phần của nó, tôi không biết được. Có khi ông thậm chí còn chẳng biết gì. Nhưng có người đứng sau chuyện này, một người rất quyền lực, và nếu bây giờ tôi đi đâu với ông, chắc chắn hậu quả sẽ là tôi bị bắt hoặc chết. Hoặc tệ hơn.” “Tôi rất mong được nghe anh nói, Ephraim. Bất kỳ điều gì anh cần nói. Tôi đứng trước mặt anh với tư cách một người đang nhận lỗi. Giờ tôi đã biết chúng ta đang vướng trong vòng kìm kẹp của một thứ gì đó mang tính hủy diệt đến từ thế giới khác.” “Không phải thế giới khác. Thế giới này.” Eph đóng nắp chai rượu brandy. Fet đang ở sau Barnes. “Bao lâu nữa thì họ vào?” anh hỏi. “Không lâu đâu,” Barnes đáp, lộ rõ vẻ hoài nghi với chuyên gia diệt chuột cao lớn mặc bộ áo liền quần bẩn thỉu. Barnes chuyển sự chú ý về lại Eph và bình rượu. “Giờ là lúc anh nên uống rượu à?” “Hơn bao giờ hết,” Eph nói. “Cứ tự phục vụ nếu muốn nhé. Tôi đề cử món bia đen.” “Nghe này, tôi biết anh đã trải qua nhiều…” “Những gì xảy ra với tôi không thật sự quan trọng, Everett. Đây không phải chuyện về tôi, vậy nên có kêu gọi cái tôi của tôi như thế nào chăng nữa thì ông cũng chẳng tiến được đến đâu đâu. Điều đang làm tôi lo ngại là những sự thật nửa vời này - hay tôi nên nói là những lời dối trá trắng trợn mới phải - đang được phát tán dưới sự bảo hộ của CDC. Giờ ông không phục vụ công chúng nữa sao, Everett? Chỉ phục vụ chính quyền của ông thôi?” Giám đốc Barnes cau mày. “Nhất thiết phải cả hai chứ.” “Nhu nhược,” Eph nói. “Vô lý. Thậm chí là tội ác.” “Đây là lý do tôi cần anh góp sức, Ephraim. Tôi cần kinh nghiệm trực quan của anh, chuyên môn của anh…” “Quá muộn rồi! Ít nhất ông cũng phải thấy được điều đó rồi chứ?” Barnes hơi lùi lại, để mắt đến Fet vì Fet khiến ông căng thẳng. “Anh đã
đúng về Bronxville. Chúng tôi đã phong tỏa nó rồi.” “Phong tỏa?” Fet nói. “Bằng cách nào?” “Hàng rào lưới.” Eph cười chua chát. “Hàng rào lưới ư? Chúa ơi, Everett. Đây chính xác là ý tôi muốn nói đấy. Ông đang phản ứng với nhận thức của công chúng về virus, thay vì với chính mối hiểm họa. Trấn an họ bằng hàng rào sao? Bằng một biểu tượng? Bọn chúng sẽ xé nát những hàng rào đó…” “Vậy hãy nói đi. Cho tôi biết tôi cần gì. Anh cần gì.” “Bắt đầu bằng việc tiêu hủy những cái xác. Đó là bước một.” “Tiêu hủy…? Anh biết tôi không thể làm thế.” “Vậy ông có làm gì khác cũng chẳng ích gì. Ông phải cử quân đội đến quét sạch nơi đó và loại bỏ từng người mang mầm bệnh. Rồi mở rộng chiến dịch xuống phía Nam, vào thành phố này, ra khắp Brooklyn và Bronx…” “Anh đang nói đến việc giết người hàng loạt đấy. Hãy nghĩ tới hình ảnh…” “Hãy nghĩ tới thực tế, Everett. Tôi là bác sĩ, cũng giống như ông. Nhưng bây giờ, đây là một thế giới mới.” Fet bước tránh ra, trở lại phía đầu quán, để mắt đến con phố. Eph nói, “Họ không muốn ông đưa tôi về để giúp đỡ. Họ muốn ông giao nộp tôi để có thể vô hiệu hóa tôi và những người tôi quen biết. Thứ này” - anh với lấy túi vũ khí, rút ra một cây