hồi vài tuần trước, hồi tháng trước. Cảnh sát và nhân viên Cơ quan Quản lý Cảng trang phục màu cam hướng dẫn đám đông bị đàn áp, duy trì trật tự trong lúc đưa họ vào trong. Mọi người xuống sảnh lớn bằng các thang cuốn đã dừng hoạt động. Đám đông với những đôi chân không ngơi nghỉ đã cho phép nhà ga giữ vững danh hiệu là một trong những thành lũy cuối cùng của loài người trong một thành phố ma cà rồng - kháng cự lại sự xâm chiếm của chúng dù đang ở cách lòng đất không xa. Eph chắc chắn hầu hết, nếu không phải là tất cả, các đoàn tàu đều đã bị hoãn, nhưng chỉ cần chúng vẫn hoạt động là đủ rồi. Sự hối hả của những con người sợ hãi khiến anh thấy an tâm. Nếu tàu dừng hoạt động thì nơi đây đã thành bạo loạn rồi. Chỉ còn một số ít đèn trần hoạt động. Không có cửa hàng nào còn mở, các giá kệ đều trống trơn, các thông báo viết tay ĐÓNG CỬA ĐẾN KHI CÓ THÔNG BÁO MỚI dán đầy trên các cửa sổ. Tiếng gầm của đoàn tàu đang tiến vào trên một sân ga ở tầng dưới giúp Eph yên lòng hơn trong lúc anh quàng túi của Nora và bà Martinez lên vai, còn Nora thì lo đỡ cho mẹ cô khỏi ngã. Sảnh lớn kẹt cứng, nhưng anh vẫn thấy mừng vì sức ép của đám đông; anh nhớ cảm giác được làm một sinh thể bị đám người vây quanh. Lính Vệ binh Quốc gia đợi ở phía trước, vẻ u sầu và kiệt sức. Tuy vậy, họ vẫn săm soi từng khuôn mặt lướt qua, và Eph thì vẫn đang là kẻ bị truy nã. Thêm nữa, anh đã nhét khẩu súng đạn bạc của Setrakian vào sau cạp quần, thế nên Eph chỉ đi cùng họ đến chỗ mấy cây cột lớn màu xanh, chỉ tay về cổng chờ của Amtrak ở khúc ngoặt. Mariela Martinez trông hoảng sợ và thậm chí còn phần nào tức giận. Đám đông khiến bà bực mình. Mẹ của Nora, một cựu nhân viên chăm sóc sức khỏe tại gia, hai năm trước đã được chẩn đoán mắc chứng Alzheimer giai đoạn đầu. Đôi lúc bà nghĩ Nora mới mười sáu tuổi, điều này thường dẫn tới các cuộc tranh cãi xem ai mới phải chăm sóc cho ai. Tuy nhiên, hôm nay, bà lại im lặng, choáng ngợp và đắm chìm trong suy nghĩ, lạc lõng và lo lắng vì phải xa nhà. Không còn lời qua tiếng lại với người chồng đã khuất; không còn nằng nặc đòi ăn diện để đi dự tiệc. Bà mặc áo mưa dài bên ngoài bộ váy ở
nhà màu vàng nghệ, mái tóc muối tiêu tết thành búi dày thả nặng nề sau lưng. Bà vừa gặp đã thích Zack và nắm tay thằng bé suốt quãng đường, khiến Eph rất vui kể cả khi lòng đau như cắt. Eph quỳ gối xuống trước mặt con trai. Thằng bé nhìn đi chỗ khác, như thể không muốn làm điều này, không muốn chào tạm biệt. “Con giúp cô Nora chăm sóc bà Martinez nhé?” Zack gật đầu. “Sao lại phải là trại nữ sinh ạ?” “Vì cô Nora là con gái và cô ấy từng đến đó. Sẽ chỉ có ba người ở đó thôi.” “Cả bố nữa chứ”, Zack nói vội. “Khi nào bố đến?” “Sớm thôi, bố hy vọng vậy.” Eph đặt hai tay lên vai Zack. Zack giơ tay lên nắm chặt cẳng tay Eph. “Bố hứa nhé?” “Sớm hết mức có thể.” “Đó không phải lời hứa.” Eph siết chặt vai thằng bé, nói dối. “Bố hứa.” Zack không tin, Eph dám chắc như thế. Anh cảm nhận được Nora