phần có được nhờ lao động. Phải là nhân công có tên trong sổ sách mới có được một tấm thẻ khẩu phần: tức là phải làm theo lệnh của bọn hút máu để được ăn. Phải tuân phục. Bọn hút máu về cơ bản là những cảnh sát siêu linh. Jersey là một bang theo chế độ dùi cui, mỗi một cái vòi chích đều đang giám sát tất tật, báo cáo tự động, nên ta không tài nào biết được đã bị tố cáo cho đến khi quá muộn. Bọn hút máu chỉ làm việc, hút máu và, trong vài giờ đồng hồ có nắng mỗi ngày, nằm im trong đống đất của chúng. Nhìn chung, lũ tay sai này rất kỷ luật, và - hệt như nô lệ người - việc chúng ăn gì và khi nào đều theo lệnh: thường là những gói máu từ trại đưa ra. Tuy nhiên Creem từng thấy vài con phá luật. Ta có thể đi dạo trên phố vào ban đêm giữa đám hút máu nếu ta trông có vẻ như đang làm việc, nhưng chúng muốn những con người này chiều theo ý chúng như những công dân hạng hai. Song đó không phải là phong cách của Creem. Không phải ở Jersey này, thưa quý ngài. Cậu ta nghe thấy tiếng chuông khe khẽ bèn gấp cái ghế dựa lại và đứng dậy. Chuông reng nghĩa là có tin từ New York. Từ Gus. Bên trên nơi ẩn náu của mình, Gus, thằng nhóc Mexico, đã làm một cái lồng nhỏ cho lũ bồ câu và mấy con gà. Nhờ đám gà ấy, thỉnh thoảng cậu lại được một quả trứng tươi đầy đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất - giá trị như một viên ngọc trai của con sò. Nhờ lũ bồ câu, cậu có được cách liên lạc với thế giới bên ngoài Manhattan. An toàn, không ràng buộc và không bị bầy hút máu dò ra. Có những hôm Gus còn dùng lũ bồ câu để lên lịch giao hàng với Creem: vũ khí, đạn dược, thêm ít sách báo đồi trụy. Hầu như thứ gì Creem cũng kiếm ra, miễn là được giá. Hôm nay là một ngày như vậy. Con bồ câu - con Harry, “Tàu tốc hành New Jersey”, như Gus vẫn gọi - vừa đậu xuống một cái sào be bé bên cửa sổ và đang mổ vào quả chuông, biết rằng Creem sẽ cho nó chút thức ăn. Creem cởi sợi dây thun buộc quanh chân nó và tháo cái hộp nhựa hình nang nhỏ xíu, lấy ra cuộn giấy bé tí. Harry khe khẽ gù. “Giỏi lắm, ranh con,” Creem khen, cạy một hộp nhựa nhỏ hiệu Tupperware đựng thứ thức ăn bằng ngô quý giá, thả một ít vào cốc để thưởng cho con bồ câu, rồi thảy một tẹo vào mồm mình rồi đóng nắp lại.
Creem đọc yêu cầu của Gus. “Một kíp nổ?” Cậu ta cười thầm. “Chắc mày đùa tao…” Malvo đánh lưỡi vào răng thành tiếng tặc tặc. “Xe trinh sát đang đến,” cậu ta báo. Hai con chó săn lai sói chồm lên, nhưng Creem phẩy tay bảo chúng im. Cậu ta tháo dây xích chúng ra khỏi chân bàn, giật ngược vòng xích ở cổ để bắt chúng im và giữ chúng ở sát gót mình. “Ra hiệu cho mấy đứa kia đi.” Royal dẫn đường đến gara liền kề. Creem vẫn như một người khổng lồ, dù đã tụt ngót ba chục cân. Cánh tay ngắn khỏe mạnh của cậu ta vẫn còn quá rộng, không thể bắt tro qua phần bụng gần như vuông chành chạnh. Ở nhà, cậu ta diện tất số đồ bạc của mình lên, như tay gấu lấp lánh và miếng bọc răng. Creem vẫn mê bạc từ hồi bạc chỉ là một thứ lấp lánh vớ vẩn, trước khi bạc trở thành dấu hiệu của một chiến binh và một kẻ ngoài vòng pháp luật. Creem theo dõi mấy đứa kia cầm vũ khí chui vào chiếc Tahoe. Xe chở hàng thường đi thành một đoàn ba xe quân sự, bọn hút máu đi xe đầu và xe cuối, còn xe hàng do người lái thì ở giữa. Lần này, Creem muốn thấy một ít sản phẩm từ lúa mì: ngũ cốc, bánh mì, bánh bơ. Cacbonhydrat giúp họ no bụng trong vài ngày, đôi khi vài tuần. Protein là món quà hiếm hoi, thịt thậm chí còn hiếm hơn, nhưng khó giữ cho tươi. Bơ đậu phộng là thứ thực phẩm hữu cơ với lớp dầu nổi trên bề mặt - bởi thức ăn không bao giờ được chế biến sẵn nữa - chuyện mà Creem không chịu nổi, nhưng cả Royal lẫn hai con chó săn lai sói thì thích ra mặt. Đám ma cà rồng tỏ ra không sợ chó săn lai sói, nhưng mấy người lái xe thì chắc chắn có. Bọn họ thấy tia sáng bạc trong những đôi mắt chó-lai-sói kia và lúc nào cũng bĩnh cả ra quần. Creem đã huấn luyện kỹ hai con chó tới mức cậu ta mong muốn, tức là chúng luôn nghe lời cậu ta, kẻ cho chúng ăn. Nhưng chúng không phải những sinh vật sinh ra để bị thuần hóa hay nuôi trong nhà, và đó là lý do Creem đồng cảm với chúng và giữ chúng ở sát bên mình. Đại Sứ ghì căng dây cổ; móng chân của Tài Lanh cào xuống sàn gara. Chúng biết thứ gì đang đến. Chúng sắp giành được bữa ăn. Chúng thậm chí còn nhiệt tình giành ăn hơn cả những tên còn lại trong băng Sapphire, bởi với một con chó săn lai sói, nền kinh tế chưa bao giờ thay đổi. Chỉ có thức ăn, thức ăn và thức ăn mà thôi. Cửa gara kéo lên. Creem nghe tiếng những chiếc xe tải ầm ầm quành qua góc, ngon trớn và rõ to, bởi không phải cạnh tranh với âm thanh xe cộ nào
khác. Đây sẽ là một cuộc chặn xe điển hình. Băng Sapphire có một chiếc xe tải kéo đang nằm chờ giữa hai ngôi nhà bên kia con phố, sẵn sàng nghiền nát chiếc xe dẫn đầu. Các xe tiếp ứng sẽ chặn bọn hút máu trong xe sau cùng, thắt nút cổ chai đoàn xe trên con phố khu dân cư này. Giữ cho mấy chiếc xe của cả bọn chạy ngon lành là một ưu tiên nữa của Creem. Cậu ta có những tay cừ khôi để làm chuyện đó. Xăng vô cùng hiếm, ắc quy xe cũng vậy. Băng Sapphire sử dụng hai cái gara ở Jersey để xẻ nhỏ những xe thực phẩm lấy phụ tùng và nhiên liệu. Chiếc xe tải dẫn đầu quành gấp ở góc đường. Creem phát hiện có một chiếc xe nữa trong đoàn xe, chiếc thứ tư, nhưng cậu ta không lấy làm phiền. Đúng giờ đã định, chiếc xe tải kéo ken két lao ra từ bên kia con phố, cày nát khoảng sân trước đầy bùn lầy và nẩy xuống khỏi lề đường - đâm sầm vào góc sau chiếc xe dẫn đầu, khiến nó xoay ngược mạnh đến độ khi dừng lại thì nó đã quay đầu ngược hướng. Những xe tiếp ứng nhanh chóng xáp lại, móc vào thanh chắn bảo vệ chiếc xe tải đi sau. Hai chiếc xe đi giữa trong đoàn xe phanh gấp, đánh lái sang bên lề. Hai xe chở hàng phủ bạt mềm bên sườn - khối lượng hàng hình như gấp đôi bình thường. Royal lái chiếc Tahoe tiến thẳng về phía xe thực phẩm, dừng khựng cách lưới sắt phía trước chỉ vài phân. Creem