kiếm bạc - “giờ là dao mổ của tôi. Cách duy nhất để chữa lành các sinh vật này là giải thoát chúng - và phải, điều này có nghĩa là sự tàn sát hàng loạt. Không phải chữa bệnh. Ông muốn giúp đỡ, thực sự giúp đỡ sao? Vậy thì hãy lên ti vi và nói với họ điều đó. Nói với họ sự thật.” Barnes nhìn Fet đang ở phía trước. “Giờ anh đang đi với ai vậy hả? Tôi cứ tưởng sẽ gặp anh cùng bác sĩ Martinez.” Có gì đó trong cách Barnes nhắc đến tên Nora khiến Eph thấy lạ. Nhưng anh không nghĩ sâu xa hơn được. Fet vội vã quay lại từ chỗ cửa sổ phía trước. “Họ đến rồi,” Fet nói. Eph đánh bạo đến gần đủ để nhìn thấy mấy chiếc xe van đang dừng lại, phong tỏa con phố từ mọi hướng. Fet đi qua anh, chộp lấy vai Barnes, dẫn ông tới một cái bàn phía sau và để ông ngồi trong góc. Eph quàng túi thể thao qua vai và đưa cái túi kéo cho Fet. “Xin anh đấy,” Barnes nói. “Tôi cầu xin anh. Cả hai anh. Tôi có thể bảo vệ các anh.”
“Nghe này,” Fet nói. “Ông vừa chính thức trở thành con tin đấy, thế nên câm miệng đi.” Anh nói với Eph, “Giờ thì sao? Làm sao cầm chân bọn họ đây? Đèn UVC không có tác dụng với FBI đâu.” Eph nhìn quanh quán bia cũ kỹ để tìm câu trả lời. Tranh ảnh và đủ các thứ tem vé tạp nham của một thế kỷ rưỡi treo trên tường và xếp bừa bộn trên mấy cái giá sau quầy bar. Chân dung Lincoln, Garfield, McKinley và tượng bán thân của JFK - tất cả những vị tổng thống bị sát hại. Gần đó, giữa một đống đồ cổ như súng trường, cốc đựng kem cạo râu và các bản cáo phó đóng khung, có treo một con dao găm nhỏ bằng bạc. Gần đấy, một bảng hiệu: BỌN TA ĐÃ Ở ĐÂY TRƯỚC KHI CÁC NGƯƠI RA ĐỜI. Eph lao ra sau quầy bar. Anh hất lớp mùn cưa phủ trên cái khoen tròn gắn vào sàn gỗ mòn vẹt. Fet, xuất hiện bên cạnh Eph, giúp anh nâng cánh cửa sập lên. Mùi bốc lên đã cho họ biết tất cả những gì cần thiết. Amoniac. Hăng và còn mới. Vẫn ngồi trên ghế trong góc, giám đốc Barnes nói, “Họ sẽ vào theo anh thôi.” “Cứ từ cái mùi này mà nói, tôi không khuyến khích việc đó đâu,” Fet nói, bắt đầu đi xuống trước. “Everett này,” Eph nói, bật đèn Luma lên trước khi bước xuống. “Phòng khi vẫn còn có gì mơ hồ, thì để tôi nói cho rõ nhé. Tôi bỏ việc.” Eph theo Fet xuống dưới, cây đèn chiếu ánh sáng màu chàm siêu thực soi rọi khu vực trữ đồ dưới quầy bar. Fet với lên đóng cánh cửa trên đầu. “Để đó đi,” Eph lầm bầm. “Nếu ông ấy hèn hạ đúng như tôi nghĩ thì giờ đã chạy ra cửa rồi.” Fet nghe theo, cửa sập vẫn để mở. Trần thấp, đủ thứ lặt vặt tích từ nhiều thập kỷ - các thùng vại cổ, vài chiếc ghế gãy, những chồng giá để cốc trống trơn và một cái máy rửa bát công nghiệp cũ - thu hẹp lối đi. Fet chỉnh lại mấy cái dây chun dày bao quanh mắt cá và cổ tay áo khoác - một mánh anh đã chật vật học được từ những ngày tháng đặt bẫy các căn hộ đầy gián. Anh đưa mấy cái cho Eph. “Cho bọn giun,” anh vừa nói vừa kéo khóa áo khoác. Eph băng qua sàn đá, mở cánh cửa hông dẫn đến một căn phòng trữ đá ấm áp, cũ kỹ. Phòng trống.