đang nhìn xuống hai người họ. Eph nói, “Ôm bố một cái nào.” “Tại sao?” Zack nói, hơi lùi lại. “Con sẽ ôm bố khi gặp bố ở Pennsylvania.” Eph thoáng cười. “Vậy thì ôm một cái để cổ vũ bố đi.” “Con không hiểu tại sao…” Eph kéo thằng bé lại gần, ôm nó thật chặt trong khi đám đông lướt qua họ. Thằng bé vùng vẫy, nhưng không thật gắng sức, rồi Eph hôn lên má nó thả nó ra. Eph đứng dậy và Nora chen lên phía trước anh, khẽ đẩy Eph lùi lại hai bước. Đôi mắt nâu của cô đầy mãnh liệt, nhìn thẳng vào mắt anh. “Giờ nói cho em biết đi. Anh đang định làm gì thế?” “Anh định tạm biệt em.” Cô đứng sát lại, như một người tình đang nói lời giã biệt, chỉ có điều khớp đốt ngón tay cô ấn thẳng vào hõm xương ức anh và xoắn lại như đang vặn ốc. “Sau khi bọn em đi… anh định làm gì? Em muốn biết.” Eph nhìn qua vai cô về phía Zack, lúc này đang đứng với mẹ Nora, nghiêm túc nắm tay bà. Eph nói, “Anh định tìm cách dừng chuyện này lại. Em nghĩ
sao?” “Em nghĩ đã quá muộn rồi, và anh biết điều đó. Đi cùng bọn em đi. Nếu anh đang làm chuyện này vì ông già - em cũng cảm thấy giống như anh về ông ấy. Nhưng kết thúc rồi, cả hai ta đều biết mà. Đi với bọn em đi. Ta sẽ tập hợp lại ở đó. Ta sẽ nghĩ ra bước kế tiếp. Setrakian sẽ hiểu thôi.” Eph cảm thấy lực kéo của cô lớn hơn nỗi đau khi khớp ngón tay cô đè vào xương ức của anh. “Ta vẫn còn một cơ hội ở đây,” anh nói. “Anh tin là vậy.” “Chúng ta” - cô đảm bảo sao cho anh thấy được cô đang nói tới hai người họ - “cũng vẫn còn cơ hội, nếu giờ cả hai ta cùng đi khỏi đây.” Eph kéo cái túi cuối cùng xuống khỏi vai và quàng nó lên vai cô. “Túi vũ khí,” anh nói. “Phòng trường hợp em gặp rắc rối.” Những giọt nước mắt giận dữ ướt đẫm mắt cô. “Anh nên biết là nếu rốt cuộc anh làm chuyện ngu ngốc gì ở đây, nhất định em sẽ ghét anh mãi mãi.” Anh gật đầu. Cô hôn môi anh, vòng tay ôm anh. Tay cô sờ thấy báng súng ở thắt lưng anh, và mắt cô tối sầm lại, cô ngả đầu ra sau để dò xét nét mặt anh. Trong một thoáng, Eph những tưởng cô sẽ giật nó ra và tước nó khỏi anh, nhưng thay vào đó, cô lại tiến sát vào, rướn người áp lên tai anh, má ướt nhẹp nước mắt. Cô thì thầm, “Chưa gì em đã ghét anh rồi.” Cô lùi ra, không nhìn anh mà kéo Zack và mẹ cô lại rồi dẫn họ đến chỗ bảng thông báo giờ khởi hành. Eph đứng đợi, nhìn Zack bước đi, thằng bé quay đầu lại tìm anh khi họ đến khúc rẽ. Eph giơ tay cao lên vẫy vẫy - nhưng thằng bé không thấy anh. Khẩu Glock nhét trong thắt lưng Eph bỗng có vẻ nặng hơn. Bên trong trụ sở cũ của Dự án Canary ở góc đại lộ 11 và phố 27, giám đốc Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống Bệnh dịch, bác sĩ Everett Barnes, đang chợp mắt trên chiếc ghế trong văn phòng cũ của Ephraim Goodweather. Ông nghe thấy tiếng chuông điện thoại, nhưng nó vẫn chưa đủ để dựng ông dậy. Phải đến khi một đặc vụ FBI đặt tay lên vai ông thì ông mới tỉnh. Ông ngồi dậy, rũ cơn buồn ngủ, cảm thấy tỉnh táo lại. “Washington?” ông đoán. Đặc vụ lắc đầu. “Goodweather.”
