ?” Tôi biết Gale nhiều lần xuống đây làm việc với Beetee, nhưng cứ tưởng họ máy mó cung và súng.
“Không hẳn. Nhưng bác có hơi áy náy về chuyện này. Đánh cắp Gale khỏi cháu quá nhiều như vậy,” Beetee thú nhận.
Vì phần lớn thời gian ở Quận 13 tôi bị mất phương hướng, lo lắng, giận dữ, được sang sửa, hay nằm viện, không thể nói sự vắng mặt của Gale khiên tôi cảm thấy bất tiện. Giữa chúng tôi cũng không còn hòa thuận trọn vẹn nữa. Nhưng cứ để mặc Beetee nghĩ rằng ông nợ tôi. “Cháu hy vọng bác tận dụng được thời gian của anh ấy.”
“Lại đây xem đi,” ông nói, vẫy tôi lại một màn hình máy tính.
Đây là những gì họ làm từ nãy. Áp dụng những ý tưởng căn bản ẩn sau cái bẫy của Gale và điều chỉnh chúng cho thích ứng với thứ vũ khí chống lại con người. Chủ yếu là bom mìn. Chú trọng vào yếu tố tâm lý đằng sau hơn là cơ chế cơ học của nó. Đặt bẫy treo ở nơi cung cấp thứ thiết yếu cho sự sống còn. Nguồn nước hoặc nguồn thức ăn. Đe doạn con mồi để đông đảo bọn chúng chạy trốn tới nơi có mức độ hủy diệt lớn hơn. Gây nguy hiểm cho con con để thu hút mục tiêu mà ta thực sự nhắm tới, con bố con mẹ. Dụ dỗ nạn nhân đến nơi có vẻ là chốn trú ẩn an toàn - ở đó tử thần đang chờ sẵn. Đến một mức độ nào đó, Gale và Beetee đã bỏ qua sự hoang dã mà tập trung nhiều hơn vào những gì thôi thúc con người. Như lòng trắc ẩn. Một quả bom phát nổ. Thời gian cho mọi người hối hả chạy tới giúp những kẻ bị thương. Rồi phút giây sau đó, thêm nhiều quả bom dữ dội nữa giết chết tất cả bọn họ.
“Có vẻ hơi vượt quá giới hạn,” tôi nói. “Không có giới hạn nào sao?” Cả hai trân trân nhìn tôi – Beetee hoài nghi, Gale thì hằm hè. “Chắc là chẳng có bộ quy tắc nào quy định những việc ta không được làm với người khác.”
“Chắc chắn rồi. Beetee và anh chỉ làm theo đúng bộ quy tắc mà Tổng thống Snow đã dùng khi ông ta bắt hồn Peeta thôi,” Gale đáp trả.
Tàn nhẫn, nhưng đúng trọng tâm. Tôi bỏ đi mà không bình luận gì thêm. Tôi cảm thấy nếu không ra ngoài ngay lập tức thì tôi sẽ phát điên lên mất, nhưng tôi vẫn quanh quẩn trong Ban Phòng thủ Đặc biệt thì bị Haymitch chặn lại. “Đi nào,” ông nói. “Chúng ta cần cháu quay lại bệnh viện.”
“Để làm gì ạ?” tôi hỏi.
“Họ định thử nghiệm gì đó với Peeta,” ông đáp. “Đưa đến người vô hại nhất từ Quận 12 mà họ có thể lùng ra. Tìm ra người có chung ký ức tuổi thơ với Peeta, nhưng không có gì quá gần gũi với cháu. Giờ họ đang kiểm tra mọi người rồi.”
Tôi biết đây sẽ là một nhiệm vụ khó khăn vì bất kỳ ai có chung ký ức tuổi thơ với Peeta chủ yếu đều là dân thị trấn, và hầu như không ai trong số đó thoát khỏi lưỡi lửa. Nhưng khi chúng tôi đến căn phòng bệnh giờ được biến thành chỗ làm việc cho đội phục hồi của Peeta thì cô ấy đang ngồi chuyện gẫu với Plutarch. Delly Cartwright. Như thường lệ, cô cười với tôi như thể tôi là bạn tốt nhất trên đời của cô. Với ai cô cũng cười như vậy. “Katniss!” cô gọi to.