thả Đại Sứ và Tài Lanh, để chúng phóng qua khoảng sân bùn lầy về phía trận chiến. Royal và Malvo nhảy ra, mỗi đứa cầm một thanh kiếm bạc dài cùng một con dao bạc. Chúng đi thẳng đến bọn hút máu đang chạy ra khỏi chiếc xe dẫn đầu. Royal đặc biệt dữ dội. Cậu ta đã cài thêm những cái đinh bạc vào mũi giày. Vụ cướp có vẻ sẽ kết thúc trong vòng chưa đầy một phút. Điều không ổn đầu tiên Creem để ý thấy là chiếc xe chở thực phẩm. Mấy người điều khiển xe vẫn ở trong buồng lái, thay vì nhảy ra và chạy mất dạng. Đại Sứ nhảy lên cửa bên tài xế, răng đớp vào ô cửa sổ đóng chặt, người đàn ông bên trong nhìn xuống cái mõm giận dữ và bộ răng nhe ra của con chó săn lai sói. Rồi hai bên sườn phủ vải bạt mềm của hai chiếc xe quân sự giống hệt nhau được vén lên như kéo rèm. Thay vì thức ăn, chừng hai mươi, ba mươi ma cà rồng hút máu xé bạt xông ra, vẻ hung dữ, tốc độ và sức mạnh của chúng ngang ngửa đôi chó săn lai sói. Malvo chém mạnh đẩy ba tên lùi ra trước khi bị một con khác chồm lên mặt. Malvo xoay người ngã ra - và bọn chúng xông lên cậu ta. Royal lùi lại, rút lui như một đứa nhóc tay cầm xô cát rút lui trước cơn
sóng thủy triều đang đến. Cậu ta va phải xe của chính mình, không thể tháo chạy ngay. Creem không tài nào thấy được chuyện gì đang xảy ra ở đằng sau… nhưng cậu ta nghe thấy tiếng la hét. Và nếu cậu ta có học được điều gì thì ấy chính là… Ma cà rồng không la hét. Creem chạy - với vận tốc tối đa của một người mang tầm vóc như cậu ta - về phía thằng bạn Royal đang bị một băng sáu tên hút máu dồn vào đầu chiếc Tahoe. Royal chỉ còn nước chết, nhưng Creem không thể để thằng nhóc ra đi như thế. Creem lăm lăm khẩu Magnum.44 bên hông và dù đạn không làm bằng bạc, nhưng cậu ta vẫn thấy ưng món vũ khí. Cậu ta rút súng, bắn vỡ đầu hai ma cà rồng, pằng, pằng, máu ma cà rồng trắng như a xít văng đầy mặt Royal, che hết tầm nhìn của cậu ta. Đằng sau Royal, Creem thấy Tài Lanh ngoạm vào khuỷu tay một trong những tên cướp hút máu. Tên hút máu không biết đau, dùng móng tay cứng như móng vuốt ở ngón giữa chém cái cổ họng xù lông của Tài Lanh, rạch toang cổ con chó săn lai sói, tạo thành một đống bùi nhùi toàn lông xám bạc với máu đỏ lênh láng. Creem bắn tên hút máu, đục hai lỗ trên cổ họng nó. Tên hút máu gục xuống ngay cạnh Tài Lanh đang rên ư ử giữa cảnh chém giết hỗn loạn. Một cặp hút máu nữa lao bổ lên Đại Sứ, sức mạnh ma cà rồng của chúng áp đảo con thú dữ. Creem nổ súng, trúng đầu, vai và cánh tay chúng, nhưng những viên đạn thiếu bạc không cản được hai kẻ hút máu xé xác con chó săn lai sói. Kết quả của việc sử dụng hỏa lực là nó đã thu hút mọi sự chú ý về phía Creem. Royal đã chết, hai tên hút máu đang cắm vòi chích vào cổ cậu ta, chén ngay giữa phố. Những con người vẫn khóa trái cửa và ở bên trong cabin chiếc xe tải ngụy trang, trợn mắt quan sát, không phải vì sợ mà vì kích động. Creem nã hai loạt đạn về hướng bọn chúng và nghe có tiếng kính vỡ nhưng không buồn chậm bước lại để xem liệu đã bắn trúng bọn chúng hay chưa. Cậu ta len người qua cánh cửa đang mở bên phía tài xế của chiếc Tahoe, thân hình bồ tượng nhào lên tay lái. Cậu ta chuyển xe vào số lùi, động cơ vẫn đang chạy, chiếc xe cày bùn trên sân trong lúc lùi ra xa. Cậu ta đạp mạnh chân phanh, làm nát tươm một đoạn sân nữa, rồi bẻ lái sang trái. Hai tên hút máu nhảy vào chặn đường, Creem bèn nhấn mạnh chân ga, chiếc Tahoe chạy lồng lên trước, nghiến qua chúng, các bánh xe gí chúng vào vỉa hè. Creem
lạng xuống lòng đường, rồ máy mà quên khuấy mất là đã lâu rồi cậu ta không chạy xe. Creem lạng sang bên, nghiến ken két lên lề đường đối diện, khiến một chiếc lốp văng khỏi vành. Cậu ta đánh quá tay lái sang hướng ngược lại. Creem đạp nghiến chân ga xuống tận sàn, khiến chiếc Tahoe vọt lên - nhưng rồi động cơ khục khặc và tắt ngấm. Creem kiểm tra bảng đồng hồ. Kim nhiên liệu sáng rực ở vạch “E”. Băng Sapphire chỉ nạp vừa đủ xăng để hoàn thành nhiệm vụ. Chiếc xe tải đào thoát - chiếc xe còn nửa bình nhiên liệu - đang ở sau. Creem đẩy cửa xe bật mở. Giữ chặt khung cửa, cậu ta nhoài người ra khỏi xe, trông thấy đám hút máu chạy về phía mình. Tái nhợt bẩn thỉu, chân không giày dép, trần truồng và khát máu. Creem nạp cho khẩu.44 băng đạn duy nhất còn giắt thắt lưng, bắn thủng người lũ khốn kiếp, nhưng chúng vẫn liên tiếp xông lên như ác mộng. Khi súng kêu cạch một tiếng báo hết đạn, Creem quẳng nó sang bên và lao vào lũ hút máu với hai nắm đấm phủ bạc, những cú giáng đòn lấp lánh của cậu ta như được bồi thêm mãnh lực và sức sát thương. Cậu ta kéo mạnh một sợi dây xích, bắt đầu thắt cổ một tên hút máu, lôi thân hình sinh vật này quay vòng quanh để ngăn những bàn tay túm bắt, đánh đập của các ma cà rồng khác. Song, vì thiếu ăn nên cậu ta quá yếu, và dù to xác nhưng cậu ta rất mau thấm mệt. Chúng vồ lấy cậu ta, nhưng thay vì xông tới cổ họng, chúng lấy tay khóa hai cánh tay to lớn của cậu ta, dùng sức mạnh siêu nhiên lôi tên thủ lĩnh băng đảng đang vã mồ hôi như tắm ra khỏi lòng đường. Chúng lôi cậu ta lên hai bậc thang, vào một cửa hàng tiện lợi đã bị khoắng sạch, trói cậu ta ngồi dưới sàn nhà. Dù hết cả hơi, Creem vẫn xổ ra một tràng chửi rủa cho tới khi mệt đến choáng váng và lịm đi. Trong khi cả cái cửa hàng quay mòng trong tầm nhìn, cậu ta thầm nghĩ không hiểu bọn chúng đang chờ đợi cái quái gì. Cậu ta muốn chúng uống máu mình đến chết sặc luôn. Cậu ta không lo sẽ bị biến thành ma cà rồng; ấy chính là một trong các lợi thế rõ ràng của việc có một mồm đầy bạc để chống lại bọn chúng. Hai con người bước vào, là nhân viên Stoneheart trong trang phục vét đen gọn gàng như người của nhà tang lễ. Creem tưởng bọn này vào để lột bạc khỏi người cậu ta nên cố gắng trấn tĩnh, vận hết sức vật lộn. Lũ hút máu quỳ lên hai cánh tay cậu ta, vặn chúng lại khiến cậu ta đau đớn. Nhưng hai tên Stoneheart chỉ đứng trên nhìn xuống, trong lúc cậu ta sụm xuống sàn, há hốc mồm đớp không khí.
