hồi lâu”. Với năm sĩ quan loại khỏi chiến đấu trong đó ba người bị chết, tiểu đoàn 3, bán lữ đoàn 13 có còn sức chiến đấu không? Trên các cao điểm thứ nhất, đại đội 9 và đại đội 11 là mục tiêu của hỏa lực bộ binh, điều đó chứng tỏ địch rất chú ý đến họ dần dần theo sự tiến triển của các đợt xung phong đầu tiên. “Đại liên, cối 120 và đại bác không giật (DKZ) bắn vào lô cốt và vào lỗ châu mai của chúng tôi, trung úy Tuyếcpanh làm chứng. Không nhìn thấy gì nữa vì khói đạn, đài quan sát của đại đội 11 không còn sử dụng được nữa. Điện báo viên của tôi gọi sở chỉ huy tiểu đoàn và chuyển cho tôi ống tổ hợp vừa lúc một quả đạn trúng lô cốt làm cho nó hình như nổ tung trước khi sụp xuống. Tôi bị xô vào vách
83 hầm và thấy đau nhói ở cánh tay phải, một tia máu làm ướt đẫm mặt bên phải. Với sự va chạm đó, trong đám bụi và đống đổ nát, tôi không thấy điện báo viên cũng không thấy người hầu cận của tôi là Kesle, những người vừa ở bên tôi”. Thấy viên sĩ quan gặp khó khăn, trung sĩ Rôdiê liền đặt ga rô vào cánh tay nhưng Tuyếcpanh nhận thấy máu ở mặt là từ chỗ thái dương bị những mảnh đạn nhỏ xíu đâm vào, cùi tay phải của anh bị vỡ và không hoạt động nữa. Rôdiê đắp những miếng gạc vào nhưng viên sĩ quan thấy khó ở. Khi bình tĩnh lại, anh giao nhiệm vụ cho Phen, thượng sĩ của đại đội phối hợp việc phòng ngự. Điện báo viên đã bị giết, điện đài bị phá hủy, điện báo viên thứ hai, Xêganh, cố tiếp xúc với sở chỉ huy của tiểu đoàn 3, bán lữ đoàn 13 bằng máy SCR 300 thay thế nhưng chỉ nghe được những tiếng lách tách. Đại đội 11 đã mất liên lạc với tiểu đoàn. Các trung đội Kêin và Rôdiê dùng liên lạc viên báo cáo rằng họ đã bị những mất mát đau đớn và có nhiều người bị thương; trung sĩ Báctôli đem đến một tin xấu: tất cả các pháo thủ súng cối đều chết và súng cối trở nên vô dụng. Tuyếcpanh: "Không một chút tạm ngừng nào trong cuộc dập pháo này. Ngay từ đầu, cao điểm của chúng tôi đã chìm đi trong một đám mây bụi; phía bắc, đại đội cũng bị những làn đạn bắn hủy diệt như thế. Một quả đạn nổ trên bờ hào, hắt cả một chùm đất và đá sỏi vào mắt tôi". Lại một lần nữa bị hắt xuống mặt đất, ngã xuống đè lên cùi tay đã bị gãy, anh cắn răng lại để khỏi gào lên trong đau đớn; từ nay anh chỉ nhìn bằng một con mắt. Đêm xuống trùm lên thung lũng, và đó là thời điểm thuận lợi cho cuộc xung phong. Cuộc pháo kích dữ dội đến nỗi trong các đại đội bị bụi bao phủ, rất ít lính lê dương nhìn thấy các bom chiếu sáng do máy bay Đacôta - đom đóm (Chú thích: Một máy bay Đacôta - đom đóm bay trên chiến trường. Trong bốn giờ những người thả dù tung qua cửa máy bay những quả bom chiếu sáng rồi khi dự trữ đã hết, nhường chỗ cho máy bay khác.) ném xuống trên bãi chiến trường. Đúng là các con mắt đang dồn xuống chân các cao điểm, ở đó một tổ kiến người hoàn thành việc chiếm lĩnh vị trí để chiếm lấy Bêatơrít. Đây là tên mà Việt Minh gọi Bêatơrít. Tướng Giáp đã dự kiến rằng một phần ba số pháo của ông sẽ bắn vào Bêatơrít và hai phần ba kia vào phân khu trung tâm, mục tiêu là các khẩu đội của đại tá Pirốt nhưng đặc biệt là các sở chỉ huy đã được định vị từ lâu rồi, sự phá hủy chúng như đã diễn ra ở sở chỉ huy Bêatơrít, phải làm rối loạn tổ chức phòng ngự của tập đoàn cứ điểm. Mặc dầu có vài phát đạn 75 bắn nơi này nơi kia và làm cho người ta tưởng rằng có những khẩu pháo di động, pháo binh của tướng Giáp giữ cho