“Chào Delly,” tôi nói. Tôi nghe nói cô và em trai đã sống sót. Bố mẹ cô, chủ hiệu giày trong thị trấn thì không được may mắn như thế. Cô trông già hơn, khoác bộ đồ xám tẻ ngắt chẳng làm tôn dáng ai của Quận 13, mái tóc vàng dài được thắt bím rất thiết thực thay cho những lọn tóc vàng buông lơi. Delly gầy hơn một chút so với tôi nhớ, nhưng cô từng là một trong số ít những đứa trẻ ở Quận 12 có da có thịt. Chế độ ăn ở đây, sự căng thẳng, niềm đau mất cha mẹ, rõ ràng tất cả đã góp phần đẩy cô ra nông nỗi này. “Cậu thế nào?” tôi hỏi.
“Ôi, bỗng nhiên có bao nhiêu thay đổi.” Mắt cô ầng ậc nước. “Nhưng ai ở Quận 13 cũng rất tốt bụng, cậu có nghĩ vậy không?”
Delly thật sự có ý đó. Cô thực lòng quý mọi người. Tất cả mọi người, không chỉ là riêng vài người mà cô đã dành hàng năm trời suy nghĩ về họ.
“Họ đã nỗ lực để khiến chúng ta cảm thấy được chào đón,” tôi nói. Tôi nghĩ đó là một nhận xét công bằng mà không quá lố. “Cậu là người được chọn để gặp Peeta à?”
“Chắc vậy. Khổ thân Peeta. Khổ thân
cậu
. Tớ sẽ không bao giờ hiểu nổi Capitol,” cô nói.
“Có lẽ tốt hơn là không,” tôi bảo cô.
“Delly biết Peeta lâu rồi,” Plutarch nói.
“Ồ đúng đấy!” Mặt Delly rạng rỡ. “Bọn tớ chơi cùng nhau từ hồi còn bé tí. Tớ từng nói với mọi người cậu ấy là anh trai tớ.”
“Cháu nghĩ sao?” Haymitch hỏi tôi. “Bất cứ cái gì có thể khơi dậy ký ức trong cháu ấy?”
“Ba đứa bọn cháu học cùng lớp. Nhưng bọn cháu chẳng chơi chung với nhau mấy,” tôi nói.
“Katniss lúc nào cũng rất tuyệt. Cháu chẳng bao giờ dám mơ cậu ấy chú ý đến mình,” Delly nói. “Cách cậu ấy đi săn, vào chợ Hob, rồi đủ thứ khác. Ai cũng ngưỡng mộ cậu ấy như vậy.”
Cả Haymitch lẫn tôi đều nhìn chằm chằm vào mặt cô để kiểm tra cho chắc liệu cô có đùa không. Nghe Delly tả thì tôi hầu như không có bạn là bởi sự xuất chúng của tôi đã át vía mọi người. Không đúng. Tôi hầu như không có bạn là vì tôi không thân thiện. Cứ để cô xoay tôi mòng mòng vào hình ảnh kỳ diệu nào đó đi.
“Delly lúc nào cũng nghĩ rất tốt về mọi người,” tôi giải thích. “Cháu nghĩ Peeta không thể có những ký ức tồi tệ về cậu ấy được.” Rồi tôi nhớ ra. “Gượm đã. Ở Capitol. Khi cháu nói dối về việc nhận ra cô gái Avox. Peeta đã bao che cho cháu và nói rằng cô ấy giống Delly.”
“Ta có nhớ,” Haymitch nói. “Nhưng ta chẳng biết nữa. Điều đó không đúng. Delly thực sự đã không ở đấy. Ta nghĩ cái đó sao mà bì được với bao năm ký ức tuổi thơ.”