Thế rồi, bầu không khí trong cửa hàng bỗng thay đổi. Chẳng biết mô tả thế nào cho đúng, nhưng nó giống như sự tĩnh lặng cao độ ngay trước cơn bão. Tóc gáy Creem dựng đứng. Chuyện gì đó sắp xảy ra. Nó giống y cái thời khắc xoa hai bàn tay vào nhau, ngay trước khi vỗ tay. Một tiếng o o đi vào não bộ Creem như tiếng máy khoan nha khoa đinh tai nhức óc, có điều không rung bằng. Giống tiếng gầm của một chiếc trực thăng đang tới giữa trời lặng gió. Giống tiếng tụng kinh đều đều của hàng nghìn nhà sư - chỉ có điều không có bài kinh. Bọn hút máu cứng người lại như lính chờ duyệt đội hình. Hai tên Stoneheart bước sang bên, ngả người vào giá để hàng trống trơn dọc lối đi. Đám hút máu ở hai bên Creem buông tay ra, lủi đi mất, bỏ mặc cậu ta ngồi một mình giữa sàn nhà lót vải sơn… … đúng lúc một bóng đen bước vào cửa hàng. Trại Tự do CHIẾC XE JEEP VẬN TẢI là một xe quân sự đã qua chuyển đổi mục đích sử dụng, thùng xe được nới rộng, mui xe bị bỏ đi. Quinlan lái xe lao như bay xuyên qua làn mưa quất vun vút và màn đêm đen như mực; với tầm nhìn ma cà rồng của gã thì chẳng cần đèn pha. Eph và những người còn lại ướt sũng, xóc nẩy theo xe trên ghế sau trong lúc họ phóng rầm rập trong đêm. Eph nhắm mắt chịu đựng cơn mưa và chặng đường xóc, cảm thấy mình như con thuyền nhỏ gặp cơn bão lớn, tuy bị dập vùi nhưng vẫn quyết tâm vượt qua bằng được. Họ cuối cùng cũng dừng lại, Eph ngẩng đầu nhìn lên cánh cổng khổng lồ, tối đen sừng sững trên nền trời tối đen. Không cần ánh sáng làm gì. Quinlan tắt động cơ xe Jeep và không còn tiếng động hay giọng nói gì nữa, chỉ có cơn mưa và tiếng ầm ì của một chiếc máy phát điện nào đó tít sâu bên trong. Khu trại thật khổng lồ và khắp xung quanh nó là một bức tường bê tông không có gì nổi bật. Ít nhất cũng cao hơn sáu mét, bên trên có đội xây dựng làm việc cả ngày lẫn đêm, nâng các thanh cốt thép, đổ bê tông dưới ánh sáng đèn thạch anh thường dùng ở sân vận động. Tường sẽ xong sớm thôi, còn ở hiện tại, một cái cổng giằng xích có ván gỗ đỡ chính là đường vào trại. Chẳng hiểu sao, Eph cứ tưởng sắp nghe thấy tiếng trẻ con khóc, tiếng người lớn gào, hay một hình thức thống khổ nào đó có thể nghe thấy rõ, khi anh đang ở gần bao nhiêu đau đớn của con người. Mặt ngoài yên lặng tăm tối
của khu trại gây ấn tượng ngột ngạt trĩu nặng đến độ gần như choáng váng. Hiển nhiên họ đang bị Strigoi giấu mặt nào đó theo dõi. Cơ thể Quinlan sáng và ấm nóng dưới tầm nhìn nhạy nhiệt của bọn ma cà rồng, trong khi năm sinh thể ở phía sau chiếc xe Jeep được ghi nhận là những con người với thân nhiệt mát hơn. Quinlan nhấc một chiếc túi đựng dụng cụ chơi bóng chày từ ghế sau lên, vừa khoác túi chéo vai vừa bước ra khỏi xe Jeep. Eph đứng nghiêm túc, cổ tay, eo và mắt cá chân buộc dây nylon. Cả năm người họ được buộc vào với nhau, cách nhau chỉ chừng vài phân, như một đoàn tù bị phạt xích chân tay. Eph ở giữa, Gus trước mặt anh, Fet ở đằng sau. Đi đầu và cuối là Bruno và Joaquin. Họ lần lượt nhảy từ sau xe xuống bãi lầy. Eph có thể ngửi thấy mùi Strigoi, hương đất nồng và mùi khai chất thải của chúng. Quinlan bước cạnh Eph, hộ tống đoàn tù vào trại. Eph cảm thấy như thể anh đang bước vào trong miệng một con cá voi và rất sợ sẽ bị nuốt chửng. Anh biết một khi đã đi vào cái lò sát sinh này, rất có khả năng anh sẽ không bao giờ ra nổi nữa. Mọi trao đổi liên lạc đều không cần đến lời nói. Về khả năng ngoại cảm, Quinlan không hẳn là cùng bước sóng với những ma cà rồng khác, nhưng sự tồn tại của tín hiệu tâm linh nơi gã cũng đủ để họ qua được chốt kiểm tra đầu tiên, về thể chất, trông gã đỡ hốc hác hơn các ma cà rồng lính quèn kia, da thịt nhợt nhạt của gã mịn giống cánh hoa huệ tây chứ không thiếu sinh khí như nhựa cứng, mắt gã đỏ tươi hơn với ánh sáng lóe đầy vẻ độc lập. Họ lê chân xuống một đường hầm hẹp bằng vải bạt bên dưới một cái mái làm từ lưới sắt quây chuồng gà. Eph ngước nhìn qua lưới lên cơn mưa đang rơi và màn đêm đen tuyền của bầu trời không trăng sao. Họ đến một trạm cách ly. Vài ngọn đèn chạy pin đang soi sáng cả căn phòng, bởi khu vực này do con người điều vận. Giữa ánh đèn tiết kiệm điện hắt bóng lên mấy bức tường, cơn mưa không ngớt bên ngoài và cái cảm giác rõ rành là có hàng trăm sinh vật độc địa đang vây chung quanh, trạm cách ly giống hệt một túp lều nhỏ đầy kinh sợ giữa đại ngàn mênh mông. Tất cả nhân viên ở đây đều cạo trọc đầu. Mắt bọn họ khô rốc mệt mỏi và họ mặc những bộ áo liền quần màu xám của tù nhân, chân đi dép sục cao su. Năm người bị yêu cầu khai tên và tất cả đều nói dối. Eph dùng cây bút chì cùn ký nguệch ngoạc ngay bên cạnh tên giả của mình. Quinlan đứng đằng sau, trước một bức tường vải bạt đang bị mưa gõ lộp bộp, trong khi bốn Strigoi trực gác chia thành hai cặp, đứng như tượng Golem(36) ở hai bên cửa
lật. Câu chuyện của Quinlan là gã đã bắt được năm kẻ tách nhóm này đang ngồi chồm hỗm trong một tầng hầm bên dưới khu chợ Hàn trên phố 129. Gã bị đánh vào đầu lúc chiến nhau với món hàng của mình nên khả năng ngoại cảm bị nhiễu - trong khi thực ra, Quinlan đang chủ động chặn, không cho các ma cà rồng khác thâm nhập vào suy nghĩ thực của gã. Gã đã bỏ cái túi quá khổ xuống, đặt nó nằm trên sàn vải bạt ẩm ướt gần ủng của mình. Ban đầu, mấy con người cố gắng gỡ các nút trói, hy vọng giữ được nguyên dây để tái sử dụng. Nhưng đoạn nylon ẩm không chịu nhúc nhích, phải cắt mới được. Dưới ánh mắt giám sát của lũ ma cà rồng gác cửa, Eph vẫn cụp mắt đứng nguyên, chà xát hai cổ tay thô ráp. Anh không thể giấu nỗi căm hận nếu nhìn thẳng vào mắt một tên ma cà rồng. Hơn nữa, anh cũng lo mình sẽ bị thứ tâm trí tập thể của Strigoi nhận ra. Anh nhận thấy sự bất an đang dâng lên trong lều. Không khí im lặng này thật kỳ quặc, bọn lính gác đang chú mục cả vào Quinlan. Đám strigoi đã để ý ra điều gì đó khác lạ ở gã. Fet cũng nhận ra điều này, vì anh đột nhiên lên tiếng, cố gắng đánh lạc hướng sự chú ý ra khỏi Quinlan. “Khi nào bọn tôi được ăn?” anh hỏi. Tên con người dừng ghi chép vào tập tài liệu, ngước mắt lên nhìn. “Bao giờ bọn chúng cho thì ăn.” “Hy vọng không quá béo,” anh nói tiếp. “Tôi không chịu được đồ béo.” Mấy con người ngừng việc đang làm, nhìn Fet chằm chằm như thể anh không bình thường. Tay chỉ huy nói, “Tôi thì sẽ không lo lắng chuyện đó đâu.” “Tốt quá,” Fet đáp. Một strigoi để ý thấy cái túi của Quinlan vẫn còn ở trên sàn chỗ góc phòng. Tên ma cà rồng với lấy cái túi vừa dài vừa nặng. Fet đờ người cạnh Eph. Một nhân viên con người chộp lấy cằm Eph, dùng đèn pin kiểm tra khoang miệng anh. Người này có bọng mắt màu trà đen. Eph hỏi, “Anh là bác sĩ à?” “Đại loại vậy,” người đàn ông đáp, chăm chú nhìn răng Eph. “‘Đại loại vậy’ là sao?” “À thì, tôi là bác sĩ thú y,” ông ta trả lời. Eph ngậm miệng lại. Người đàn ông hết chiếu luồng sáng đèn thẳng mắt Eph rồi lại huơ ra ngoài, bị kích thích trước những gì ông ta thấy.