Tiếp đến là một cánh cửa gỗ với tay nắm cổ hình bầu dục. Lớp bụi trên sàn phía trước cửa đã bị quét thành hình quạt. Fet gật đầu ra hiệu, và Eph giật cửa mở bung ra. Đừng chần chừ. Đừng suy nghĩ. Eph đã học được điều đó. Đừng bao giờ cho chúng thời gian tập hợp và lường trước, vì một trong số chúng sẽ hy sinh bản thân để đám còn lại có thể có cơ hội tấn công ta. Khi đối mặt với những vòi chích có thể vươn dài mét rưỡi, hai mét, cùng khả năng nhìn xuyên đêm phi thường của chúng, ta tuyệt đối đừng bao giờ dừng di chuyển cho đến khi tiêu diệt được con quái vật cuối cùng. Cổ là điểm yếu của chúng - cũng như họng là điểm yếu của nạn nhân chúng, cắt đứt cột sống là ta phá hủy được thân thể và thứ sống trong đó. Khiến chúng mất một lượng lớn máu trắng cũng sẽ thu được kết quả tương tự, dù việc rút máu nguy hiểm hơn nhiều, vì những con giun mao mạch trốn thoát vẫn tiếp tục sống bên ngoài cơ thể đó, tìm kiếm những cơ thể người mới để xâm chiếm. Bảo sao Fet lại thích buộc cổ tay áo. Eph tiêu diệt hai con đầu tiên bằng phương pháp đã chứng tỏ là hiệu quả nhất: dùng đèn UVC như cây đuốc để đẩy lùi con thú, cô lập và dồn nó vào tường, sau đó tiến lại gần và vung kiếm tung một đòn ân sủng. Vũ khí bạc làm chúng bị thương và gây ra cho ma cà rồng một thứ tương tự nỗi đau của con người, còn ánh sáng tia cực tím như ngọn lửa thiêu đốt ADN của chúng. Fet dùng súng bắn đinh bạc vào mặt chúng, khiến chúng mù mắt, hoặc nếu không thì cũng làm chúng mất phương hướng, sau đó nhắm xuyên qua cổ họng căng phồng của chúng. Những con giun èo oặt trườn khắp sàn nhà ướt. Eph giết một ít bằng đèn UVC , trong khi những con khác tuyệt mạng dưới gót ủng giẫm mạnh của Fet. Sau khi giậm thình thịch lên vài con, Fet xúc chúng vào một cái lọ nhỏ cất trong túi kéo. “Cho ông già,” anh nói, trước khi tiếp tục công việc giết chóc. Trong lúc hối hả tiến vào căn phòng kế tiếp, họ nghe thấy vô số tiếng bước chân và giọng nói trong quán bar phía trên. Một con bổ nhào vào Eph từ bên cạnh - trên người vẫn đeo chiếc tạp dề pha chế - mắt nó mở to, hau háu. Eph chém sấp tay, đẩy con vật lùi lại bằng ánh đèn. Eph đang học cách phớt lờ khuynh hướng nhân từ của người bác sĩ trong anh. Con ma cà rồng nghiến răng đến tội ở trong góc khi Eph tiến tới kết liễu nó. Hai con khác, có thể là ba, đã vọt qua cánh cửa tiếp theo ngay khi thấy ánh đèn màu chàm đang tới. Một nhóm vẫn ở lại, núp dưới những cái kệ gãy, sẵn