Barnes ấn cái nút đang chớp sáng trên chiếc điện thoại để bàn và cầm ống nghe lên. “Ephraim? Anh đang ở đâu?” “Ga Perm. Bốt điện thoại.” “Anh ổn chứ?” “Tôi vừa cho con trai lên tàu rời thành phố.” “Ừ?” “Tôi sẵn sàng góp sức rồi.” Barnes nhìn viên đặc vụ và gật đầu. “Tôi rất nhẹ nhõm khi nghe vậy.” “Tôi muốn gặp riêng ông.” “Cứ ở yên đó, tôi lên đường ngay.” Ông gác máy và người đặc vụ đưa ông chiếc áo khoác. Barnes mặc nguyên bộ đồng phục Hải quân. Họ ra khỏi văn phòng chính và xuống cầu thang ra đường, nơi chiếc SUV đen của bác sĩ Barnes đang đỗ. Barnes leo vào ghế hành khách và viên đặc vụ nổ máy. Cú đòn đầu tiên đến vô cùng đột ngột. Barnes không biết chuyện gì đang xảy ra. Không phải với ông - mà với đặc vụ FBI. Anh ta đổ người về phía trước, cằm ấn xuống còi xe. Anh ta cố giơ hai tay lên, và cú đòn thứ hai đến - từ ghế sau. Một bàn tay đang cầm khẩu súng lục. Phải thêm một cú đòn nữa thì viên đặc vụ mới gục hẳn, sụp cả người vào cửa xe. Kẻ tấn công ra khỏi ghế sau và mở cửa bên phía tài xế, kéo anh chàng bất tỉnh ra ngoài ném lên vỉa hè như một túi quần áo chưa giặt to tướng. Ephraim Goodweather nhảy vào ghế tài xế và đóng sầm cửa lại. Barnes mở cửa bên mình ra, nhưng Eph kéo ông lại vào trong, ấn khẩu súng vào má trong đùi Barnes thay vì đầu ông. Chỉ bác sĩ hay có lẽ binh lính mới biết ta có thể sống sót nếu bị thương ở đầu hoặc cổ, nhưng một phát đạn vào động mạch đùi chắc chắn sẽ kết liễu ta. “Đóng lại,” Eph nói. Barnes làm theo. Eph đã lái chiếc SUV đi và đang phóng đến phố 27. Barnes cố vặn người tránh khẩu súng lục ở đùi. “Xin anh đấy, Ephraim. Hãy nói chuyện…” “Tốt! Ông bắt đầu đi.” “Ít nhất cũng cho tôi cài dây an toàn được không?” Eph ngoặt gấp và nói, “Không.” Barnes thấy Ephraim đã ném gì đó vào ngăn để đồ ở giữa họ: phù hiệu của
viên đặc vụ FBI. Miệng súng ép chặt vào chân ông, tay trái Eph nặng trĩu trên vô lăng. “Xin anh, Ephraim, hãy thật, thật cẩn thận…” “Bắt đầu nói đi, Everett.” Eph gí mạnh khẩu súng vào chân Barnes. “Thế quái nào mà ông vẫn còn ở đây? Vẫn trong thành phố? Ông muốn quan sát cận cảnh hả?” “Tôi không biết anh đang nói về chuyện gì, Ephraim. Đây là khu vực có người bệnh.” “Người bệnh,” Eph khinh bỉ. “Người bị lây nhiễm.” “Everett, ông mà cứ nói năng kiểu thế là tôi nổ súng đấy.” “Anh vừa uống rượu.” “Còn ông vừa nói dối. Tôi muốn biết tại sao không có cái lệnh cách ly chó nào!” Nỗi phẫn nộ của Eph lấp đầy không gian trong xe. Anh ngoặt gấp sang phải để tránh một chiếc xe tải chở hàng đã hỏng và bị cướp sạch. “Chẳng có biện pháp ngăn chặn nào được các cấp có thẩm quyền đưa ra cả,” anh tiếp tục. “Tại sao chuyện