“Anh đang dùng thuốc gì hả?” tay bác sĩ thú y hỏi. Eph không ưa giọng tay bác sĩ thú y này. “Đại loại vậy,” anh bật lại. “Tình trạng anh tệ lắm. Đại loại là hỏng rồi,” tay bác sĩ thú y nói. Eph thấy tên ma cà rồng kéo khóa túi của Quinlan. Lớp vỏ nylon đã được lót chì lấy từ áo choàng chắn tia X của một phòng khám nha khoa trong thành phố. Ngay khi cảm nhận thấy tính chất hủy diệt của những lưỡi gươm bạc, con Strigoi thả ngay cái túi xuống như đỉa phải vôi. Quinlan xồ đến cái túi. Eph đẩy tên bác sĩ thú y, đấm gã văng qua tít đầu kia lều. Quinlan xô tên Strigoi ra, nhanh chóng rút thanh gươm trong túi, xoay người, chĩa gươm lăm lăm. Lũ ma cà rồng thoạt tiên quá choáng váng không kịp cử động, chùn chân trước sự xuất hiện bất ngờ của bạc, dưới dạng những món vũ khí. Quinlan tiến lên từ từ, nhằm câu thời gian cho Fet, Gus và những người khác chộp lấy vũ khí. Eph thấy thoải mái hơn hẳn khi đã cầm được thanh gươm trong tay. Thực ra lưỡi gươm Quinlan đang khua khoắng mới là của Eph, nhưng không còn thời gian cãi vã nữa. Ma cà rồng không phản ứng như con người. Không tên nào trong số chúng vọt ra cửa để chạy trốn hay cảnh báo đồng bọn. Báo động vang lên qua tâm trí chúng. Đợt tấn công của chúng, sau cú sốc ban đầu, đến nhanh như vũ bão. Quinlan hạ ngay một tên bằng cú đấm vào cổ. Gus lao lên trước, đụng phải một tên ma cà rồng cũng đang xông tới, bèn đâm lưỡi gươm xuyên cổ họng nó. Khó có thể dùng đòn chém đầu khi cận chiến bởi muốn chặt đứt cổ thì phải quạt gươm thật rộng, mà như vậy rất dễ gây sát thương cho những người xung quanh và máu phụt ra có thể ăn mòn da, do trong máu ấy nhung nhúc các con giun ký sinh nhiễm bệnh. Cận chiến với Strigoi luôn là phương án ít được hoan nghênh nhất, bởi vậy, năm người cố gắng hết sức gấp rút đánh mở đường thoát ra khỏi phòng tiếp nhận cách ly. Eph, người cầm vũ khí lên cuối cùng, không phải bị ma cà rồng mà là con người tấn công. Tay bác sĩ thú y và một tên nữa. Bị giật mình, anh phản ứng như thể bọn họ là Strigoi và đâm xuyên cuống cổ tên bác sĩ. Luồng máu đỏ tươi từ động mạch phụt lên trụ đỡ bằng gỗ ở chính giữa căn phòng trong khi cả Eph lẫn tên bác sĩ mở to mắt trừng trừng nhìn nhau. “Anh làm cái chó gì vậy!” Eph ré lên. Tay bác sĩ thú y khuỵu gối và gã đàn ông kia bèn chuyển sự chú ý sang kẻ đồng bọn bị thương. Eph chậm chạp bước lùi lại tránh xa gã đàn ông đang hấp hối. Anh run rẩy; anh đã giết một con người.
Họ bước ra khỏi lều tiến vào không gian lộ thiên bên trong khu trại. Cơn mưa đã ngớt, giờ chuyển thành màn mưa bụi mịt mùng. Một lối đi căng vải bạt phía trên nằm ngay trước mặt họ, nhưng màn đêm không cho Eph nhìn bao quát toàn thể khu trại. Chưa thấy Strigoi nào, nhưng họ biết báo động đã lan ra. Phải mất vài giây mắt họ mới quen với bóng tối - lũ ma cà rồng đang chạy đến từ trong bóng đêm. Năm người họ tản ra thành hình vòng cung, đón chờ những kẻ đang xông lại. Không gian ở đây đủ rộng để họ khua gươm thoải mái, để họ trụ vững chân sau và vung tay đủ lực đặng bứng đầu kẻ thù ra khỏi vai. Eph bổ gươm thật lực, vừa di chuyển vừa chém, liên tục kiểm tra sau lưng. Cứ thế, họ đẩy lui làn sóng đầu tiên. Họ tiếp tục tiến lên, dù mù tịt về sơ đồ tổ chức của trại. Họ tìm chỉ dẫn đến nơi bố trí toàn thể cư dân. Một cặp ma cà rồng nữa từ bên trái lao vào họ, Quinlan bảo vệ bên sườn, chém gục bọn chúng và dẫn những người còn lại theo hướng ấy. Phía trước, in bóng rõ nét trong đêm tối, là một cấu trúc vừa cao vừa hẹp: một bốt gác ở chính giữa một vòng tròn đá. Thêm nhiều ma cà rồng nữa guồng chân lao đến nên năm con người xốc lại tinh thần, di chuyển thành một đội, năm lưỡi gươm bạc cùng chém, gần như tạo thành một thanh gươm bản rộng duy nhất. Họ cần giết thật nhanh. Strigoi có tiếng là sẵn sàng hy sinh vài đồng bọn để cố gắng tăng cơ may bắt gọn và biến đổi một kẻ gây hấn. Chiến thuật của chúng là chỉ cần tiêu diệt được một người diệt ma thì dẫu phải hy sinh một, ba hay thậm chí mười ma cà rồng cũng đáng. Eph lom khom đằng sau bọc lót, bước lùi trong khi cả bọn tạo thành một hình ô van chuyển động, một vòng tròn bạc khiến lũ ma cà rồng phải tránh xa. Khi mắt đã dần quen với bóng tối, Eph nhận thấy các Strigoi khác đang chùn bước ở đằng xa, hợp quân, nấn ná. Dò dẫm đi theo mà không tấn công, ủ mưu thêm đợt tấn công hiệp đồng nữa. “Chúng đang tập hợp,” anh bảo cả nhóm. “Tôi nghĩ chúng ta đang bị dồn về hướng này.” Anh nghe tiếng gươm chém sũng nước, tiếp đến là giọng Fet. “Đằng trước có một tòa nhà. Hy vọng duy nhất của ta là đi từ khu này sang khu khác.” Chúng ta đột nhập vào trại sớm quá, Quinlan truyền đạt. Trời chưa tỏ dấu hiệu sáng. Mọi sự đều phụ thuộc vào ô cửa sổ chiếu nắng không đáng tin kia. Chiến lược bây giờ là cố gắng sống sót bên trong địa hạt của quân thù, chờ một rạng đông chưa chắc đã lên.
Gus chửi thề và đốn hạ một sinh vật nữa. “Bám sát nhau nhé,” Fet nhắc. Eph tiếp tục từ từ đi giật lùi. Anh có thể nhìn rõ khuôn mặt lũ ma cà rồng ở hàng đầu đang vừa bám theo họ vừa nhìn chằm chằm. Nhìn chằm chằm - có vẻ vậy - vào anh. Có phải anh chỉ tưởng tượng ra thôi? Eph bước chậm lại, sau đó dừng hẳn, kệ những người kia đi trước anh vài mét. Đám ma cà rồng bám theo cũng dừng lại. “A, mẹ kiếp,” Eph chửi thề. Chúng đã nhận ra anh. Cái thứ lệnh truy nã trong mạng lưới ngoại cảm ma ca rồng thật là đỉnh. Cái tổ ong đó đã được cảnh báo về hiện diện của anh, và điều đó chỉ có một ý nghĩa. Chúa Tể biết Eph đang ở đây. Quan sát chuyện này qua đám tay sai. “Này!” Fet gọi, chạy ngược lại chỗ Eph. “Anh dừng lại làm cái quái gì…?” Anh thấy bọn Strigoi, có lẽ phải hơn hai chục đứa, đang nhìn chằm chằm. “Lạy Chúa. Chúng sao vậy, gặp người nổi tiếng hả?” Đợi lệnh. “Chúa ơi, ta cứ…” Còi khu trại vang lên - họ giật nẩy người - một tiếng còi hơi hú lanh lảnh, rồi bốn tiếng nữa dồn dập theo sau. Rồi lại im lặng. Eph hiểu mục đích của tiếng còi này: để đánh động không chỉ ma cà rồng mà cả con người. Hiệu lệnh trú ẩn, có lẽ vậy. Fet nhìn về phía tòa nhà gần nhất. Anh kiểm tra lại xem trời sắp sáng chưa. “Nếu anh có thể dụ bọn chúng rời khỏi đây, rời khỏi bọn tôi - thì bọn tôi có thể vào rồi ra khỏi chốn này nhanh hơn nhiều.” Eph không hề mong muốn bị biến thành một món đồ chơi mài răng màu đỏ nẩy tung tưng giữa bầy hút máu này, nhưng anh thấy kế hoạch của Fet cũng có lý. “Thế thì hộ tôi một việc,” anh nói. “Tiến hành nhanh vào nhé.” Fet gọi với ra sau, “Gus! Ở lại với Eph nhé.” “Không đời nào,” Gus làu bàu. “Tôi vào trại. Bruno, cậu ở lại với anh ấy.” Eph mỉm cười trước thái độ khinh khi rõ ràng Gus dành cho mình. Anh tóm lấy cánh tay Quinlan kéo gã ra sau, đổi kiếm của mình lấy thanh kiếm gã đang mang. Tôi sẽ xử lý đám lính gác con người, Quinlan nói, vụt biến đi. Eph nắm chắc chuôi kiếm da quen thuộc, đợi Bruno tiến tới bên cạnh. “Sắp
xếp thế này ổn chứ?” “Còn hơn cả ổn ấy chứ,” Bruno đáp, có phần hụt hơi nhưng tươi rói, như một đứa trẻ. Hàm răng trắng lóa của cậu nổi bật trên nền da nâu sáng. Eph hạ kiếm, bước sang trái, tránh xa tòa nhà. Lũ ma cà rồng ngập ngừng giây lát rồi bám theo. Eph và Bruno quành vào góc một tòa nhà phụ tối om và dài như nhà kho. Đằng sau nó, ánh sáng hắt ra từ bên trong một cái cửa sổ. Ánh sáng đồng nghĩa với con người. “Lối này!” Eph bảo, bắt đầu guồng chân chạy. Bruno bám theo, thở hồng hộc. Eph ngoái nhìn ra sau và, dĩ nhiên rồi, lũ ma cà rồng cũng đang rẽ đuổi theo họ. Eph chạy về phía ánh sáng, thấy một ma cà rồng đang đứng gần cánh cửa dẫn vào tòa nhà. Nó là một con ma cà rồng đực, to lớn, ánh sáng nhạt nhòa của ô cửa sổ rọi vào lưng. Trên vồng ngực lớn và cả hai bên cái cổ như thân cây của nó, Eph thấy vết mực xăm đã nhạt, màu đã chuyển xanh lá do máu trắng của ma ca rồng và cơ man những vết rạn. Lập tức, như một vùng ký ức khốn khổ trồi trở về ý thức, giọng nói của Chúa Tể văng vẳng trong đầu Eph. Ngươi làm gì ở đây vậy, Goodweather? Eph dừng khựng, chĩa mũi kiếm về phía tên ma cà rồng to lớn. Bruno xoay người lại bên cạnh anh, để mắt đến những tên tay sai đằng sau họ. Ngươi đến đây để giành lại thứ gì vậy? Bruno gầm gừ bên cạnh Eph, chém gục hai tên ma cà rồng đang xông tới. Eph quay người, lãng đi trong giây lát, thấy những tên còn lại túm tụm cách đó chỉ vài mét - kính sợ bạc - và rồi, nhận ra mình vừa cho phép bản thân sao lãng, anh vội quay lại giơ kiếm lên. Mũi kiếm của anh chọc trúng ngực phải tên ma cà rồng đang xông tới, đâm vào da và cơ nhưng không xọc xuyên người nó. Eph rút ngay kiếm ra, đâm thẳng vào họng tên ma cà rồng, vừa lúc hàm của nó bắt đầu hạ xuống, phơi trần vòi chích. Tên ma cà rồng xăm trổ run rẩy, ngã sụm xuống nền đất. “Mẹ chúng mày!” Bruno kêu. Bọn chúng giờ đồng loạt xông vào. Eph khua kiếm vòng vòng, sẵn sàng chờ đón. Nhưng chúng quá đông, lại nhất tề xung phong. Anh bắt đầu rút lui… Ngươi đến đây tìm ai đó, Goodweather.