sàng tấn công. Fet bước tới cạnh Eph, tay cầm đèn. Eph tiến đến chỗ bọn ma cà rồng, nhưng Fet đã chụp cánh tay anh. Trong khi Eph thở dốc, chuyên gia diệt chuột bọ hành động một cách đầy chuyên nghiệp, tập trung, không hề mệt mỏi. “Đợi đã,” Fet nói. “Để chúng cho mấy người bạn FBI của Barnes đi.” Nhận thấy ưu điểm trong suy nghĩ của Fet, Eph lùi lại, đèn vẫn chĩa vào chúng. “Giờ thì sao?” “Mấy con kia chạy rồi. Có lối ra đấy.” Eph nhìn cánh cửa kế tiếp. “Anh nên đúng thì hơn,” anh nói. Fet dẫn đường dưới lòng đất, lần theo dấu vết nước tiểu khô đang phát sáng dưới đèn Luma. Mấy căn phòng giờ đã nhường chỗ cho dãy hầm chứa, nối với nhau bởi các đường hầm cũ đào bằng tay. Dấu amoniac kéo về nhiều hướng khác nhau, Fet chọn lấy một đường và rẽ ở giao lộ. “Tôi thích việc này,” anh nói, giậm chân để hất phân khỏi ủng. “Vụ lần theo dấu vết này, thật giống y đi săn chuột. Có đèn UVC thì dễ hơn.” “Nhưng sao chúng biết mấy con đường này?” “Chúng bận rộn suốt. Khám phá, lục lọi. Anh chưa bao giờ nghe đến hệ thống Volstead à?” “Volstead? Kiểu như đạo luật Volstead hả? Luật cấm rượu?” “Nhà hàng, quán bar, cửa hàng rượu lậu, tất cả đều phải mở hầm dưới mặt đất. Đây là một thành phố cứ tự xây đè lên chính mình. Nối những căn nhà và hầm chứa cổ dưới đó bằng các đường hầm, cống dẫn nước và ống nước hạ tầng cũ, có người còn nói ta có thể di chuyển từ khối nhà này đến khối nhà kia, từ khu phố này sang khu phố nọ, hoàn toàn dưới lòng đất, giữa hai điểm bất kỳ trong thành phố.” “Nhà của Bolivar,” Eph nói, nhớ đến ngôi sao nhạc rock nằm trong số bốn người sống sót của chuyến bay 753. Tòa nhà của anh ta là nhà cũ của một tên buôn rượu lậu, bên dưới có một hầm rượu gin bí mật nối với đường tàu điện ngầm. Eph kiểm tra phía sau trong lúc họ đi qua một đường hầm nhánh. “Sao anh biết được mình đang đi đâu?” Fet chỉ vào một dấu hiệu du mục nữa, có vẻ được cào lên mặt đá bởi những cái móng vuốt cứng của một trong những sinh vật kia. “Giờ chúng ta đang
tiến tới thứ gì đó,” anh nói. “Đó là tất cả những gì tôi có thể biết chắc chắn. Nhưng tôi dám cá ga Ferry Loop cách đây không quá một hai khối nhà đâu.” Nazareth, Pennsylvania AUGUSTIN… Augustin Elizalde đứng dậy. Cậu bối rối đứng trong bóng tối đặc quánh. Một bóng tối đen như mực tưởng như có thể chạm tay vào, không có một chút ánh sáng nào. Như thể vũ trụ không có các vì tinh tú. Cậu chớp mắt để chắc là chúng vẫn đang mở - và đúng vậy thật. Không có gì thay đổi. Đây là cái chết à? Chẳng nơi nào có thể tối hơn. Hẳn là thế. Cậu chết ngỏm rồi. Hoặc… có lẽ chúng đã biến đổi cậu. Phải chăng giờ cậu đã là ma cà rồng, cơ thể cậu đã bị chiếm giữ, nhưng phần người cũ này của cậu đang bị giam trong bóng tối tâm trí cậu, như một tên tù nhân bị nhốt trên gác mái? Có thể sự lạnh lẽo mà cậu cảm nhận được và độ cứng của sàn nhà dưới chân chỉ là những mánh lới bù đắp do não cậu tạo ra. Cậu đã mãi mãi bị giam cầm bên trong đầu mình. Cậu hơi cúi xuống, cố gắng xác minh sự tồn tại của mình qua cử động và cảm giác. Cậu dần thấy chóng mặt do thiếu tiêu điểm thị giác nên dang rộng chân ra. Cậu vươn người nhảy lên, nhưng không sờ tới được trần nhà phía trên. Một cơn gió nhẹ hiếm hoi thổi lay áo cậu. Nó mang mùi đất. Mùi mặt đất. Cậu đang ở dưới mặt đất. Bị chôn sống. Augustin… Lại