này vẫn được phép tiếp diễn? Trả lời tôi đi!” Barnes dựa vào cửa, rên rỉ như một đứa bé. “Giờ nó đã hoàn toàn vượt tầm kiểm soát của tôi rồi!” ông nói. “Để tôi đoán nhé. Ông chỉ đang làm theo lệnh thôi.” “Tôi… tôi chấp nhận vai trò của mình, Ephraim. Vào thời khắc phải đưa ra quyết định, tôi đã quyết định. Thế giới này, cái thế giới ta tưởng đã hiểu, Ephraim… nó đang nằm trên bờ vực rồi.” “Ông không cần nói.” Giọng Barnes trở nên lạnh lùng hơn. “Lợi thế đang ngả về phía bọn chúng. Đừng đánh cược theo tình cảm, Ephraim. Mọi Cơ quan lớn đều đã thỏa hiệp, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Nói vậy tức là hoặc bị mua chuộc, hoặc bị phá hoại. Điều này đang xảy ra ở cấp cao nhất.” Eph gật mạnh đầu. “Eldritch Palmer.” “Đến lúc này rồi thì chuyện đó có quan trọng thật không?” “Với tôi thì có.” “Khi một bệnh nhân đang hấp hối, Ephraim - khi mọi hy vọng hồi phục đều không còn - một bác sĩ giỏi sẽ làm gì?” “Anh ta tiếp tục chiến đấu.” “Anh kéo dài nó hả? Thật à? Khi cái kết là điều chắc chắn và đang tới gần?
Khi họ đã không còn có thể cứu chữa được nữa - anh cho họ thuốc giảm đau và kéo dài điều không thể tránh khỏi à? Hay anh thuận theo dòng chảy của tạo hóa?” “Tạo hóa! Chúa ơi, Everett.” “Tôi không biết phải gọi bằng từ gì khác.” “Tôi gọi nó là an tử. Cho toàn bộ nhân loại. Ông đang đóng vai kẻ bàng quan trong bộ đồng phục Hải quân, quan sát loài người chết trên bàn mổ.” “Rõ ràng anh muốn xem đây là chuyện cá nhân, Ephraim, trong khi tôi đâu có gây nên chuyện này. Hãy đổ lỗi cho bệnh, đừng đổ cho bác sĩ. Ở một mức độ nào đó, tôi cũng kinh hãi hệt như anh. Nhưng tôi là người thực tế, và có vài thứ không thể cứ ước là biến đi được. Tôi hành động như thế vì không còn sự lựa chọn nào khác.” “Luôn còn lựa chọn, Everett. Luôn luôn. Chết tiệt - tôi biết thế. Nhưng ông… ông là một thằng hèn, một kẻ phản bội, và - tệ hơn nữa - một tên đần khốn kiếp.” “Anh sẽ thua trận chiến này, Ephraim. Thực ra, nếu tôi không lầm - anh đã thua rồi.” “Để rồi xem,” Eph nói, giờ đã băng qua nửa thành phố. “Ông và tôi. Rồi ta sẽ cùng xem.” Sotheby SOTHEBY, nhà đấu giá được thành lập vào năm 1744, bán tác phẩm nghệ thuật, kim cương và bất động sản quốc tế ở bốn mươi quốc gia, với các phòng đấu giá chính ở London, Hồng Kông, Paris, Moscow và New York. Sotheby ở New York chiếm cả chiều dài đại lộ York giữa phố 71 và 72, cách quốc lộ FDR và sông Đông một dãy nhà. Đó là một tòa nhà mười tầng có mặt tiền bằng kính, bao gồm các gian hàng chuyên môn, phòng triển lãm và không gian đấu giá - một vài khu thường được mở cho công chúng tham quan. Tuy nhiên, hôm nay thì không. Một