… và cảm thấy đá lổn nhổn dưới chân khi lùi gần đến tòa nhà. Bruno tiếp tục chém giết trong khi Eph lùi ba bước, sờ tìm tay nắm cửa, tháo chốt, cánh cửa bật mở. Giờ ngươi thuộc về ta, Goodweather. Giọng nói oang oang, khiến anh mất phương hướng. Eph kéo vai Bruno, ra hiệu cho cậu theo anh vào trong. Họ chạy qua những cái chuồng tạm bợ ở hai bên lối đi hẹp, bên trong nhốt những con người đang ở trong đủ mọi trạng thái thống khổ. Một dạng nhà thương điên. Đám người hú gọi Eph và Bruno đang chạy qua. Cụt đường rồi, Goodweather. Eph lắc mạnh đầu, cố xua giọng nói của Chúa Tể ra khỏi tâm can. Sự hiện diện của giọng nói ấy khiến người ta quẫn trí, giống như giọng nói của chính cơn điên loạn. Thêm vào đó là cảnh những con người đang cào cấu lồng lúc anh chạy qua, khiến Eph kinh hoảng bối rối. Con đầu tiên trong số những ma cà rồng đang đuổi theo tiến vào từ đầu kia tòa nhà. Eph thử một cánh cửa, dẫn sang một chỗ giống như văn phòng, với một chiếc ghế kiểu phòng khám nha khoa có cái tựa đầu, sàn nhà đóng máu người đã khô đỏ sẫm. Một cánh cửa khác dẫn ra ngoài, Eph nhảy xuống ba bậc. Thêm nhiều ma cà rồng nữa đã đợi sẵn, chúng đi vòng thay vì chạy xuyên qua tòa nhà, và Eph vung kiếm chém mạnh, xoay người bắt trúng một con cái đang từ trên mái nhảy về phía anh. Sao ngươi đến đây, Goodweather? Eph nhảy lui khỏi con ma cà rồng cái vừa bị chém chết. Anh và Bruno lùi ra xa, vai sát vai, tiến tới một tòa nhà không cửa sổ hay đèn đuốc được bao quanh bởi một hàng rào cao. Có lẽ là tổng hành dinh của lũ ma cà rồng? Tổ của đám Strigoi trong trại chăng? Eph và Bruno di chuyển chéo góc nhau, nhưng rồi nhận thấy hàng rào đột nhiên rẽ ngang và kết thúc ở một tòa nhà tối om khác. Đường chết. Ta đã bảo mà. Eph đứng đối mặt với lũ ma cà rồng đang tiến về phía họ trong bóng tối. “Đường biến thành xác sống,” Eph lầm bầm. “Đồ khốn.” Bruno liếc sang anh. “Đồ khốn? Chính anh dắt chúng ta vào cái bẫy này mà!” Một khi đã bắt được và biến đổi ngươi, ta sẽ biết được mọi bí mật của ngươi.
Eph lạnh người. “Chúng đến rồi,” anh bảo Bruno - và chuẩn bị chờ đón chúng. Nora đã đến văn phòng của Barnes bên trong tòa nhà quản trị, sẵn sàng đồng ý bất cứ điều gì, bao gồm cả đầu hàng Barnes, miễn có thể cứu mẹ và tiếp cận lão. Cô coi khinh sếp cũ của mình thậm chí còn hơn cả bè lũ ma cà rồng đàn áp. Sự đồi bại của lão khiến cô phát bệnh - nhưng chính việc lão tin cô yếu đuối đến nỗi sẽ cứ thế tuân phục theo ý lão mới khiến cô buồn nôn. Rồi lão sẽ nhận ra điều đó một khi đã bị cô giết. Nếu lão vẫn ảo tưởng rằng cô sẽ tuân phục, vậy thì kế hoạch của cô sẽ là đâm ngập cán dao vào tim lão. Chết vì con dao xắt bơ: thích hợp làm sao! Cô sẽ đâm khi lão nằm trên giường hoặc đang giữa cơn ba hoa bữa tối. Lão còn xấu xa hơn cả lũ strigoi: sự thối nát của lão không phải căn bệnh, cũng không phải cái gì đó tự nhiên giáng xuống đời. Sự thối nát của lão xuất phát từ chủ nghĩa cơ hội. Một lựa chọn. Tệ nhất là lão cứ coi cô như nạn nhân tiềm năng. Lão đã phạm sai lầm chết người khi đánh giá nhầm Nora, và cô chỉ việc cho lão thấy điều đó. Bằng thép. Lão bắt cô đợi ngoài hành lang không ghế, không nhà vệ sinh suốt ba giờ đồng hồ. Lão rời văn phòng hai lần, chói lọi trong trang phục đô đốc màu trắng chỉnh tề, mang giấy tờ gì đó đi qua Nora mà chẳng hề tỏ vẻ nhận ra cô, cứ thế lẳng lặng lướt qua rồi biến mất sau một cánh cửa khác. Và vậy là cô cứ đợi, bối rối không yên, cả khi tiếng còi trại duy nhất vang lên báo hiệu giờ chia khẩu phần, một tay xoa xoa cái bụng đang sôi lên - dứt khoát tập trung tâm trí vào mẹ và âm mưu giết lão. Cuối cùng, trợ lý của Barnes - một phụ nữ trẻ tóc nâu vàng dài chấm vai, gọn gàng, vận bộ áo liền quần màu xám đã giặt ủi đâu ra đấy - mở cửa, cho Nora vào, không nói một lời. Cô trợ lý đứng nguyên ở cửa trong khi Nora bước qua. Làn da thơm mùi nước hoa và hơi thở thơm mùi bạc hà. Nora đáp trả cái nhìn chê bai của cô trợ lý, tưởng tượng ra cách người phụ nữ này có được vị trí béo bở như vậy trong thế giới của Barnes. Cô trợ lý ngồi sau bàn, mặc Nora loay hoay với cánh cửa tiếp theo. Cửa khóa. Nora quay lui về một trong hai chiếc ghế gấp cứng dựa sát tường đối diện cô trợ lý. Cô ta khua chân khua tay ầm ĩ tuồng như bận rộn, cố tảng lờ Nora, vẻ trịch thượng. Điện thoại đổ chuông và cô ta nhấc ống nghe, trả lời khẽ khàng. Căn phòng, ngoại trừ những mảng tường ốp gỗ chưa hoàn thiện
cùng chiếc laptop, giống hệt một văn phòng công nghệ thấp hồi thập niên bốn mươi của thế kỷ trước: điện thoại nối dây, bút và sổ, giấy thấm mực. Trên góc bàn gần cô ta, ngay cạnh tờ giấy thấm mực, một chiếc bánh sô cô la dày được đặt trên chiếc đĩa giấy nhỏ. Cô trợ lý gác máy sau khi thì thào vài lời, rồi để ý thấy Nora đang nhìn món bánh chằm chằm. Cô ta với đến cái đĩa, nhấm nhấm một mẩu bánh tráng miệng, vài vụn bánh rơi xuống lòng. Nora nghe nắm đấm cửa kêu tách một tiếng, tiếp theo đó là giọng Barnes. “Vào đi!” Cô trợ lý gạt đĩa bánh sang phía bên kia bàn, ngoài tầm với của Nora, rồi vẫy tay ra hiệu cho cô đi qua. Nora một lần nữa bước tới cánh cửa, xoay nắm đấm, lần này cửa bật mở. Barnes đang đứng sau bàn làm việc, nhét hồ sơ vào cặp tài liệu, chuẩn bị rời đi, kết thúc ngày làm việc. “Chào buổi sáng, Carly. Xe sẵn sàng chưa?” “Rồi, thưa bác sĩ Barnes,” cô trợ lý thánh thót. “Họ vừa gọi từ dưới cổng lên.” “Gọi xuống kiểm tra xem lò sưởi ở ghế sau đã bật chưa.” “Vâng, thưa ngài.” “Nora à?” Barnes hỏi, vẫn nhét tài liệu, không buồn nhìn lên. Thái độ lão đã thay đổi nhiều so với lần gặp trước tại tư dinh của lão. “Cô muốn bàn chuyện gì à?” “Ông thắng rồi.” “Tôi thắng? Tuyệt. Nói xem nào, tôi đã thắng gì thế?” “Kế hoạch của ông. Với tôi.” Lão ngập ngừng một khắc trước khi đóng cặp táp lại, cài khóa. Lão nhìn cô và thoáng gật gù, như thể không nhớ nổi đề nghị ban đầu của bản thân. “Rất tốt,” lão nói, rồi lục lọi ngăn kéo tìm món đồ nào đó lão suýt quên khuấy mất. Nora chờ. “Thế nên là?” cô hỏi. “Thế nên là,” lão đáp. “Giờ sao đây?” “Giờ tôi đang vội lắm. Nhưng tôi sẽ cho cô biết sau.” “Tôi tưởng… giờ tôi không quay lại nhà ông à?” “Sớm thôi. Lúc khác. Hôm nay bận rộn quá.” “Nhưng - tôi sẵn sàng rồi.” “Phải. Tôi đã tưởng cô sẽ hào hứng hơn nữa cơ. Đời sống trại tập trung