nữa. Giọng mẹ gọi cậu như trong mơ. “Mẹ?” Giọng cậu dội lại, vang vọng đến giật mình. Cậu nhớ lại hình ảnh mẹ khi cậu bỏ đi: ngồi dưới đáy tủ đồ trong phòng ngủ, dưới một chồng quần áo lớn. Ngước nhìn cậu chằm chằm với ánh mắt hau háu của một con mới bị biến đổi. Ma cà rồng, ông già đã nói như vậy. Gus quay người lại, cố đoán xem giọng nói có lẽ phát ra từ hướng nào. Cậu chẳng biết làm gì khác ngoài đi theo giọng nói này. Cậu đi đến chỗ một bức tường đá, sờ lên mặt đá nhẵn nhụi cong dần để lần
đường. Hai lòng bàn tay vẫn còn đau chỗ bị mảnh thủy tinh cắt vào - mảnh vỡ cậu đã cầm khi giết (không - hủy diệt) con ma cà rồng từng là anh mình. Cậu dừng lại sờ hai cổ tay và nhận ra chiếc còng tay cậu đeo lúc trốn khỏi sự giam cầm của cảnh sát - chiếc còng được những người thợ săn cắt xích - giờ đã biến mất. Những người thợ săn đó. Hóa ra chính họ cũng là ma cà rồng, xuất hiện trên con phố ở khu Morningside Heights và chiến đấu với các ma cà rồng khác như hai phe trong một trận chiến băng đảng. Nhưng các thợ săn thì được trang bị kỹ càng. Họ có vũ khí, và họ phối hợp với nhau. Họ lái xe. Họ không phải cỗ máy tấn công khát máu đơn thuần như những con Gus đã đối mặt và tiêu diệt. Điều cuối cùng Gus nhớ được là họ ném cậu vào phía sau một chiếc SUV. Nhưng… sao lại là cậu? Lại một luồng gió nữa, như hơi thở cuối cùng của mẹ thiên nhiên, phả vào mặt cậu, và cậu đi theo nó - hy vọng mình đang đi đúng hướng. Bức tường kết thúc ở một khúc ngoặt đột ngột. Cậu lần tay về phía đối diện, bên trái cậu, và cũng thấy y như vậy: kết thúc tại một khúc ngoặt, ở giữa là khoảng trống. Hệt như một ngưỡng cửa. Gus đi qua, và tiếng chân vang vọng mới cho cậu biết căn phòng này rộng hơn và trần cao hơn những căn phòng còn lại. Ở đây có một thứ mùi thoang thoảng, có vẻ quen thuộc với cậu sao đó. Cậu cố nhớ lại nó. Nhớ ra rồi. Dung dịch tẩy rửa cậu từng phải sử dụng trong phòng giam để bảo dưỡng chi tiết thiết bị. Đó là amoniac. Chẳng đủ để xộc vào mũi cậu. Rồi có gì đó bắt đầu xảy ra. Cậu tưởng tâm trí mình đang giở trò, nhưng rồi nhận ra rằng, đúng vậy, ánh sáng đang tràn vào phòng. Sự chậm chạp của ánh sáng và sự bất định nói chung của tình huống này khiến cậu phát hoảng. Hai cây đèn ba chân cách xa nhau, ở gần những bức tường đằng xa, đang dần tiến tới, xóa nhòa bóng tối dày đặc. Gus kéo tay vào sát người theo kiểu của những võ sĩ võ thuật tổng hợp mà cậu xem trên mạng. Ánh sáng ngày càng rực rỡ, dù chậm đến độ gần như chẳng nhận thấy được. Nhưng hai đồng tử của cậu đã dãn nở nhiều bởi bóng tối, võng mạc cậu bị phơi ra, đến mức bất kỳ nguồn sáng nào cũng sẽ khiến chúng phản ứng. Ban đầu cậu không thấy nó. Thứ đang ở ngay trước mặt cậu, cách cậu không quá ba hay bốn mét rưỡi, nhưng đầu và chân tay nó trắng bệch, im lìm và nhẵn nhụi đến nỗi mắt cậu tưởng chúng là một phần bức tường đá.