“Nhất là với một người bạn đáng mến nhường này như cô Delly,” Plutarch nói. “Cứ thử xem.”
Plutarch, Haymitch và tôi đi đến phòng quan sát kế bên nơi Peeta bị nhốt. Phòng chật chội với mười thành viên trong đội phục hồi của cậu, được trang bị bút và bảng kẹp hồ sơ. Lớp kính một chiều và hệ thống cài đặt âm thanh cho phép chúng tôi kín đáo quan sát Peeta. Cậu nằm trên giường, cánh tay bị trói đè xuống. Cậu không vùng vẫy cố thoát khỏi dây trói, nhưng bàn tay cứ ngọ nguậy liên hồi. Nét mặt cậu xem ra tỉnh táo hơn lúc cậu cố bóp cổ tôi, nhưng vẫn không phải nét mặt quen thuộc.
Khi cánh cửa khẽ mở ra, mắt cậu mở to cảnh giác, rồi trở nên bối rối. Delly dè dặt sang bên kia phòng, nhưng khi gần đến chỗ cậu, cô lại mỉm cười đầy tự nhiên. “Peeta à? Delly đây. Đồng hương.”
“Delly?” Nỗi mơ hồ chừng như đã được giải tỏa phần nào. “Delly. Là cậu.”
“Đúng rồi!” Giọng cô nhẹ nhõm thấy rõ. “Cậu thấy thế nào?”
“Kinh khủng. Chúng ta đang ở đâu đây? Chuyện gì xảy ra vậy?” Peeta hỏi.
“Bắt đầu nào,” Haymitch nói.
“Tôi đã bảo cô bé đừng nhắc gì đến Katniss hay Capitol,” Plutarch nói. “Để xem có bé có thể khơi lại bao nhiêu ký ức quê nhà nào.”
“Ừm... chúng ta đang ở Quận 13. Giờ chúng ta sống ở đây,” Delly nói.
“Những người đó cũng nói đi nói lại y như vậy. Nhưng chả có ý nghĩa gì. Sao chúng ta lại không ở nhà?” cậu vặn.
Delly cắn môi. “Có... một tai nạn. Tớ cũng nhớ nhà quay quắt. Tớ chỉ nghĩ đến mấy hình vẽ bằng phấn mà chúng ta thường nguệch ngoạc trên đá lót đường. Hình của cậu tuyệt cú mèo. Có nhớ khi cậu biến mỗi viên thành một con vật khác không?
“Ừ. Lợn, mèo, các thứ,” Peeta nói. “Cậu vừa nói... về một tai nạn.”
Tôi có thể thấy mồ hôi nhấp nhoáng trên trán Delly khi cô đánh vật với câu hỏi. “Thật tồi tệ. Không ai... có thể ở lại cả,”
“Cố tiếp tục đi, cô bé,” Haymitch nói.
“Nhưng tớ biết rồi cậu sẽ thích ở đây thôi, Peeta à. Mọi người rất tốt với chúng ta. Lúc nào cũng có sẵn thức ăn, quần áo sạch, và trường học thì thú vị hơn biết bao nhiêu,” Delly nói.
“Sao gia đình tớ không tới gặp tớ?” Peeta hỏi.
“Họ không thể.” Lệ lại trào lên mắt Delly. “Rất nhiều người không rời được khỏi Quận 12. Vì thế chúng ta sẽ xây dựng một cuộc sống mới ở đây. Tớ chắc là họ có thể dùng đến một thợ làm bánh giỏi. Cậu có nhớ cái hồi cha cậu thường để chúng ta nặn bột nhào thành con trai con gái không?”
“Có một vụ cháy,” Peeta đột nhiên nói.
“Phải,” cô thì thầm.
“Quận 12 bị thiêu rụi, phải không? Vì cô ta,” Peeta tức giận nói. “Vì Katniss!” Cậu bắt đầu giằng khỏi dây trói.
