Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp

chương

chương

chương và kết thúc lời nói của mình bằng đoạn sau: “Khi mưa rơi trên lưng các anh, các anh chỉ việc nghĩ đến “Phút mơ mộng của một người đi dạo cô đơn" của Giăng Giắccô Rút xô”. Để chặn đứng những mưu toan bỏ trốn, bộ đội Việt Minh quyết định tháo giầy của tù binh sau mỗi chặng đường. Việt Minh nghĩ bụng bọn Tây không thể trốn bằng chân không được. "Lầm to, Bécna Lốt viết. Những giấc mơ không cần có đạo cụ" Việc bỏ trốn cũng quyến rũ như tiếng gọi của các nàng tiên cá mà đám tù binh nghe hát suốt ngày. Muốn trốn phải lấy lại sức lực, phải có một ít lương thực, một la bàn và một niềm đam mê tự do mạnh mẽ. Dẫu chẳng có hàng rào kẽm gai và điếm canh nhưng bỏ trốn trên đất Việt Minh không dễ dàng gì. Cái hàng rào vững chắc, hầu như không vượt qua được đó là rừng rậm trên núi đồi và những làng mạc của người Thái sẽ phản lại những người bỏ trốn. Trước khi đến Mường Phan, nơi phân loại tù binh, đã xảy ra những cuộc bỏ trốn. Sự thành công là hiếm hoi. Đại úy Đờ Xalanh thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 8 xung

395 kích viết: "Từ thất bại năm 1940 mà tôi đã từng chứng kiến, tôi rút ra bài học: chính ngay từ đầu của thời gian bị bắt mới có nhiều cơ may nhất để trốn thoát”. Có trung úy Rắcca, thượng sĩ nhất Guy Bôsê và trung sĩ nhất Misen Lôcô cùng đi, Xalanh lợi dụng đêm ngày 7 rạng ngày 8-5 đã có một cố gắng đặc biệt để rời khỏi khu vực có những đơn vị Việt Minh đóng quân. Theo Rắcca, họ có hai ngày lương thực và hai la bàn. Họ hiểu biết địa hình vì đã từng đi với tiểu đoàn 8 xung kích khi tập kích Sốp Nao. Đầu tiên họ đã mất sức để vượt qua hàng rào các bụi gai lớn trong đêm, rồi tranh thủ ngủ vài giờ. Đến sáng sớm, họ lại ra đi, leo lên những sườn núi dốc, tụt xuống những vực sâu rồi lại leo lên.. Xalanh ngoái cổ lại, nhìn thấy thung lũng sông Nậm Rốm sau lưng họ "đẹp như một đồng cỏ xanh rờn, có muôn ngàn hoa cúc nở, những chiết dù trắng bỏ lại trên trận địa". Họ lại tiếp tục đi, ngày lại ngày, có lúc toát mồ hôi lạnh khi vượt đêm một đường mòn có những đơn vị Việt Minh đi qua. Phải để họ đi qua, thu mình lại và lặng lẽ như mèo rình chuột, bên cạnh con đường đã chọn nhưng có nhiều người qua lại "Giống như một đại lộ, Rắc ca nói, mà chúng tôi phải đợi đèn xanh lâu để cho mọi việc được an toàn". Năm sáu ngày sau khi xuất phát, đói quá, họ mò vào một làng, hy vọng kiếm được gà, lợn, thịt hun khói và cơm nếp thơm. Họ có những đồng bạc, họ có thể trả tiền." Xalanh kể: “Chúng tôi mới đến thì dân làng đã vây quanh, gồm cả một đám trẻ con. Không có lính Việt Minh. Chúng tôi thương lượng để có cái ăn và chỗ trú. Họ có vẻ sợ Việt Minh đến. Nhưng rốt cuộc họ để chúng tôi ở trong một túp lều xa lánh và đưa đến cho chúng tôi nhiều cơm, xôi”. Với các chỉ dẫn của những người Mèo, ngày hôm sau họ lại lên đường. Hai ngày sau, còn đói hơn, họ lần theo một con suối và ở một khúc quanh họ đến trước một làng, ở kéo dài ra. Làm thế nào? Vòng qua làng thì mất nhiều sức lực, với lại nếu muốn ăn... Phụ nữ và trẻ con nhìn họ, bỗng nhiên có những người cầm súng trường và mìn chống tăng xuất hiện. Họ hoảng sợ, định nổ súng và Rắcca nghĩ một khi bị trói, anh "có cảm giác rờn rợn là sẽ bị một viên đạn vào gáy”. Một sợi dây thòng lọng quàng quanh cổ, người trước nối liền với người sau và hai người Mèo đưa họ đi đến chỗ các bạn Việt Minh của họ. Những người lính dù này không gặp may, họ rơi vào một làng Mèo mới theo Cộng sản. Ở các điểm Êlian 12, trung úy Pagie và người bạn là đại úy Phơrăngsê cũng