Thứ duy nhất nổi bật là hai cái hố tối tăm đối xứng. Không phải hố đen, chỉ gần đen thôi. Màu đỏ đặc sệt. Đỏ máu. Nếu là mắt thì chúng không hề chớp. Cũng chẳng nhìn chằm chằm. Chúng nhìn Gus bằng vẻ vô cảm lạ thường. Cặp mắt này vô hồn như hai hòn đá đỏ. Đôi mắt đẫm máu đã chứng kiến tất cả. Gus thoáng nhìn thấy đường nét chiếc áo choàng trên người sinh vật đó, đang hòa vào bóng tối như một lỗ hổng bên trong một lỗ hổng. Nếu cậu thấy một cách chính xác, thì sinh vật đó đang đứng sừng sững. Nhưng sự tĩnh lặng của thứ này lại nhuốm vẻ chết chóc. Gus không nhúc nhích. “Gì đây?” cậu nói, giọng nghe hơi buồn cười, để lộ nỗi sợ của cậu. “Mày nghĩ tối nay sẽ ăn món Mexico à? Nghĩ lại đi là vừa. Không thì cứ làm tới rồi mắc nghẹn đi, đồ khốn.” Nó toát lên một sự im ắng và tĩnh lặng đến độ Gus như thể đang nhìn một bức tượng mặc quần áo. Hộp sọ nó trọc lốc và nhẵn nhụi, thiếu cả sụn tai. Giờ Gus đã nhận thấy gì đó, nghe thấy - hay đúng hơn là cảm thấy - một rung động như tiếng o o. “Thế nào?” cậu nói với đôi mắt vô hồn. “Còn chờ gì nữa? Mày thích vờn thức ăn trước khi xực à?” Cậu thu hai nắm đấm vào sát mặt hơn. “Với món chalupa (4) này thì đừng hòng nhé, đồ xác sống chết tiệt.” Một thứ gì đó, không phải chuyển động, thu hút sự chú ý của cậu về bên phải - và cậu thấy một con nữa. Đứng đó như một phần bức tường đá, một cái bóng thấp hơn con đầu tiên, mắt có hình dạng khác nhưng cũng vô cảm y hệt. Và rồi, phía bên trái - dần dần lọt vào tầm mắt Gus - là con thứ ba. Gus, vốn chẳng xa lạ gì với phòng xử án, có cảm giác cậu đang trình diện trước ba thẩm phán ngoài hành tinh bên trong một căn phòng đá. Cậu sắp phát điên, nhưng cậu phản ứng bằng cách tiếp tục giở võ mồm. Tiếp tục ra vẻ giang hồ. Những vị thẩm phán cậu từng đối mặt gọi đó là “sự xúc phạm quan tòa”. Gus gọi nó là “sự đương đầu”. Việc cậu làm khi cảm thấy mình đang bị coi thường. Khi cảm thấy mình đang bị đối xử không phải như một con người độc nhất mà như một mối phiền phức, một trở ngại ngáng đường ai đó. Bọn ta sẽ nói ngắn gọn. Gus vung tay lên hai thái dương. Không phải hai tai: bằng cách nào đó, giọng nói này ở trong đầu cậu. Đến từ cùng phần não bộ phát ra cuộc độc thoại nội tâm của cậu - như thể một trạm radio bất hợp pháp đã bắt đầu phát