không thuận với cô hả? Không, tôi không nghĩ thế đâu.” Lão nhấc quai cặp. “Tôi sẽ sớm gọi cô.” Nora hiểu: lão cố tình bắt cô đợi. Kéo dài nỗi thống khổ của cô để trả thù việc cô đã không chịu trèo ngay lên giường với lão cái hôm ở tư dinh của lão. Lão già bẩn thỉu lộng quyền. “Và sau này xin hãy lưu ý là tôi không phải người cần chờ đợi ai. Tôi tin rằng giờ cô đã rõ. Carly?” Cô trợ lý xuất hiện ở ngưỡng cửa để ngỏ. “Vâng, bác sĩ Barnes?” “Carly, tôi không tìm thấy sổ cái. Cô tìm quanh rồi mang về nhà cho tôi sau nhé.” “Vâng, thưa bác sĩ Barnes.” “Xem nào, khoảng chín giờ ba mươi nhé?” Nora thấy cô trợ lý Carly không có vẻ mặt vênh váo thỏa mãn như cô tưởng mà thay vào đó là thoáng kinh tởm. Bọn họ thì thầm bước ra phòng ngoài. Thật nực cười, như thể Nora là vợ của Barnes vậy. Nora tận dụng cơ hội chạy tới bàn Barnes tìm kiếm xem xét bất cứ gì có thể giúp cho mục đích của mình, bất cứ mẩu thông tin nào cô không được phép thấy. Nhưng lão đã mang hầu như mọi thứ đi. Mở ngăn kéo ở giữa ra, cô thấy một tấm bản đồ khu trại vẽ bằng máy tính, mỗi khu một màu. Qua khu sản mà cô đã ghé qua, và cùng hướng với nơi theo cô hiểu là khu “nghỉ hưu” của trại, có một khu tên “Để Yên”. Trong khu này có một khu vực được tô bóng và dán nhãn “Ánh nắng”. Nora cố giật tấm bản đồ ra để mang theo người, nhưng nó bị dính chặt xuống đáy ngăn kéo. Cô nhìn kỹ lại một lượt, nhanh chóng ghi nhớ, rồi sập ngăn kéo lại vừa lúc Barnes quay về. Nora cố gắng hết sức che giấu vẻ tức giận để mỉm cười chào đón lão. “Thế còn mẹ tôi? Ông đã hứa với tôi…” “Nếu cô thực sự giữ lời, tôi tất nhiên cũng sẽ giữ lời. Thề trên danh dự hướng đạo sinh.” Rõ ràng lão muốn cô van xin, nhưng cô không thể buộc mình làm thế. “Tôi muốn biết bà ấy có an toàn không.” Barnes gật đầu, khẽ nhếch miệng cười. “Cô muốn đòi hỏi thì đó là chuyện của cô. Chỉ tôi mới có quyền quyết định bao giờ là thời điểm thích hợp cho việc đó cũng như mọi việc khác phát sinh bên trong những bức tường trại này.”
Nora gật đầu, nhưng giờ cô còn mải nghĩ đến chuyện khác, cô vặn cổ tay sau lưng, đẩy chuôi dao ra trước. “Nếu mẹ cô cần bị xử lý, bà ấy sẽ bị xử lý. Cô không có quyền ý kiến trong vấn đề này. Có khi chúng đã đến đón và đang chuẩn bị chén sạch bà ấy rồi. Tuy vậy, mạng sống của cô vẫn là một lợi điểm để thương lượng. Hy vọng cô sẽ đem nó ra trao đổi.” Giờ cô đã nắm chuôi dao trong tay. Cô siết chặt nó. “Đã hiểu chưa?” lão hỏi. “Hiểu,” cô nói qua hàm răng nghiến chặt. “Một khi được tôi gọi tới thì cô sẽ cần tỏ thái độ dễ chịu hơn nhiều đấy, nên hãy sẵn sàng đi. Và nhớ mỉm cười.” Cô muốn giết lão ngay tại chỗ. Từ văn phòng bên ngoài, giọng hốt hoảng của cô trợ lý phá hỏng bầu không khí. “Thưa ngài?” Barnes bước đi, một mình trở ra phòng ngoài, trước khi Nora kịp hành động. Nora nghe thấy tiếng bước chân đang chạy lên cầu thang. Bành bạch trên nền nhà: chân trần. Chân ma cà rồng. Một nhóm bốn con ma cà rồng từng là những người đàn ông to lớn xông vào văn phòng. Những tên tay sai xác sống ấy mang trên lớp thịt bèo nhèo những hình xăm thổ dân theo phong cách nhà tù. Cô trợ lý thở hổn hển, lùi thụt vào trong góc văn phòng khi thấy cả bốn tên đi vào ngay sau Barnes. “Gì đây?” lão hỏi. Chúng trả lời lão, bằng thần giao cách cảm - và rất nhanh. Barnes chưa kịp phản ứng gì thì chúng đã tóm lấy cánh tay lão và gần như nhấc bổng lão lên, vác lão chạy vút ra ngoài cửa, xuôi theo hành lang. Rồi tiếng còi trại rú lên lanh lảnh. Tiếng la hét ở bên ngoài. Đang có chuyện gì đó. Nora nghe ngóng, cảm nhận được cơn chấn động do những cánh cửa dưới lầu đóng sầm lại. Cô trợ lý ở nguyên trong góc, đằng sau bàn làm việc, điện thoại áp tai. Nora nghe tiếng bước chân nặng nề lao rầm rập lên cầu thang, ủng có nghĩa là người. Cô trợ lý rúm cả người lại trong khi Nora tiến ra cửa - đúng lúc thấy Fet lao vào trong.
Nora kinh ngạc không nói nên lời. Anh mang kiếm nhưng không còn vũ khí nào khác. Khuôn mặt toát lên vẻ dữ tợn của kẻ đi săn. Cô cười toe rạng rỡ. Fet liếc Nora rồi đến nữ trợ lý trong góc, sau đó quay người bỏ đi. Anh trở ra cửa, định rẽ vào góc hành lang, sắp khuất khỏi tầm nhìn thì dừng bước, vươn thẳng người ngoái lại. “Nora?” anh hỏi. Cái đầu trọc của cô. Bộ áo liền quần của cô. Anh đã không nhận ra cô ngay. “V,” cô đáp. Anh ôm chặt cô. Cô bấu lấy lưng anh, vùi mặt vào bờ vai nồng mùi do chưa tắm rửa của anh. Anh kéo cô ra ngắm lần nữa, vừa hân hoan với vận may lớn đã giúp anh tìm thấy cô, vừa cố hiểu nguyên do mái đầu cạo trọc kia. “Là em thật rồi,” anh nói, sờ da đầu cô. Rồi anh nhìn cô từ trên xuống dưới. “Em…” “Anh,” cô nói, khóe mắt ứa lệ. Lại không phải Eph. Không phải Eph. Là anh. Anh lại ôm cô. Có người theo sau anh. Gus và một cậu người Mexico nữa. Thấy Fet đang ôm một thành viên trọc đầu của trại, Gus bước chậm lại. Mãi một lúc lâu sau, cậu mới lên tiếng, “Bác sĩ Martinez?” “Tôi đây, Gus. Là cậu thật đấy à?” “Nhảm nhí! Tôi chứ ai,” cậu đáp. “Tòa nhà này là gì thế?” Fet hỏi. “Văn phòng hay gì? Mà em đang làm gì ở đây?” Trong một thoáng, cô không tài nào nhớ nổi. “Barnes!” cô nói. “Từ CDC. Lão điều hành trại - điều hành tất cả các trại!” “Lão ở đâu?” “Bốn ma cà rồng đô con vừa vào đưa lão đi rồi. Toán bảo vệ riêng của lão. Đi theo lối kia.” Fet bước ra ngoài hành lang vắng hoe. “Lối này?” “Lão có xe đợi ở cổng.” Nora bước ra hành lang. “Eph có đi với anh không?” Cơn ghen nhói lên. “Anh ta đang ở ngoài cầm chân chúng. Anh sẽ đuổi theo gã Barnes này cho em, nhưng ta phải quay lại chỗ Eph đã.”