396 muốn trốn ngay từ đầu, nhưng Việt Minh đến rất nhanh sau khi ngừng bắn và họ đã phải giơ tay lên ra khỏi hầm và đẩy vào một đoàn tù binh đi xa đến mười lăm kilômét. Lợi dụng một lúc đi lấy nước, cùng với Phơrăngsê và thiếu úy Ria, Pagie chuồn vào rừng nhưng, không có súng, không lương thực, không la bàn, họ sẽ chẳng gặp may. Họ đi trong rừng, leo lên sườn núi, đến một cái hang nguyên là kho đạn pháo 105, qua đêm ở đó. Ngày 8-5, họ theo đường mòn mà đi gặp một túp lều của một gia đình người Thái có nồi cơm đang nấu. Trong lúc ăn cơm, họ thấy một người Việt ở trong góc nhà đang chăm chăm nhìn họ, chẳng nói năng gì. Họ thấy truyền đơn Việt Minh ở đầu cái túi mà người này ôm chặt. Hỏi bằng tiếng Thái, người này không trả lời, mới biết người này là cán bộ cấp thấp của Việt Minh đi rải truyền đơn. Ba viên sĩ quan không giết người này, nhưng cũng sơ suất không trói lại cũng không trói gia đình người Thái, rồi ra đi vội vàng như bị ma quỷ đuổi, định chuồn thật nhanh nhưng họ bị phát hiện, bị đuổi, rồi bị bắt, tay bị trói quặt sau lưng. Bị dẫn đến trước một cán bộ Việt Minh, người này nói gọn ghẽ: "Nếu còn tiếp tục, các anh sẽ bị xử bắn!". Trung sĩ nhất Alêcxăngđơrơ Buséc thuộc tiểu đoàn 8 xung kích, khi ngừng bắn, bị bắt ở cứ điểm Êpécviê, bị dẫn đi đến cầu Mường Thanh, nhưng anh ta đã trốn đi và lúc trời sắp tối đến một bìa rừng thì chạm trán với một toán Việt Minh. Người chỉ huy hỏi anh bằng tiếng Pháp. Anh là ai, làm gì, đi đâu? Bị nhiều mảnh đạn nhỏ xíu ở mặt, Buséc có cái đầu ghê sợ. Anh giả làm bộ ngớ ngẩn như bị bệnh quên, nhưng không bịp được người nói chuyện với anh. Thế là anh bị bắt, người ta vặn cánh tay phải anh và giáng cho một đòn gậy tre vào bắp tay. Anh bị trói hai cổ chân, hai cổ tay lại và một lính gác ngồi cách anh hai mét canh giữ còn những người khác đã ngủ say. Áo Buséc không gài khuy, Việt Minh tưởng anh không có vũ khí nên không khám xét. Thật ra anh ta buộc ở bắp chân một cái kìm dẹt nhiều lưỡi bọc bằng vải nhựa cách điện. Anh ta cởi trói dưới cổ chân và lần ngón tay vào chân lấy được cái kìm ra, rồi lại cởi trói được hai cổ tay. Người lính gác gật gù vì buồn ngủ. Nhưng nhờ muôn ngàn tiếng động của rừng núi về đêm che lấp, anh lính dù “bò từng xăngtimét đến người lính gác ngủ gật và nhảy lên bóp cổ giết chết người gác vào lúc 23 giờ 10 phút" rồi nhẹ nhàng luồn qua những người nằm ngủ, phóng ra ngoài rừng, nhìn sao đi về hướng Lào, đi cho đến 5 giờ sáng. Vừa đói, vừa khát, anh ta tìm chỗ nằm ngủ đến 14 giờ. Tỉnh dậy anh ta đi tiếp được gần 2 kilômét thì gặp một toán tuần tra của Việt Minh. Bỗng một ý nghĩ lóe ra, anh khai là y tá của trạm giải phẫu Grauuyn, anh đi tìm người bị thương nên bị lạc. Gặp đúng trường hợp đội tuần tra định đi đến phân khu trung

397 tâm, anh đi theo họ. Đến trạm giải phẫu, Buséc thấy thiếu tá Grauuyn, anh chạy lại gặp, giải thích tình hình. Bác sĩ hiểu ngay: “Đúng là người của chúng tôi, ông nói với đội trưởng đội tuần tra, chúng tôi đang tự hỏi là anh ta ở đâu?. Thế thì giữ anh ta lại đấy. Đội trường nói rồi đi. Buséc, vốn là thành viên của Liên đoàn biệt kích hỗn hợp từ năm 1952, hiểu rằng cần giữ mồm, giữ miệng về chuyện đã qua, cũng như về cái chết của người lính gác và nghiễm nhiên trở thành y tá hạng hai trong lúc chờ một cuộc trả tự do cho nhân viên y tế theo giả thuyết.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 103

Đang tải bình luận...
chương - Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp | DocTruyen.vip | DocTruyen.vip