84 đến 13-3. Bây giờ những phát đạn 105 liên tiếp nổ và các khẩu pháo của Việt Minh ẩn nấp dưới những lớp đá dầy vững chắc và ngắm bắn thẳng. Đại tá Pirốt, bậc thầy lớn của pháo binh, lập một biên bản ghi nhận làm ông phải nao lòng: bốn khẩu 155 của đại úy Đêan không còn khả năng phản pháo như đã hứa với bộ binh. Điều làm ngạc nhiên các người phụ trách ở Điện Biên Phủ là nhịp độ bắn của các khẩu pháo địch. Rõ ràng, Việt Minh không quan tâm việc tiết kiệm đạn và các giả thuyết về khối lượng dự trữ đạn pháo được dân công của tướng Giáp tải đến tận nơi, cho thấy là sai lầm. Ở Isaben mà việc giã pháo là liên tục, Lalăng lưu ý "khả năng của địch là khoảng 3000 phát đối với người lạc quan, 9000 phát đối với người bi quan, có thể ở mức tối đa là 10.000 hoặc 11.000”. Lăng le tin ở giả thuyết thấp nhất: "Người ta biết là có pháo, nhưng người ta tin rằng không có đạn mà bỏ vào đó. Giả thiết là họ có 4000 đến 5000 quả. Và người ta cho rằng với một chu vi như của chúng ta, số đạn này sẽ bắn chóng hết". Sự bất lực của không quân trong việc định vị và phá hủy các pháo địch là mục tiêu của những lời chỉ trích gay gắt. Tướng Đờ sô toan giải bày trước ủy ban điếu tra của Catơru vì sao máy bay không thể bít mồm pháo địch được: “Những người giải mã của lục quân và của chúng tôi đã vắt óc tìm vị trí của các khẩu đội pháo, đã mô tả cho chúng tôi cách ngụy trang của chúng... Có những khẩu pháo để trong đường hầm, cách cửa hầm sâu vào bên trong đến 6m, được kéo đến, bắn, kéo lui, lỗ hầm được bít lại và ngụy trang ngay”. Các cố vấn Mỹ khuyên nên dùng các bom lớn, tiếp sau đó là dùng bom napan, nó sẽ thâm nhập vào trong hầm. Lời khuyên đó có thể áp dụng ở đồng bằng, còn ở địa hình đồi núi có rừng che phủ, làm một đường tiếp cận mục tiêu cho máy bay khu trục bay là là mặt đất để ném bom và napan, là không thể được. Dù sao đi nữa, muốn ném bom và napan thì phải biết vị trí các khẩu pháo địch, mà về điểm này thì quân báo đã bó tay. Chẳng ai có thời giờ để đếm các tiếng nổ hoặc để theo dõi đạn vạch đường làm rực sáng bầu trời Bêatơrít. Pháo binh Việt Minh bắn theo nhịp độ dày vào các mục tiêu đã định vị sẵn từ lâu và các lớp gỗ cây phủ đất đã nhanh chóng phá vỡ giới hạn hiệu quả của chúng. Với đạn cối 120, giới hạn đó còn tin cậy được nhưng đây lại là đạn pháo 105... Các pháo thủ của Việt Minh không phải làm những bài tính uyên bác gì, họ chỉ cần ngắm bắn trực tiếp vào mục tiêu bởi vì các sở chỉ huy và bệnh xá dưới đất đều ở trong một bán kính một trăm mét. "Hiển nhiên, Lăng le thừa nhận, đó không phải là một điều khôn ngoan lắm. Bệnh xá cách sở chỉ huy của tôi 50 mét, Caxtơri cách 10 mét, ở phía bên kia đường còn Gô sê cách Caxtơri hơn 10 mét. Chỉ cần ngắm vào giữa là chắc chắn bắn trúng một".