“Và mẹ em nữa.” Nora nắm chặt áo Fet. “Mẹ em. Em sẽ không đi mà không có mẹ.” “Mẹ em?” Fet hỏi. “Bà ấy vẫn ở đây à?” “Em nghĩ vậy.” Cô ôm mặt Fet. “Em không tin nổi anh đang ở đây. Vì em.” Suýt nữa anh đã hôn cô. Suýt nữa anh đã hôn. Giữa đống hỗn loạn, bạo động và hiểm nguy này - anh suýt nữa đã hôn. Thế giới quanh họ đã biến mất. Chỉ còn cô - chỉ cô trước mặt anh. “Vì cô?” Gus hỏi. “Mẹ kiếp, chúng tôi thích trò giết chóc chó chết này, thế thôi. Phải không, Fet?” Cậu dừng lời, nhếch mép cười. “Ta phải quay lại chỗ thằng Bruno.” Nora theo họ ra cửa, rồi đột nhiên dừng khựng. Cô quay lại chỗ Carly, nữ trợ lý vẫn đang đứng sau bàn trong góc bên kia căn phòng ngoài, bàn tay cầm điện thoại buông thõng bên người. Nora bước nhanh về phía cô ta, Carly mở to mắt sợ hãi. Nora nhoài người qua bàn, bốc miếng bánh sô cô la còn lại trên đĩa giấy. Cô cắn một miếng rõ to, rồi ném chỗ thừa lên tường cạnh đầu nữ trợ lý. Nhưng trong giây phút chiến thắng, Nora chỉ cảm thấy tiếc thay cho người phụ nữ trẻ kia. Miếng bánh sô cô la cũng chẳng ngon như Nora tưởng tượng. Ngoài sân, Eph đang chém và chặt, cố hết sức dọn quang khoảng không gian quanh mình. Hai mét là giới hạn ngoại biên cho vòi chích của ma cà rồng; tổng cộng cả cánh tay lẫn kiếm của anh dài khoảng chừng ấy. Vậy nên anh liên tục phạt kiếm, tạc nên một đường tròn bạc, bán kính hai mét. Nhưng Bruno không theo chiến lược của Eph. Thay vì thế, cậu xử lý từng mối hiểm họa khi chúng xuất hiện, và bởi cậu là một sát thủ hiệu quả đến tàn nhẫn nên cho đến giờ, cách của cậu vẫn ổn cả. Nhưng cậu cũng mệt lắm rồi. Cậu đuổi theo một cặp ma cà rồng đang định tấn công cậu từ góc khuất, nhưng hóa ra đó chỉ là mẹo bịp. Thấy cậu đã dính bả lừa, đám Strigoi liền tách cậu khỏi Eph rồi chạy vào khoảng trống giữa hai người. Eph cố gắng chém bọn sinh vật kia hòng mở đường sang chỗ Bruno, nhưng lũ ma cà rồng vẫn giữ vững chiến lược: chia rẽ và tiêu diệt. Eph cảm thấy tòa nhà ở sau lưng. Vòng tròn bạc giờ đã thành một hình bán nguyệt, kiếm của anh giống như ngọn đuốc rực cháy giữ cho bóng tối ma cà rồng không lại gần. Vài con chúi xuống bò trên cả tứ chi, cố luồn bên dưới tầm với của anh, kéo chân cho anh ngã, nhưng anh đạp mạnh chúng, bùn
dưới chân anh chuyển sang màu trắng. Nhưng đống xác càng chất cao, bán kính an toàn của Eph càng nhỏ lại. Anh nghe tiếng Bruno gầm gừ, tiếp đó là hú. Bruno bị đẩy đến sát hàng rào cao vòng ngoài. Eph thấy cậu dùng gươm chém đứt một vòi chích, nhưng đã quá muộn. Bruno đã bị châm. Chỉ một khắc tiếp xúc, thâm nhập, nhưng thiệt hại đã rõ: bọn giun đã được gieo sang, mầm bệnh ma cà rồng đã đi vào máu cậu. Nhưng Bruno chưa bị hút kiệt hết máu và cậu tiếp tục chiến đấu, thậm chí còn sung sức hơn. Cậu tiếp tục đánh trả, dẫu biết nếu có sống sót sau cuộc công kích này, đời cậu cũng toi rồi. Cả tá giun máu quẫy lộn dưới da mặt và cổ cậu. Các Strigoi xung quanh Eph được thông báo về thành công này qua ngoại cảm, cảm nhận được chiến thắng nên cứ thế tùy tiện tràn về phía Eph. Một vài tên rời khỏi chỗ Bruno để nhập vào bọn ma cà rồng đang xông lên từ đằng sau, thu hẹp vùng an toàn của Eph. Khuỷu tay khép chặt hai bên sườn, anh vung kiếm cắt thẳng vào những khuôn mặt man dại của chúng, những yếm thịt tím lịm đung đưa cùng khuôn miệng há hốc của chúng. Một vòi chích vọt về phía anh, trúng bức tường gần tai anh, kêu đánh bụp như mũi tên. Anh chém đứt nó, nhưng vẫn còn nhiều vòi chích nữa. Eph cố duy trì một bức tường bạc, hai cánh tay và vai anh như hét lên đau đớn. Chỉ cần một vòi chích len qua nữa thôi. Anh cảm thấy quân đoàn ma cà rồng đông nghịt đang áp sát anh. Quinlan bỗng đáp xuống giữa trận loạn đả, tham chiến tức thì. Gã làm nên khác biệt, nhưng họ đều biết họ chỉ đang trì hoãn cơn sóng triều kia. Eph sắp bị đè bẹp. Mọi chuyện sẽ sớm kết thúc. Một ánh lửa sáng lóe lên giữa bầu trời trên đầu họ. Eph tin đó là pháo sáng hay thiết bị pháo hoa gì đó được bọn ma cà rồng bắn lên để làm tín hiệu báo động hay thậm chí là một cách chủ tâm đánh lạc hướng. Chỉ một giây mất tập trung là Eph tiêu đời. Nhưng ánh lửa kia cứ sáng mãi, mãnh liệt hơn và lan rộng ra trên đầu. Nó đang di chuyển, lên cao hơn anh nghĩ. Quan trọng hơn hết là cuộc tấn công của ma cà rồng đã chậm lại. Cơ thể chúng cứng đờ trong khi những mái đầu đang há hốc mồm ngửa về phía bầu trời đen đặc. Eph không thể tin nổi vận may của mình. Anh đã sẵn sàng đâm kiếm xuyên lũ Strigoi, nỗ lực dùng chút hơi tàn để chém giết, mở đường thoát thân…
Nhưng ngay cả anh cũng không cưỡng lại được. Ngọn lửa trời kia quá thu hút. Anh cũng phải liều mình liếc nhìn lên khung trời ô nhiễm. Ngang lớp tro tàn bao phủ hành tinh như một tấm áo tang đen, một ngọn lửa rừng rực đang rơi, gay gắt như ánh lửa từ một cây đuốc axetylen. Ngọn lửa cháy xuyên bóng tối như một ngôi sao chổi, một cái đầu lửa tinh nguyên dẫn theo một cái đuôi hèm hẹp. Ngọn lửa đỏ cam như giọt nước mắt khô héo kéo mở màn đêm dối trá. Chỉ có thể là vệ tinh - hay cái gì đó đồ sộ hơn - lao thẳng xuống từ ngoài quỹ đạo, tái nhập trở vào bầu khí quyển trái đất như một quả đạn đại bác bừng cháy phóng đi từ mặt trời thất trận. Các ma cà rồng lùi ra xa. Những cặp mắt đỏ dán chặt vào vệt lửa, chúng ngã dúi dụi vào nhau trong sự thiếu phối hợp hiếm hoi. Đây chính là sợ hãi, Eph nghĩ - hoặc cái gì đó tương tự. Dấu hiệu trên trời chạm đến tâm can chúng và chúng chẳng có cơ chế nào diễn tả nỗi kinh hoảng này rõ rệt hơn một tiếng hú và cảnh rút quân vụng về. Ngay đến Quinlan cũng hơi lùi lại. Bị choáng ngợp trước luồng ánh sáng và cảnh tượng này. Cháy rừng rực trên trời, cái vệ tinh rơi như ngón tay của Chúa rẽ đám mây tro dày đặc, giúp cho tia sáng ban ngày tàn bạo xuyên qua không khí, thiêu đốt tất cả, chiếu khắp bán kính ba dặm bao gồm cả các khu rìa ngoài nông trại. Lũ ma cà rồng bị thiêu đốt kêu la, còn Fet, Gus và Joaquin đón lõng chúng ở đầu bên kia. Ba người họ chạy vào đám đông hoảng loạn, chém hạ vòng ngoài trước khi cuộc tấn công của họ kịp châm ngòi cho một cơn bạo động dữ dội. Lũ ma cà rồng chạy tán loạn khắp nơi. Suốt một lúc, cột sáng đồ sộ chiếu lộ khu trại xung quanh họ. Tường cao, những tòa nhà gớm guốc, khoảng sân nhớp nhúa. Đơn điệu đến mức xấu xí, nhưng chính cái vẻ bình thường lại đầy đe dọa. Đây giống như khu hậu cần đằng sau một phòng trưng bày hay một gian bếp nhà hàng bẩn thỉu: nơi không dùng đến kỹ xảo, nơi công việc thực sự được tiến hành. Eph nhìn dải cháy ngang trời càng lúc càng rừng rực, phần đầu cháy mỗi lúc một to và sáng hơn rồi cuối cùng tự rụi đi, cái đuôi lửa giận dữ nhỏ dần cho tới lúc chỉ còn một cọng lửa liu riu - rồi chẳng còn gì hết. Đằng sau dải cháy ấy, ánh sáng ban ngày đang được mong ngóng cuối cùng cũng đã bắt đầu bừng sáng cả bầu trời, như thể được vệt lửa đúng lúc kia báo trước, vầng mặt trời mờ mờ tỏ tỏ sau đám mây tro, vài tia nắng lọt