“Ôi không, Peeta. Đấy không phải lỗi của cậu ấy,” Delly nói.
“Cô ta nói với cậu thế à?” cậu rít lên với cô.
“Đưa cô bé ra khỏi đó,” Plutarch nói. Cửa mở tức thì và Delly lui dần ra ngoài.
“Cậy ấy không phải làm vậy. Tớ...” Delly toan nói.
“Vì cô ta đang nói dối. Cô ta là kẻ dối trá! Cậu không được tin bất cứ điều gì cô ta nói. Cô ta là con mút Capitol tạo ra hòng sử dụng chống lại những người còn lại chúng ta!” Peeta gào lên.
“Không, Peeta. Cậu ấy không phải là...” Delly thử lại lần nữa.
“Đừng tin cô ta, Delly,” Peeta nói giọng cuồng loạn. “Tớ đã tin, và cô ta đã cố giết tớ. Cô ta giết các bạn tớ. Gia đình tớ. Đừng có mà lại gần cô ta. Cô ta là con mút đấy.”
Một bàn tay vươn qua ngưỡng cửa, kéo Delly ra ngoài, và cánh cửa đung đưa đóng lại. Nhưng Peeta vẫn gào rú không dứt. “Con mút. Cô ta là con mút thối tha!”
Cậu không những ghét và muốn giết tôi, cậu còn không tin tôi là người nữa. Giờ thì bị bóp cổ còn chẳng đau đớn bằng.
Quanh tôi các thành viên đội phục hồi nguệch ngoạc múa bút như điên, hí hoáy ghi lại từng từ. Haymitch và Plutarch túm tay tôi lôi ra khỏi phòng. Họ cho tôi dựa vào tường trong hành lang lặng vắng. Nhưng tôi biết Peeta vẫn đang gào thét sau cánh cửa và lớp kính kia.
Prim sai rồi. Peeta vô phương cứu chữa rồi. “Cháu không thể ở đây thêm nữa,” tôi đờ đẫn nói. “Nếu bác muốn cháu làm Húng nhại thì hãy đưa cháu đi đi.”
“Cháu muốn đi đâu?” Haymitch hỏi.
“Capitol.” Đó là nơi duy nhất tôi có thể nghĩ đến là mình có việc phải làm.
“Không được,” Plutarch nói. “Chừng nào các quận còn chưa an toàn thì không được. Tin tốt là cuộc chiến diễn ra ở hầu khắp mọi nơi trừ Quận 2. Dù vậy đó vẫn là một cái hạt cứng khó xơi đấy.”
Phải. Đầu tiên là các quận. Kế đến là Capiol. Và rồi tôi sẽ săn lùng Snow.
“Được,” tôi nói. “Đưa tôi đến Quận 2.”
14.
Quận 2 là một quận lớn, đúng như người ta đoán, gồm những dãy làng trải dài qua núi. Mỗi làng ban đầu gắn với một mỏ than hay mỏ đá, tuy nhiên giờ đây nhiều nơi trong số đó được dành làm nơi ở và huấn luyện cho các Trị an viên. Không có gì toát lên vẻ thách thức ghê gớm cả, vì bên phía phiến quân có không lực của Quận 13, ngoại trừ một điều: chính giữa quận là một ngọn núi hầu như bất khả xâm phạm nơi đặt trung tâm quân sự của Capitol. Chúng tôi đặt biệt danh cho ngọn núi đó là Hạt từ lúc tôi chuyển lời nhận xét “hạt cứng khó xơi” của Plutarch tới thủ lĩnh phiến quân kiệt quệ và thoái chí ở đây. Hạt được đưa vào sử dụng vào ngay sau Kỳ Đen tối, khi Capitol để tuột Quận 13 khỏi tay và cần cấp kỳ một thành trì ngầm mới. Chúng có một số tài nguyên quân sự đặt ở ngoại ô của chính Capitol – tên lửa hạt nhân, máy bay, lính tráng, nhưng một phần lớn sức mạnh giờ lại nằm dưới quyền kiểm soát của kẻ thù. Tất nhiên chúng không đời nào có thể hy vọng tạo nên một bản sao Quận 13, đó là công trình hàng thế kỷ. Tuy nhiên, chúng đã nhìn thấy cơ hội trong những mỏ than cũ của Quận 2 gần đó. Nhìn từ trên khôn, Hạt trông giống như những ngọn núi khác với vài cửa núi trên bề mặt. Nhưng bên trong là khoảng không gian mênh mông thâm u nơi các phiến đá đã được xẻ, đẩy ra ngoài rồi chuyển xuống những con đường trơn hẹp để xây dựng các tòa nhà phía xa. Thậm chí có cả một hệ thống tàu hỏa tạo điều kiện chuyên chở thợ mỏ từ Hạt đến ngay trung tâm thị trấn chính ở Quận 2. Nó chạy thẳng tới quảng trường nơi Peeta và tôi đã đến thăm trong chuyến Diễu hành Chiến thắng, đứng trên những bậc thang cẩm thạch rộng rãi của Tòa tư pháp, cố không nhìn quá kỹ vào những khuôn mặt hằn in đau khổ của gia đình Cato và Clove túm tụm bên dưới chúng tôi.
Đó không phải là địa hình lý tưởng nhất, khá trắc trở bởi các vụ lũ lụt, lở bùn, lở tuyết. Nhưng lợi thế của nó ăn đứt mọi quan ngại. Khi xẻ sâu vào núi, đám thợ mỏ đã để lại những cây cột lớn và những bức tường đá làm trụ cho cơ sở hạ tầng. Capitol đã gia cố lại và bắt tay vào biến ngọn núi thành căn cứ quân sự mới của mình. Lấp đầy nơi đó bằng những ngân hàng điện toán và phòng họp, doanh trại và kho vũ khí. Mở rộng cửa núi cho tàu bay qua dễ dàng rời khỏi kho chứa, lắp đặt bệ phóng tên lửa. Nhưng nhìn chung vẫn giữ nguyên phần lớn ngoại diện của ngọn núi. Một mớ cây cối cỏ dại tua tủa lởm chởm. Một pháo đài tự nhiên bảo vệ chúng khỏi kẻ thù.
Theo tiêu chuẩn của các quận khác thì Capitol khá cưng chiều Quận 2. Chỉ cần nhìn vào những phiến quân Quận 2 là đủ thấy hồi nhỏ họ được ăn uống và chăm sóc chu đáo ra sao. Một số cuối cùng phải làm thợ mỏ hoặc thợ đá. Những người khác được đào tạo để làm việc trong Hạt hoặc tuồn vào đội ngũ Trị an viên. Huấn luyện những kẻ trẻ trung lì lợm cho chiến đấu. Đấu trường Sinh tử là một cơ hội mang đến giàu có và vinh quang không thể tìm thấy ở đâu khác. Tất nhiên dân Quận 2 thì dễ dàng nuốt những lời tuyên truyền của Capitol hơn các quận còn lại chúng tôi. Đi theo đường lối của họ. Nhưng xét cho cùng, họ vẫn là nô lệ mà thôi. Và nếu điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến những kẻ trở thành Trị an viên hay làm việc trong Hạt, thì nó vẫn tác động lên những thợ xẻ đá đã tạo nên xương sống của thành trì này.
Mọi thứ vẫn y nguyên như hồi tôi đến đây cách đây hai tuần. Những ngôi làng ở phía ngoài nằm trong tay phiến quân, thị trấn bị chia cắt, và Hạt vẫn bất khả xâm phạm như mọi khi. Một vài cửa núi được tăng cường phòng bị, trái tim của nó được bao bọc an toàn trong núi. Trong khi từng quận khác giành giật quyền kiểm soát khỏi tay Capitol thì Quận 2 vẫn nằm trong tay nó.