85 Đường liên lạc điện thoại bị cắt đứt nhưng các máy vô tuyến điện vẫn hoạt động và Lăng le có thể liên lạc với Ghirô và Turê nếu ông thấy cần. Ở tiểu đoàn 8 xung kích, nhiều hầm trú ẩn không chịu đựng được và trung đội xung kích của trung úy Bayi, ở đây trung sĩ Lơglanh đã thay thế thượng sĩ Đuýtxanh bị thương. Lơgranh: “Tôi đang đứng ở cửa hầm trú ẩn và ra lệnh cho trung sĩ Rápphiê và Miê thì một quả tạc đạn nổ. Bụi che phủ hết. Phrăngxít Rápphiê đi ra, tay ôm ngực, Giô dép Miê dường như ngây dại, còn hầm trú ẩn thì bị tàn phá. Quả đạn đã chọc thủng mái trước khi nổ, hạ sĩ Tít bị mất hàm và một chân, anh sắp chết. Ba người Việt khác chết và tôi có 9 người bị thương nặng, trong đó có hai trung sĩ nhất, Bari và Guyơmô”. Tooctôli bị chết trong một hầm trú ẩn khác. Ở nơi chọn lọc, bác sĩ Grauuyn thấy dòng người bị thương kéo dài trước trạm quân y, họ là người của tiểu đoàn 8 xung kích, mà cả của tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc, những người từ Huy ghét, từ Clôđin, những người bị thương đầu tiên thoát ra từ Bêatơrít. Dòng người đẫm máu tràn ngập hào giao thông chưa được công binh che chắn lại. Nếu một quả đạn nổ thì sẽ là một cuộc tàn sát. Vào 19 giờ 50, đại tá Đờ Caxtơri gọi Lăng le thông báo là anh sẽ chỉ huy phân khu trung tâm. Lăng le chưa hiểu ngay: "Thế Gô sê... - Gô sê chết rồi, tôi không còn ai nữa”. Cũng như ở sở chỉ huy Pê gô, một quả tạc đạn vừa tàn phá sở chỉ huy của bán lữ đoàn lê dương ngoại quốc thứ 13 đã giết chết hoặc làm bị thương tất cả các sĩ quan. Bán lữ đoàn này bị tổn thất nặng nề vì ba sĩ quan ở sở chỉ huy Bêatơrít đã bị chết vì pháo binh Việt Minh. Đến lượt sở chỉ huy Gô sê. * * * Thiếu tá Máctinenli phó chỉ huy viết trong nhật ký của ông: “Trung tá ngồi trước một chiếc bàn gấp và nghiên cứu một bản đồ, xung quanh là Bayi và Brettơvin đang đứng nhìn bản đồ. Va đô đứng ở cửa đường hào dẫn sang hầm trú ẩn đơn vị thông tin, tôi ngồi ở một ghế dựa, hơi lùi về phía sau. Giô dép, hầu cận của trung tá, ngồi dưới đất bên cạnh tôi. Tôi dùng điện thoại chỉ huy bắn cối hạng nặng chi viện cho Bêatơrít. Lúc đó, tạc đạn rơi như mưa xuống chúng
86 tôi. Đạn bắn từng loạt, từ hai đến mười hai quả, cách nhau vài phút”. Một cửa sổ thông hơi đã được trổ sát mặt đất ở phía ngoài hầm trú ẩn. ở phía trong nó mở ra ở ngang tầm trần hầm làm bằng gỗ cây. Khi pháo kích mới bắt đầu, lính lê dương đã che nó bằng các túi đất. Một quả 105 chắc đã chọc thủng các túi đất, làm chúng tan vụn ra khi đạn nổ, tung vào hầm một trận mưa đá đất cứng và một chùm mảnh đạn. “Đã gần 19 giờ 45, Máctillenli viết tiếp. Tôi không nghe thấy một tiếng gì hết nhưng ánh sáng đã tắt và tôi cảm thấy mình bị nâng lên và ném lên phía trước trong sự tối tăm. Tôi ngã sấp bụng xuống đất và cảm thấy những vật nặng đè lên hai chân. Tôi còn kịp nghĩ rằng các thân cây làm trần hầm sẽ tiếp tục sập xuống và chôn tôi nhưng, chẳng có gì xảy ra cả, tôi nhổm dậy và tiến ra phía ánh sáng mờ ảo của hoàng hôn ở cửa vào hầm qua một đám mây khói. Tôi đụng phải Giô dép cũng hướng ra phía đó: "Cậu không sao? Tôi hôi. Cậu ta trả lời: "Không sao và thêm: "Còn thiếu tá? Tôi định trả lời "Không sao" thì nhận thấy xương ống chân phải bị dập đôi ở giữa khi tôi dựa vào chân. Tôi nghe tiếng trung tá nói trong hơi thở: "Lạy chúa, lạy chúa tôi...” . Máctinenli cho người hầu cận đi gọi bác sĩ trưởng Lơ Đamany và đưa người đến dỡ hầm. Bản thân ông cũng đi theo đường hào và gặp Lơ Đamany, mời bác sĩ đi vào sở chỉ huy, trước khi tìm đến một hầm trú ẩn bên cạnh để nằm xuống trên đệm rơm của một lính lê dương. Quả đạn đã nổ trên bàn làm việc của Gô sê (Chú thích: Giuyn Gô sê, 48 tuổi là trung tá thứ 3 của bán lữ đoàn lê dương ngoại quốc thứ 13 bị chết trong chiến đấu. Trung tá Amilakvari của lực lượng Pháp tự do, bị giết năm 1943 ở Li bi và trung tá Xêrinhê đã chết trong cuộc tấn công đoàn xe đi Đà Lạt ngày 1-3-1948.). Lơ Đamany không thể làm gì được nữa và khi ông dừng lại trước trung tá thì ông ấy vừa tắt thở. Các trung úy Bayi và Brettơvin đã bị giết và Máctinenli nghĩ rằng có lẽ đó là Brettơvin khi ông cảm thấy một khối gì đó đè lên chân mình và tưởng là trần hầm sụt xuống. Thiếu tá Va đô bị những đất và đá sỏi tung vào mặt, vào ngực và cha Hanh rích đã rửa tội cho Gô sê. Lăng le không để mất thời gian. Cùng với thiếu tá Va đô và trung úy Ginbe Roai, ông đã lập lại sở chỉ huy mới và yêu cầu Lơgrăng kiểm tra liên lạc bằng điện thoại và vô tuyến điện. Đúng là sở chỉ huy cũ đã biến thành sắt vụn. “Ở đó là một sự hỗn độn khó tả, đại úy Vécdanhan kể. Suýt nữa thì cũng chịu một số phận như ở chỗ Gô sê nhưng, nhờ Chúa phù hộ, các thiệt hại được coi là nhẹ và có thể dễ dàng khắc phục. Phòng ăn chung của hạ sĩ quan không còn nữa,
87 một quả đạn 105 đã phá hủy tất cả. Người ta tính có 25 điểm rơi của đạn 105 trong một bán kính 20m xung quanh sở chỉ huy. Một quả trong số đó đã phá hủy cửa vào hầm trú ẩn của sĩ quan, một quả khác nổ gần một cửa thông hơi, trên bàn của trung tá, một quả thứ ba chui vào hầm trú ẩn, cắm vào vách nhưng không nổ". Ít lâu sau cái chết của Gô sê, lính lê dương ở Bêatơrít - không biết tấn thảm kịch này - nghe những tiếng la ó rất to. Pháo binh địch đã chuyển hỏa lực, đại bác không giật và cối đã lấy mồi tiếp nổ, bắn dưới ba trăm mét vào các ổ đại liên đang dùng hỏa lực đan chéo trên hàng rào kẽm gai nơi Việt Minh đang cố mở đột phá khẩu. Đợt xung phong đầu tiên của "những người nhỏ bé mặc áo xanh” lao lên vượt qua hàng rào kẽm gai. Không phải lúc nào cũng là bộ đội chính quy, mà còn có cả dân phu cuồng tín. Họ luồn những ống tre dài nhồi thuốc nổ vào dưới dàn kẽm gai và điểm hỏa theo kiểu thô sơ; những người không đạt được kết quả tức thời thì nằm lên dây kẽm gai, và làm nổ với dây đai đầy chất nổ dẻo mang xung quanh người. Đằng sau họ, những người Việt Minh khác dùng kìm cắt để mở rộng cửa cho đợt thứ hai xông lên, đợt này phải chiếm được mục tiêu. “Ở cấp tôi, Nicôla, bộc lộ, sau khi nắm quyền chỉ huy ở Bêatơrít, tôi khó chịu nổi cách thức mà những xạ thủ đại liên nhìn làn sóng xung phong đang gào thét dâng lên về phía họ. Sự chờ đợi càng vất vả hơn, những phút tính bằng hàng giờ. Về thực chất hành động luôn luôn ngắn gọn và đột khởi. Trên trận địa trung tâm, chúng tôi vẫn giữ vững, bất chấp những tổn thất gây xúc động... Trong lúc tôi đang di chuyển trên đài quan sát, một kiểu hầm trú ẩn bao quanh vị trí, một viên đạn đại bác không giật đã nổ dưới mắt tôi, trên cửa sổ để ngắm bắn. Một luồng ánh sáng rực chói, một tiếng nổ xé tai, sức ép của nó xô tôi ngã xuống đất và... chẳng bị xây xát tí gì. Đài quan sát bị phá hủy, tôi không quá lo lắng, vì trời