nhóm bảo vệ riêng đeo mặt nạ phòng độc được bố trí ở cả bên ngoài, trên vỉa hè, và bên trong, đằng sau những cánh cửa xoay. Khu Thượng Đông đang cố duy trì vẻ văn minh trật tự, kể cả khi các hang cùng ngõ hẻm của thành phố đều đã rơi vào tình trạng hỗn loạn. Setrakian bày tỏ mong muốn được đăng ký làm người trả giá hợp pháp cho buổi đấu giá sắp tới, rồi ông và Fet được phát khẩu trang và được phép vào trong.
Sảnh trước của tòa nhà thông thoáng, cao kịch trần, mười tầng ban công có lan can chạy lên trên. Một người hộ tống được chỉ định cho Setrakian và Fet, đưa họ lên thang cuốn đến một văn phòng đại diện trên tầng năm. Người đại diện kéo khẩu trang giấy lên khi họ bước vào, không hề có ý định rời khỏi bàn làm việc. Bắt tay là hành động không hợp vệ sinh. Setrakian nhắc lại mong muốn, và cô gật đầu rút ra một xấp đơn. “Tôi cần tên và số điện thoại của người môi giới cho hai người, và xin hãy liệt kê các tài khoản thế chấp của mình. Bằng chứng cho ý định đặt giá, dưới dạng một văn bản ủy quyền trị giá một triệu đô la, là số tiền cọc tiêu chuẩn cho cấp đấu giá này.” Setrakian vừa liếc nhìn Fet, vừa xoay xoay cây bút giữa các ngón tay còng queo. “E là hiện tại tôi còn đang cân nhắc đến bên môi giới khác nữa. Tuy nhiên, chính tôi cũng sở hữu vài món đồ cổ thú vị. Tôi rất sẵn lòng mang chúng đến thế chấp.” “Tôi rất tiếc.” Cô lấy lại các mẫu đơn, nhét vào ngăn kéo bàn. “Nếu có thể,” Setrakian nói, trả bút lại cho cô, nhưng cô không buồn nhấc tay chạm vào nó. “Tôi rất muốn xem qua các vật phẩm trong danh mục trước khi đưa ra quyết định.” “Tôi e đó là đặc quyền chỉ dành cho những người đặt giá. Có lẽ ông đã biết, an ninh đang được thắt rất, rất chặt vì một vài vật phẩm được trả giá…” “Cuốn Occido Lumen.” Cô nuốt khan. “Chính xác, đúng là nó. Có lẽ ông đã nghe nói, có rất… rất nhiều bí ẩn xung quanh vật phẩm đó, và đương nhiên, xét đến tình hình hiện tại ở Manhattan này… và thực tế là chưa có nhà đấu giá nào rao bán thành công cuốn Lumen trong hai thế kỷ qua… thế nên, chẳng cần phải là người cực kỳ mê tín thì mới liên kết hai chuyện đó lại.” “Tôi chắc là yếu tố tài chính cũng có ảnh hưởng mạnh. Nếu không thì sao cứ phải kiên trì đấu giá làm gì? Rõ ràng Sotheby tin rằng các rủi ro liên quan đến việc đem cuốn Lumen ra đấu giá chẳng thấm vào đâu so với số tiền hoa hồng khi bán được quyển sách.” “Ừm, tôi không thể bình luận về các vấn đề kinh doanh.” “Xin cô đấy.” Setrakian nhẹ nhàng đặt tay lên trên mép bàn, như thể đó là cánh tay cô. “Có thể không? Cho một ông già ngó qua thôi mà?” Đôi mắt phía trên chiếc khẩu trang của cô không hề dịch chuyển. “Tôi không thể.”