Mỗi ngày, tôi làm bất cứ việc gì có thể để giúp đỡ. Thăm nom người bị thương. Ghi những ĐTT ngắn cùng đội quay phim. Tôi không được phép tham gia chiến đấu đích thực, nhưng họ mời tôi dự các cuộc họp về tình hình chiến tranh, nhiều hơn hẳn so với hồi ở Quận 13. Ở đây tốt hơn nhiều. Tự do hơn, không có thời gian biểu trên cánh tay, tôi cũng ít bị đòi hỏi về thời gian hơn. Tôi sống trên mặt đất trong làng của phiến quân hay những hang động xung quanh. Vì lý do an toàn, tôi thường xuyên được thay đổi chỗ ở. Ban ngày tôi được quyền đi sắn miễn là mang theo vệ sĩ và không lang thang quá xa. Giữa bầu không khí loãng lạnh căm của vùng núi, tôi cảm thấy phục hồi phần nào thể lực, tâm trí cũng xua tan nỗi mụ mị còn sót lại. Nhưng cùng với việc đầu óc trở nên sáng rõ, tôi còn nhận thức sắc bén hơn về những gì đã xảy ra với Peeta.
Snow đã đánh cắp cậu khỏi tôi, bóp méo cậu đến nỗi không thể nhận ra, và biến cậu thành món quà cho tôi. Boggs, đến Quận 2 cùng tôi, đã bảo tôi rằng cho dù toàn bộ kế hoạch được vạch ra hết sức tinh vi, việc giải cứu Peeta vẫn hơi quá dễ dàng. Ông tin rằng nếu Quận 13 không nỗ lực làm việc đó, Peeta cũng vẫn được chuyển tới chỗ tôi. Được thả xuống ở một quận đang giao tranh hoặc chính Quận 13. Được thắt ruy băng và đề tên người nhận là tôi. Được lập trình để giết tôi.
Chỉ là giờ cậu ra nông nỗi này tôi lại càng trọn vẹn trân trọng một Peeta thực sự. Thậm chí còn hơn thế nếu cậu chết trước đó. Sự ân cần, chín chắn, tấm lòng ấm áp ẩn chứa sức nóng không ngờ. Ngoài Prim, mẹ tôi và Gale, còn ai trên đời yêu tôi vô điều kiện như vậy? Tôi nghĩ trong hoàn cảnh của mình, câu trả lời có lẽ là không. Đôi khi một mình, tôi lại lấy hạt trai vẫn nằm trong túi ra, cố nhớ lại chàng trai với ổ bánh mì, đôi cánh tay vững chãi đã xua đuổi những cơn ác mộng trên tàu, những nụ hôn nơi trường đấu. Để bắt mình gọi tên thứ mình đã đánh mất. Nhưng để làm gì? Biến mất rồi. Cậu biến mất rồi. Cho dù có bất cứ thứ gì từng tồn tại giữa chúng tôi thì nó cũng đã biến mất rồi. Chỉ còn lại lời tôi hứa giết Snow. Tôi nhắc nhủ mình như thế hàng chục lần mỗi ngày.
Ở Quận 13, quá trình phục hồi cho cậu vẫn tiếp tục. Dù tôi không hỏi, Plutarch vẫn cập nhật cho tôi về tình hình khả quan qua điện thoại, kiểu như “Tin tốt này Katniss! Tôi nghĩ chúng tôi gần như thuyết phục được cậu ấy rằng cô không phải là con mút!” Hay “Hôm nay cậu ấy được phép tự ăn bánh Pudding đấy!”
Khi Haymitch nghe máy sau đó, ông thú nhận rằng Peeta chẳng đỡ chút nào. Tia hy vọng mong manh duy nhất đến từ em gái tôi. “Prim đã nghĩ ra cách cố hoàn hồn cho thằng bé,” Haymitch bảo tôi. “Khơi lên những ký ức bị bóp méo về cháu rồi tiêm cho nó liều cao thuốc an thần, như ma phiện chẳng hạn. Chúng ta mới thử với một kỷ niệm thôi. Đoạn băng hai đứa ở trong hang, lúc cháu kể thằng bé nghe chuyện kiếm con dê cho Prim đấy.”