đã về khuya và cuộc tấn công của Việt Minh đột nhiên chấm dứt”. Tuy nhiên, ở Bêatơrít, danh mục các tin xấu kéo dài: ở đại đội 9, trung úy Carie (Chú thích: Sinh năm 1923 ở Sathonay, thiếu sinh quân, Ăngđrê Carie gia nhập trung đoàn 3 bộ binh Angiêri năm 1941. Trung sĩ năm 1943, bị bắt ở Tuynidi, giam ở Italia. Người Đức thả ra. Tìm lại trung đoàn 3 trong vùng Vốtgio. Năm 1945 trung sĩ nhất. Học trường Esmia năm 1946, thượng sĩ rồi chuẩn úy tháng 3- 1947. Thiếu úy năm 1948, xuống tàu Pastơ tháng 3-1949. Bổ nhiệm về trung đoàn bộ binh thuộc địa 23; trung úy 4-1950, bị thương vì mìn. Về nước tháng 7- 1951. Cưới vợ tháng 4-1952, có 1 con gái. Được cử sang Đông Dương lần 2, xuống tàu tháng 12-1953. Về tiểu đoàn 3, bán lữ đoàn 13 tháng 1-1954.) vừa mới bị giết và trung úy Gioócgiơ Giê gô dùng liên lạc viên báo cáo anh đã nắm quyền
88 chỉ huy. Giê gô, người nhỏ bé, mảnh dẻ, đôi mắt xanh hay cười nhưng có thể trở thành sắc nhọn như mũi kiếm. Các bạn bè gọi anh là "con mèo". Ở đại đội 11, thượng sĩ nhất Kiên vừa báo cho trung úy Tuyếcpanh rằng bộ binh Việt Minh đã ra khỏi hầm của họ và đang tiến qua những rào kẽm gai bị nhổ. Mô đất ở phía đông nam, nơi có một lô cốt giả, đã bị địch chiếm. Bắt được một lời kêu gọi mới trên vô tuyến điện của đại đội 9: Giê gô hỏi có viện binh không? Trả lời anh như thế nào bây giờ? Sau khi y tá đại đội 12 đã băng bó cho anh, Cruidơ đã trở lại vị trí của mình và bằng vô tuyến điện, Giê gô cho anh biết những người sống sót của đại đội 9 đã rút lui ngay về trận địa của anh; Giê gô chẳng có nhiều quân nữa để ngăn chặn địch thâm nhập vào chiến hào của mình, đại đội của anh đã bị loại khỏi cuộc chiến, anh cũng không thể mang người bị thương của mình đi. "Ít lâu sau, Cruidơ nói, trong sự ồn ào, tói thấy một hạ sĩ quan và vài người của đại đội 9 đi tới. Giê gô không đi với họ và tôi nghĩ rằng anh ấy đã bị giết chết trong khe máng ngăn cách hai điểm tựa”. Tuyếcpanh thấy cần cho mọi người biết đại đội của anh vẫn cầm cự, anh cho tung ra một thông tin giả trên sóng vô tuyến điện: "Đây là đại đội 11, chúng tôi vẫn giữ vững, đây là đại đội 11, chúng tôi vẫn giữ vững!” Anh cử thượng sĩ nhất Fen đi nắm tình hình hai trung đội ở đầu sóng ngọn gió nhất. Fen trở về báo cáo họ đã bị loại khỏi vòng chiến, lô cốt bị phá hủy, các hào giao thông và vị trí xạ kích bị đạn pháo cối làm lộn tung lên. Có cảm giác như hàng tấn đất đã bị đảo lật lên, một kiểu công trường bỏ hoang. Tuyếcpanh: "Tôi cử Xêganh đến sở chỉ huy của tôi để tìm kiếm trong đống đổ nát bảng điểm hỏa mìn dẹt và những thùng napan và nếu có thể thì làm cho nó hoạt động. Anh ta không trở về”. Đó là ý tưởng của thiếu tá Xuđra. Những liều thuốc nổ và những thùng napan chôn dưới hàng rào kẽm gai và một máy kích nổ bằng diện để từ xa điều khiển nổ khi bộ binh Việt Minh thâm nhập vào hàng rào kẽm gai. Cuối cùng Xuđra thừa nhận "nó chỉ sử dụng được có một lần, khi đợt xung phong đầu tiên đi qua còn việc kích nổ dẫu có chôn dưới đất vẫn thường bị cắt đứt, bị bằm nát bởi pháo kích trước khi xung phong, như trường hợp ở Bêatơrít. Phương pháp này có một sức công phá hiếm thấy. Trong tháng giêng một mìn dẹt bị kích nổ vì biến cố bất ngờ trong lúc thay quân ở Élian, một công binh làm việc cách 200 mét đã bị giết chết và hệ thống bị phá hủy trên hơn một 150 mét".