trên tần số của cậu. Ngươi là Augustin Elizalde. Cậu siết chặt đầu nhưng giọng nói vẫn ở nguyên trong đó. Không có nút tắt. “Phải, tao biết tao là ai. Mày là đứa quái nào? Mày là thứ quái gì? Và làm sao mày vào được bên trong…” Ngươi ở đây không phải để làm thức ăn. Bọn ta có sẵn vô khối vật nuôi cho mùa tuyết rồi. Vật nuôi? “Ồ, ý mày là con người à?” Gus thỉnh thoảng có nghe tiếng la hét, những giọng nói đau đớn vang vọng khắp hang, nhưng cậu cứ tưởng chúng là những tiếng kêu trong mơ. Phương thức nuôi thả đã đáp ứng được nhu cầu của bọn ta hàng ngàn năm nay. Những con thú ngu dốt cung cấp nguồn thức ăn dồi dào. Thỉnh thoảng lại có một con tỏ ra tháo vát lạ thường. Gus gần như chẳng thèm nghe, chỉ muốn chúng vào thẳng vấn đề. “Vậy… sao hả, ý mày là bọn mày sẽ không cố biến tao thành… một đứa như bọn mày à?” Dòng máu của bọn ta tinh khiết và danh giá. Được nằm trong di sản của bọn ta là một món quà. Tuyệt đối độc nhất và rất, rất cao giá. Gus chẳng hiểu gì. “Nếu bọn mày không định uống máu tao, vậy thì bọn mày muốn cái quái gì?” Bọn ta có một đề nghị. “Một đề nghị?” Gus đập vào một bên đầu như thể nó là một thiết bị đang trục trặc. “Hẳn là tao sẽ nghe mày nói thôi, trừ phi tao còn lựa chọn khác.” Bọn ta cần một tay sai ban ngày. Một thợ săn. Bọn ta là chủng loài sống về đêm, còn ngươi sống vào ban ngày. “Sống vào ban ngày?” Nhịp sinh học nội sinh của các ngươi tương xứng trực tiếp với vòng sángtối của thứ các ngươi gọi là một ngày hai tư tiếng. Thời gian sinh học bẩm sinh của giống loài các ngươi thích nghi với thời gian biểu siêu thực của hành tinh này, ngược lại với bọn ta. Các ngươi là sinh vật mặt trời. “Cái quái gì thế?” Bọn ta cần ai đó có thể đi lại tự do trong thời gian ban ngày. Người có thể chịu đựng được khi phơi mình dưới mặt trời và thực ra là lợi dụng sức mạnh
của nó, cũng như bất cứ vũ khí nào khác tùy ý, để tàn sát những kẻ ô uế. “Tàn sát những kẻ ô uế? Bọn mày là ma cà rồng, đúng chứ? Ý mày là mày muốn tao giết đồng loại của bọn mày sao?” Không phải đồng loại của bọn ta. Dòng giống ô uế này đang lan bừa bãi thông qua con người các ngươi - đây là một tai họa. Chuyện này đang vượt ngoài tầm kiểm soát. “Bọn mày mong đợi gì chứ?” Bọn ta không dự phần trong chuyện này. Đứng trước ngươi đây là những sinh vật cực kỳ danh giá và khôn ngoan. Căn bệnh lây nhiễm này biểu trưng cho sự vi phạm một thỏa thuận đình chiến - một sự cân bằng - đã kéo dài hàng bao thế kỷ. Đây là một sự lăng mạ rõ ràng. Gus lùi lại vài phân. Thực ra, cậu nghĩ bây giờ cậu đang bắt đầu hiểu ra rồi. “Có kẻ đang cố xâm nhập vào lãnh thổ của bọn mày.” Bọn ta không sinh sản theo kiểu ngẫu nhiên, hỗn loạn như loài người. Kiểu sinh sản của bọn ta là một quá trình cân nhắc thận trọng. “Bọn mày là lũ kén ăn.” Bọn ta muốn gì thì ăn nấy. Thức ăn là