“Có tiến triển gì không ạ?” tôi hỏi.
“Chà, nếu coi bối rối cực độ là tiến triển so với sợ hãi cực độ, thì có,” Haymitch đáp. “Nhưng ta cũng không chắc. Thằng bé không nói năng được suốt mấy tiếng liền. Thành một dạng ngẩn ngơ nào đó. Đến lúc tỉnh lại được thì thằng bé chỉ hỏi độc mỗi chuyện con dê.”
“Ra vậy,” tôi nói.
“Tình hình ngoài đó thế nào?” ông hỏi.
“Chẳng có tiến triển gì,” tôi bảo ông.
“Chúng ta định cử ra ngoài đó một đội để hỗ trợ xử lý ngọn núi. Beetee cùng vài người khác nữa,” ông nói. “Cháu biết đấy, các bác học ấy.”
Khi các bác học được tuyển chọn, tôi không ngạc nhiên khi thấy tên Gale trong danh sách. Tôi đã nghĩ Beetee sẽ mang anh theo, không phải vì anh thông thạo kỹ thuật mà với hy vọng rằng bằng cách nào đó anh có thể nghĩ ra cách đánh bẫy ngọn núi. Ban đầu, Gale đề nghị đi cùng tôi tới Quận 2, nhưng tôi thấy làm thế tôi sẽ tách anh khỏi công việc với Beetee. Tôi bảo anh cứ kiên nhẫn ở lại đúng nơi mình được cần nhất. Tôi không nói với anh rằng sự có mặt của anh sẽ chỉ làm tôi càng không tiện khóc thương Peeta mà thôi.
Một hôm, Gale tìm thấy tôi khi họ đến lúc cuối chiều. Tôi đang ngồi vặt lông ngỗng trên khúc gỗ bên rìa ngôi làng tôi đang ở. Có chừng một ra ngỗng nằm chất chồng dưới chân tôi. Từ hồi tôi đến thì hàng đàn hàng đàn ngỗng cũng di trú về đây nên việc săn bắn khá thuận lợi. Gale lẳng lặng ngồi xuống bên tôi và bắt đầu vặt lông một con. Chúng tôi đang làm dang dở thì anh nói, “Liệu chúng mình có cơ hội ăn mấy thứ này không nhỉ?”
“Có đấy. Phần lớn sẽ vào bếp trại, nhưng họ đoán là em sẽ cho bất kỳ ai ở cùng em tối nay vài con,” tôi nói. “Canh phòng cho em ấy mà.”
“Không phải vinh dự đó là đủ rồi sao?” anh nói.
“Anh thì nghĩ vậy,” tôi đáp. “Nhưng người ta rỉ tai nhau rằng chim húng nhại gây nguy hiểm cho sức khỏe của người khác.”
Chúng tôi im lặng vặt lông một hồi lâu. Rồi anh nói, “Hôm qua anh thấy Peeta đấy. Qua kính.”
“Lúc đó anh nghĩ gì?” tôi hỏi.
“Nghĩ loanh quanh về chuyện bản thân thôi,” Gale nói.
“Rằng anh không phải ghen tị với cậu ấy nữa chứ gì?” Tôi giật mạnh tay, một đám lông bồng bềnh rơi quanh chúng tôi.
“Không. Ngược lại cơ.” Gale gỡ một chiếc lông ra khỏi tóc tôi. “Anh nghĩ... mình sẽ chẳng bao giờ cạnh tranh được với chuyện đó. Cho dù anh có bị đau đớn thế nào.” Anh xoay xoay chiếc lông giữa ngón trỏ và ngón cái. “Nếu cậu ấy không khá lên, anh chẳng thể có cơ hội nào. Em sẽ chẳng bao giờ bỏ cậu ấy được. Em sẽ luôn cảm thấy dằn vặt nếu ở bên anh.”