89 Khoảng 20 giờ 30, lợi dụng lúc tạm yên, Tuyếcpanh, thấy cánh tay gãy của mình bị tê liệt, những người thoát nạn của đại đội anh, khoảng ba chục lính lê dương, được rút về các vị trí của đại đội 12. Anh đã kiệt sức và suýt ngã dọc đường nếu Kissler, người giúp việc không dìu anh. Ý định đi báo cáo với sở chỉ huy tiểu đoàn nhưng anh đã đánh giá quá cao sức chịu đựng về thể lực của mình cho nên cứ đi được sáu mét thì anh lại phải dừng lại nghỉ để lấy sức. Anh sững sờ nghe tin về cái chết của thiếu tá Pê gô và đại úy Pácđi. Rồi một y tá giúp anh đi đến bệnh xá để bác sĩ Lớt đơ săn sóc. Bác sĩ cho anh biết đại úy Nicôla và trung úy Mađơlanh tổ chức đề kháng trên cao điểm chính. Máy bay - đom đóm bay trên trận địa và những quả bom sáng của nó truyền đi "một ánh sáng lờ mờ tang tóc phần nào phi thực tại, thậm chí là điểm báo trước". Gần nửa đêm khi các súng cối hạng nặng, rồi các DKZ lại pháo kích và tập trung hỏa lực vào cao điểm chính vì ở đây các đại liên đã được tiếp tế đạn dược. Việt Minh đã tổ chức lại lực lượng chiến đấu để đè bẹp được “ngọn đồi cuối cùng" dưới hỏa lực của họ. Khi những quả đạn cuối cùng của việc chuẩn bị hỏa lực đã nổ trên trận địa Pháp, những tiếng la ó mới lại vang lên. "Cuộc xung phong cuối cùng...", lính lê dương suy nghĩ. Những loạt đạn bằng súng tự động làm inh tai nhưng hai bên đối địch, do địa hình của vị trí, chỉ cách nhau chưa đầy năm mươi mét, và Việt Minh, trên sườn của cao điểm, chuẩn bị tràn vào ô vuông cuối cùng của Bêatơrít. Nicôla: “Một đợt xung phong mới được tung ra vào khoảng 23 giờ 30 vào đại đội 12. Đợt xung phong này cực kỳ mãnh liệt nhưng một khẩu đại liên bố trí đúng chỗ đã chặn đứng lại và gây cho Việt Minh những tổn thất nặng nề. Để vô hiệu hóa ổ đại liên, Việt Minh đưa một khẩu SKZ (Chú thích: Súng không giật: súng phóng, sản xuất tại bản xứ, dùng như bazôka bắn đạn lõm.) đến gần tiêu diệt hỏa điểm này và người pháo thủ SKZ đã hy sinh. Theo cửa mở, những đám quân địch xông lên đỉnh cao điểm thực hiện giai đoạn cuối của trận đánh, đánh giáp lá cà, trong khi những Việt Minh đến đầu tiên, ném lựu đạn vào các hầm trú ẩn. Trung úy Lơmoan, bị thương nặng, đã kết thúc như vậy”. Cruyzdơ xác nhận rằng sau một lúc im lặng đánh dấu sự chấm dứt oanh tạc của pháo binh, anh nghe những tiếng la thét xung phong của quân địch đang tràn vào chiếm lĩnh các vị trí của đại đội 12. Việt Minh ném lựu đạn vào các hầm hố và quét súng máy vào mỗi lỗ châu mai chưa nhận biết, trước khi thẳng tay lôi những