thức ăn. Bọn ta vứt bỏ nó khi đã no nê. Tràng cười trào lên trong ngực Gus, suýt khiến cậu mắc nghẹn. Nói về con người như thể họ được bán một đô ba người ở khu chợ ngay góc đường vậy. Ngươi thấy chuyện đó buồn cười sao? “Không. Ngược lại chứ. Thế nên tao mới cười.” Khi ăn xong táo, ngươi có vứt lõi đi không? Hay ngươi giữ hạt lại để trồng thêm cây? “Chắc là tao vứt đi.” Thế còn chai nhựa hộp nhựa? Khi ngươi đã dùng hết các thứ bên trong rồi? “Được rồi. Tao hiểu rồi. Mày uống máu rồi vứt cái chai người đi. Điều tao muốn biết là đây này. Tại sao lại là tao?” Vì ngươi có vẻ có năng lực. “Sao mày đoán được thế?” Hồ Sơ tội phạm của ngươi chẳng hạn. Ngươi được bọn ta chú ý sau khi bị bắt vì giết người ở Manhattan. Gã béo khỏa thân điên cuồng phá phách khắp Quảng trường Thời đại. Gã
đã tấn công một gia đình ở đó, và khi ấy Gus đại loại là, “Đừng hòng làm thế ở thành phố của tao, đồ dị hợm.” Dĩ nhiên, bây giờ, cậu ước gì mình đã lùi ra xa như những người còn lại. Rồi ngươi trốn thoát khỏi cảnh sát, giữa chừng còn tàn sát thêm mấy kẻ ô uế nữa. Gus nhăn mặt. “Kẻ ‘ô uế’ đó là chiến hữu của tao đấy. Sao mày biết được tất cả những chuyện đó trong khi mày sống dưới chỗ bẩn thỉu này?” Hãy nhớ rõ là bọn ta được kết nối với thế giới con người ở cấp độ tối thượng. Nhưng, nếu sự cân bằng vẫn được duy trì, bọn ta không thể chịu được khi bị phơi ra ngoài sáng - đây chính xác là điều chủng loài ô uế này đang đe dọa bọn ta. Chính vì thế mới cần đến ngươi. “Một cuộc chiến băng đảng. Chuyện đó thì tao hiểu. Nhưng mày đã bỏ qua một điều siêu quan trọng. Chẳng hạn, việc quái gì tao phải giúp bọn mày?” Ba lý do. “Tao đang đếm đây. Tốt nhất là đưa lý do nào hay hay vào nhé.” Đầu tiên, ngươi sẽ được sống sót rời khỏi căn phòng này. “Tao sẽ ghi nhận lý do đó.” Thứ hai, thành công trong phi vụ này sẽ khiến ngươi trở nên giàu có trên cả mức tưởng tượng của ngươi. “Hừm. Tao không biết nữa. Tao có thể kỳ vọng cao lắm.” Lý do thứ ba… đang ở ngay đằng sau ngươi. Gus quay người. Đầu tiên cậu thấy một thợ săn, một trong những ma cà rồng đáng sợ đã lôi cậu ra khỏi đường. Đầu nó được chụp trong một cái áo trùm đầu đen, đôi mắt đỏ sáng rực. Bên cạnh thợ săn là một con ma cà rồng với ánh mắt háu đói xa xăm mà giờ Gus đã thấy quen thuộc. Bà thấp người, nặng cân, tóc đen rối bù, tròng một chiếc váy mặc ở nhà rách rưới, phần trên cổ họng phồng lên bởi cái vòi chích ma cà rồng bên trong. Ở chân cổ váy chữ V là một hình thập ác màu đen đỏ cách điệu công phu, một hình xăm bà vẫn lấy làm hối hận vì đã xăm