“Như vì anh nên em đã luôn cảm thấy dằn vặt khi hôn cậu ấy,” tôi nói.
Gale đăm đăm nhìn vào mắt tôi. “Nếu hồi ấy anh nghĩ đó là sự thật thì có lẽ anh sẽ gần như có thể chấp nhận được những chuyện khác.”
“Là thật đấy,” tôi thú nhận. “Nhưng những gì anh nói về Peeta cũng vậy.”
Gale kêu lên tức tối. Tuy thế, sau khi chúng tôi bỏ lũ ngỗng xuống mà tự giác trở vào rừng kiếm củi nhóm lửa buổi tối, tôi thấy mình được bao bọc trong vòng tay anh. Môi anh chạm qua những vết thâm tím đã mờ trên cổ tôi, dần lướt đến miệng tôi. Dù thương Peeta biết bao, đây chính là lúc mà trong thâm tâm tôi chấp nhận rằng cậu sẽ không bao giờ trở về với tôi nữa. Hay tôi sẽ chẳng bao giờ trở về với cậu. Tôi sẽ ở lại Quận 2 đén khi nó sụp đổ, tới Capitol giết Snow, rồi chết vì phiền muộn. Còn cậu sẽ chết trong cơn điên loạn và nỗi căm ghét tôi. Vì thế trong ánh ngày nhàn nhạt, tôi nhắm mắt lại hôn Gale để bù đắp cho tất cả những nụ hôn tôi đã nén giữ, bởi còn quan trọng gì nữa đâu, và bởi tôi cô đơn khôn cùng đến không chịu nổi.
Nguồn ebook:
https://www.luv-ebook.com
Sự đụng chạm, hương vị và hơi nóng của Gale nhắc tôi nhớ rằng ít nhất cơ thể mình vẫn còn sức sống, và trong thoáng lát cảm giác ấy thật dễ chịu. Tôi rũ sạch suy nghĩ và để mọi rung động lan khắp các thớ thịt, vui lòng thả lỏng bản thân. Khi Gale hơi rời ra, tôi nhích tới khép lại khoảng cách, nhưng rồi cảm thấy tay anh dưới cằm tôi. “Katniss à,” anh nói. Ngay khi tôi mở mắt ra, xung quanh như rời rạc. Đây không phải cánh rừng của chúng tôi hay ngọn núi của chúng tôi hay con đường của chúng tôi. Tay tôi tự động lần tới vết sẹo trên thái dương trái, nơi tôi cho là có liên quan tới sự rối loạn này. “Nào, hôn anh đi.” Bối rối, không chợp mắt, tôi cứ đứng đó khi anh ngả tới trước thoáng đặt môi anh lên môi tôi. Anh soi xét kỹ khuôn mặt tôi. “Em đang nghĩ gì vậy?”
“Em không biết,” tôi thì thầm đáp lại.
“Thế thì chẳng khác gì hôn người say cả. Không tính,” anh gượng cười. Anh bốc một ôm củi thả vào đôi cánh tay trống không của tôi, đưa tôi trở lại với hiện thực.
“Làm sao anh biết?” tôi nói, cốt để che giấu nỗi xấu hổ của mình. “Anh từng hôn người say rồi à?” Hồi ở Quận 12 Gale có lẽ đã hôn biết bao nhiêu cô gái. Chắn chắn anh không thiếu người đón nhận. Trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ về chuyện đó cả.
Anh chỉ lắc đầu. “Chưa. Nhưng có gì khó tưởng tượng đâu.”
“Thế anh chưa bao giờ hôn những cô gái khác hả?” tôi hỏi.
“Anh nói thế bao giờ. Em biết đấy, khi mình gặp nhau em mới chỉ mười hai tuổi. Lại còn mang nỗi đau thực sự. Ngoài đi săn với em thì đứng là anh còn có những trải nghiệm khác nữa,” anh vừa nói vừa vác củi lên.