Setrakian nhìn Fet. Chuyên gia diệt chuột bọ của thành phố đứng dậy kéo khẩu trang xuống. Anh rút phù hiệu viên chức thành phố ra. “Tôi ghét phải làm thế này, nhưng… tôi cần gặp quản lý tòa nhà ngay lập tức. Người phụ trách cơ sở này ấy.” Giám đốc Sotheby khu vực Bắc Mỹ đứng dậy từ sau bàn làm việc khi quản lý tòa nhà bước vào cùng Setrakian và Fet “Chuyện này là thế nào đây?” Quản lý tòa nhà nói, khẩu trang phập phồng. “Vị này nói ta phải sơ tán tòa nhà.” “Sơ tán… cái gì?” “Anh ấy có quyền đóng cửa tòa nhà trong bảy mươi hai giờ để thành phố kiểm tra.” “Bảy mươi hai… nhưng còn buổi đấu giá thì sao?” “Hủy bỏ,” Fet nói. Anh ngừng lại và nhún vai. “Trừ phi.” Vẻ mặt giám đốc dãn ra sau tấm khẩu trang, như thể ông vừa đột nhiên hiểu ra. “Thành phố này đang sụp đổ quanh chúng ta, vậy mà anh lại chọn thời điểm này, hôm nay, để đến đòi đút lót sao?” “Tôi không đòi đút lót,” Fet nói. “Sự thật là, và chắc chỉ cần nhìn tôi ông cũng biết, tôi có thể được xem như một tên cuồng nghệ thuật.” Họ được cho phép tiếp cận hạn chế với cuốn Occido Lumen, quá trình xem xét được diễn ra trong căn phòng kín tường kính bên trong một căn hầm quan sát lớn hơn nằm sau hai cánh cửa khóa chặt trên tầng chín. Chiếc hộp chống đạn được mở khóa bỏ ra chỗ khác, và Fet nhìn Setrakian chuẩn bị tinh thần nghiên cứu cuốn sách ông đã tìm kiếm từ lâu, đôi găng cotton trắng che phủ hai bàn tay còng queo. Cuốn sách cổ nằm trên một bệ trưng bày bằng gỗ sồi trắng trang trí công phu. Nó có kích thước 30x20x4,5 phân, 489 trang, được viết tay trên giấy da, có hai mươi trang minh họa, hai bìa trước sau và gáy được bọc da và ép tấm bạc nguyên chất. Ngay các trang sách cũng được viền bạc. Giờ thì Fet đã hiểu. Vì sao cuốn sách chưa từng thuộc quyền sở hữu của những con Cổ Đại. Vì sao Chúa Tể không thể cứ thế đến đây, ngay lúc này, để mà lấy nó đi. Bìa bọc bạc. Quyển sách hoàn toàn nằm ngoài tầm với của chúng.
Hai chiếc máy ảnh trên chân đế uốn cong nhô ra từ bàn để chụp lại các trang sách mở, ảnh hiện lên trên hai màn hình plasma quá cỡ nằm dọc trên bức tường trước mặt họ. Trang minh họa đầu tiên ở