xuống qua những đường phân giới và qua mấy điểm mỏng yếu trên cái kén ô nhiễm. Không đủ ánh sáng so với một bình minh sớm đúng kiểu thế giới cũ - nhưng thế đã là quá đủ. Đủ để đuổi những sinh vật kia tháo chạy xuống dưới lòng đất một vài tiếng đồng hồ. Eph thấy một tù nhân của trại đi theo Fet và Gus, và anh nhận ra ngay là Nora, bất chấp cái đầu trọc cùng bộ áo liền quần không ra hình thù gì của cô. Những cảm giác lẫn lộn trái ngược nhau ập đến trong anh. Dường như họ đã không gặp nhau tận vài năm chứ không phải chỉ vài tuần. Nhưng giờ còn có những vấn đề cấp bách hơn nhiều. Quinlan lui vào trong bóng tối. Khả năng chịu đựng tia UV của gã đã bị thử thách tới giới hạn. Ta sẽ gặp các ngươi… khi trở lại Columbia… chúc tất cả các ngươi may mắn. Nói xong, gã nhẹ nhàng nhảy bật qua tường, vọt ra ngoài trại. Trong nháy mắt, gã đã biến mất. Gus để ý thấy Bruno đang giữ chặt cổ, liền tiến lại. “Qué pasó, vato?” (37) “Thứ chết mẹ đó đang trong người tao,” Bruno nói. Tay anh chị nhăn nhó, liếm đôi môi khô, rồi nhổ xuống nền đất. Tư thế của cậu thẳng đuỗn và kỳ lạ, như thể cậu cảm nhận được lũ giun đang bò trong người mình. “Tôi toi rồi, mọi người.” Tất cả những người còn lại im bặt. Quá sốc, Gus sờ lên mặt Bruno, kiểm tra cổ họng cậu. Rồi kéo cậu vào, ôm ghì. “Bruno,” Gus kêu. “Lũ man mọi chết mẹ,” Bruno lầm bầm. “Cú ăn may khốn nạn.” “Mẹ kiếp!” Gus ré lên, lùi khỏi Bruno. Cậu chẳng biết phải làm gì. Chẳng ai biết. Gus bước ra xa, hú lên cuồng nộ. Joaquin tiến lại gần Bruno, mắt ầng ậc nước. “Chỗ này,” cậu nói, thọc mạnh mũi kiếm xuống nền đất. “Chỗ này đúng là địa ngục trần gian.” Rồi cậu giơ thanh kiếm hướng lên trời, gầm lên, “Con sẽ giết đến thằng hút máu cuối cùng nhân danh Người!” Gus nhanh chóng quay lại. Cậu chỉ vào Eph. “Nhưng anh thì ổn cả. Hả? Sao lại thế? Đáng lẽ hai người phải ở cùng nhau. Chuyện gì đã xảy ra với thằng nhỏ của tôi?” Fet bước vào giữa hai người. “Không phải lỗi của anh ấy.” “Sao anh biết được?” Gus hỏi, nỗi đau cháy rực trong mắt. “Lúc ấy anh ở với tôi cơ mà!” Gus quay phắt người, trở lại chỗ Bruno. “Mày nói đây là lỗi
của thằng chó này đi, Bruno, tao sẽ giết nó ngay lập tức. Nói đi!” Nhưng Bruno, ngay cả có nghe được Gus nói, cũng không đáp gì. Cậu đang xem xét bàn tay và cánh tay mình, như thể tìm lũ giun đang tràn vào trong người cậu. Fet nói, “Lũ ma cà rồng mới là bọn phải chịu trách nhiệm, Gus ạ. Hãy tập trung vào trọng điểm.” “Ôi, tôi đang tập trung đây còn gì,” Gus vặc lại. Cậu hằm hè di chuyển về phía Fet, nhưng Fet mặc kệ cậu tiến lại, biết rõ cậu cần phải xả hết cơn tuyệt vọng này. “Như một luồng laze chết mẹ. Tôi là Ninja Bạc.” Gus chỉ vào Eph. “Tôi đang tập trung đây.” Eph định phản bác nhưng đã kìm lại, nhận ra Gus không quan tâm thực sự đã có chuyện gì. Giận dữ là lối thể hiện nỗi đau duy nhất tay anh chị trẻ tuổi biết được. Fet quay lại Eph. “Cái gì trên trời kia?” Eph nhún vai. “Không biết. Tôi cũng sắp toi đến nơi, như Bruno. Chúng tràn đến tôi - xong đời rồi. Thế rồi thứ đó vạch ngang trời. Có cái gì đó đang rơi xuống trái đất. Khiến bọn Strigoi kinh hoảng. May mắn không tưởng.” “Không phải may mắn đâu,” Nora nói. “Nó là cái gì đấy khác.” Eph nhìn chăm chăm, bối rối vì cái đầu trọc lốc của Nora. “Cái gì khác là cái gì?” “Anh có thể phủ nhận,” Nora nói, “hay có khi anh không muốn biết. Có khi anh còn không bận tâm. Nhưng nó không tự nhiên xảy ra, Ephraim ạ. Nó đã xảy ra vì anh. Vì chúng ta.” Cô nhìn Fet và nói rõ. “Vì tất cả chúng ta…” Eph bối rối. Vì họ nên thứ gì đó mới cháy rụi trên khí quyển? “Cứ đưa em ra khỏi đây đã,” anh nói. “Cả Bruno nữa. Trước khi có thêm người bị thương.” “Không đời nào,” Gus nói. “Tôi sẽ đánh sập chỗ này. Tôi muốn tìm ra tên khốn đã làm thế với thằng nhỏ của tôi.” “Không được,” Nora nói, bước lên trước, người nhỏ bé nhất trong số họ. “Chúng ta phải cứu mẹ tôi trước đã.” Eph kinh ngạc. “Nhưng, Nora… em không nghĩ bà ấy vẫn còn ở đây đấy chứ?” “Bà vẫn còn sống. Và hơn ai hết, anh sẽ không tin ai đã nói cho em biết đâu.”
Nora kể cho Eph nghe về Everett Barnes. Eph thoạt tiên hoang mang, không hiểu sao cô lại đùa một chuyện như thế. Rồi anh kinh ngạc đến sững người. “Everett Barnes, điều hành trại máu?” “Điều hành tất cả các trại máu,” Nora chỉnh lại. Eph muốn phủ nhận, chỉ để rồi nhận ra chuyện này là thật. Điều tồi tệ nhất ở tin tức này là nó vô cùng có lý. “Lão khốn đó.” “Bà ấy ở đây,” Nora tiếp. “Lão nói mẹ em đang ở đây. Và có lẽ em biết bà ở chỗ nào.” “Được,” Eph đáp, mệt rã rời, băn khoăn không biết anh có thể đẩy vấn đề tế nhị này xa đến đâu. “Nhưng em vẫn nhớ trước đây lão Barnes đã định làm gì chúng ta chứ?” “Chuyện đó không quan trọng.” “Nora,” Eph không muốn tốn thêm thời gian không cần thiết trong cái bẫy chết người này. “Em không nghĩ lão Barnes sẽ nói cho em biết bất cứ điều gì…” “Chúng ta phải đi cứu bà ấy,” Nora nói, quay nghiêng người tránh mặt anh. Fet đến bênh cô. “Chúng ta có thời gian mặt trời chiếu,” anh nói. “Cho đến khi đám mây tro kia khép lại. Chúng ta sẽ đi tìm.” Eph nhìn chuyên gia diệt chuột bọ đô con, rồi nhìn lại Nora. Họ đang cùng nhau đưa ra quyết định. Eph bị áp đảo số phiếu. “Được rồi,” Eph nói. “Nhanh chân lên thôi.” Nhờ bầu trời hừng lên đủ cho một chút ánh sáng lọt vào thế giới - giống như công tắc đèn chậm rãi xoay từ chế độ tối nhất đến tối nhì - trại máu hiện lên như một nhà tù lẫn tiền đồn bẩn thỉu kiểu quân sự. Những búi thép gai cuộn chằng chịt trên đỉnh dãy hàng rào cao làm thành vành đai vòng ngoài.