90 người phòng thủ ra khỏi các nơi đó, tuy nhiên, theo quan sát của Cruidơ, "với ý định thấy rõ là họ muốn bắt sống chúng tôi”. “Bị thủng lỗ chỗ bởi những mảnh lựu đạn - viên sĩ quan hoàn toàn loạng choạng, nói thêm - tôi bị tước vũ khí, bị lấy mất đồng hồ đeo tay, bị trói tay đưa ra phía sau lưng, ở ngang cùi tay, bằng dây điện thoại, trước khi lôi tôi đi. Tôi còn nhớ người ta còn dặn tôi đừng có giẫm lên những người bị thương”. Bộ binh Việt Minh tiếp tục tiến không ngừng trên trận địa tan hoang, đầy những người bị thương đang với gọi và những xác, người bị thương liên tục xuất hiện, tức thời được thay thế. Trong hầm trú ẩn, chỗ anh bị nhốt với một liên lạc viên và một điện báo viên vô tuyến, Nicôla nghe tiếng chân đi trên đầu mình: “Việt Minh tràn vào các hào để thực hiện cái gọi là "giai đoạn quét dọn", ném những quả lựu đạn tấn công có sức ép vào mọi hầm trú ẩn... Tôi nghe những tiếng nổ đang đến gần... Một luồng ánh sáng màu da cam loé lên trước mắt tôi và một tiếng nổ dữ dội vang lên trong căn hầm chật hẹp mà chúng tôi đang bị giam hãm. Tôi chẳng bao giờ hiểu được cái gì đã đến với các lính lê dương của tôi, nhưng dẫu bị loạng choạng và nhất là ngạt thở, tôi vẫn không việc gì và tôi lao ra khỏi hầm để tránh bị hạ sát bởi những người "quét dọn". Viên sĩ quan bị một đám người nhỏ bé mặc quân phục vây quanh, lục soát, trong lúc đó trên bầu trời máy bay - đom đóm tiếp tục vòng tuần tra vô ích của nó. Nicôla phát cáu vì chiếc Đacôta “làm thuận lợi cho nhiệm vụ những kẻ thắng chúng tôi. Bộ chỉ huy đã chẳng giúp đỡ được gì cho chúng tôi lại còn chiếu sáng sự thua chạy của chúng tôi và sự chiến thắng của địch” Trong hầm trú ẩn cùng với bác sĩ Lớt, Tuyếcpanh "mỗi lúc càng nghe rõ tiếng thét và tiếng chỉ huy của địch giữa các loạt đạn và tiếng nổ. Việt Minh yểm trợ việc tiến lên của họ bằng lựu đạn, thét lên từ hào này sang hào khác: "Binh lính lê dương, hãy đầu hàng đi! Để khỏi bị hun khói trong hầm, tôi ra ngoài, có bác sĩ đỡ và hướng dẫn". Các tù binh đã được tập hợp lại và trong đêm tối mà lại giống một buổi bình minh mỗi khi bom chiếu sáng nổ, một sĩ quan Việt Minh không có phù hiệu cấp bậc rõ ràng, cho tiến hành lục xét và lấy lý lịch những người ở Bêatơrít. Bộ đội và những người bị bắt đi đi lại lại, kiểu như họ trao đổi những mệnh lệnh về an toàn và một ý nghĩ điên cuồng lóe ra trong đầu Tuyếcpanh: Tại sao không lợi dụng lúc đông người để trốn đi? Trong lúc Lớt
91 đang bị hỏi cung, anh tách ra từ từ dùng tay trái đỡ lấy cùi tay bị gãy và ngồi tựa vào một lô cốt. Anh ta bị băng bó đầu và ở cánh tay cho nên người của sư đoàn 312 tưởng nếu không phải là người chết thì ít nhất cũng là người bị thương nặng ở trong tình trạng rất khó khăn và họ không để ý đến anh ta. Những phát đạn lẻ tẻ vẫn nổ ở phía bắc Bêatơrít và những quả đạn của Pháp xới đất. Đến lúc rồi? Tuyếcpanh tháo được hai chiếc lon kim loại trên vai phải nhưng vì cánh tay bị gãy nên không tháo được lon bên vai trái. Một giờ sau khi một sĩ quan Việt Minh hỏi anh cấp bậc gì, anh nói là trung sĩ, trung đội trưởng thuộc đại đội 11 rồi vâng lời khuyên là phải đi xa ra "vì các lô cốt sắp nổ", anh chuẩn bị đi xuống tỉnh lộ 41, nơi các bộ đội Việt Minh đang tập hợp tù binh. Viên sĩ quan nắm lấy tay áo anh: "Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng tôi phải khoan hồng và độ lượng với những người bị thương...". Suy nghĩ một lúc, người sĩ quan hoàn chỉnh ý nghĩ của mình: "Chúng tôi để anh trở lại phòng tuyến của các anh”. Người sĩ quan Việt Minh trao cho Tuyếcpanh, đang bị cơn đau làm lảo đảo, hai giấy thông hành để nếu gặp tuần tra của Quân đội nhân dân hỏi thì trình giấy, và một bức thư hai trang nhỏ mà anh phải giao cho "chỉ huy Mường Thanh". "Chúng tôi cho phép ông ta đến nhận thương binh và người chết trước buổi trưa”. Viên sĩ quan Pháp hiểu rằng Việt Minh không có ý định chiếm giữ Bêatơrít mà chỉ phá hủy công sự, thiết bị, lấy vũ khí và khí cụ. Trong bãi đậu, chiếc xe Jeep của tiểu đoàn vẫn nguyên vẹn, Việt Minh không đốt nó. Chưa đốt. Tuyếcpanh: "Sau bao nhiêu khó khăn - với cánh tay gãy - tôi vượt qua hai hệ thống rào kẽm gai chặn lấy lối vào khe máng. Việt Minh không đi qua phía này. Không một tiếng động trên Bêatơrít, ở ngoại vi cũng vậy. Trên tỉnh lộ 41, trời vẫn còn tối ". Trên sườn phía bắc, các tù binh sĩ quan được yêu cầu cởi giầy: Ri, sĩ quan liên lạc và quan sát (Chú thích: Tướng Đờ Caxtơri nói trước ủy ban điều tra Catơru (phiên họp ngày 25-6-1955) rằng ông đã liên lạc khá lâu bằng vô tuyến điện với cán bộ liên lạc và quan sát của Bêatơrít, đại úy Crêchiêng Ri. ông ta không tin rằng phải đóng góp sự chứng kiến cho tác giả.), Mađơlanh, Nicôla, Cruidơ và bác sĩ Lớt. Bác sĩ ngạc nhiên không thấy Tuyếcpanh. Như những người khác, đại úy Nicôla mang giầy đi rừng buộc quanh cổ với dây buộc nối vào nhau. Sáu sĩ quan khác của Bêatơnt đã chết. Khi xuống đường cái, Nicôla thấy "trên các sườn đồi rải rác có những xác Việt Minh, nhưng sự an ủi đó xoàng xĩnh quá?".
92 Trên người các tù binh vẫn là những áo quần họ mặc khi bị bắt, xăng-đan hoặc sơ mi, quần vải, giầy cao cổ, có khi có cả khăn mùi xoa. Họ đi chân không, trên đường mòn sỏi đá, dưới cái nhìn dửng dưng của những người "bộ đội” trước khi được phép đi giầy lại, chuyển tiếp không có quá độ, như Nicôla viết, "từ một thế giới Cơ đốc - Do Thái sang một thế giới Mácxít Á châu”. Đường hầm đào theo lệnh của Nicôla không phải là vô ích, với trung sĩ Kima và những người Thái cuối cùng của anh đi theo, khoảng sáu chục lính lê dương, cũng có thể nhiều hơn, đã chui vào đường hầm đó. Ở cửa ra là sườn đồi nhìn xuống tỉnh lộ 41, một số phải giao chiến vì Việt Minh đã tổ chức phục kích để cắt viện binh. Với những người khác, đã thoát khỏi bị bắt và cái chết, chúng ta hãy đọc bản tốc ký về việc nghe điều trần của Caxtơri: “Người ta thông báo cho tôi biết sự trở về của những người thoát nạn đã đi bằng một đường hầm đào trong vị trí. Họ đã ra trong khu vực sông Nậm Rốm, từng nhóm nhỏ, giữa đêm. Họ đã nấp, họ đã trốn và không động đậy nữa. Khi Việt Minh rút bố trí lực lượng an ninh, họ có thể trở về”. Những "người ấy” được đón tiếp trong những điều kiện như thế nào đó mà nhiều lính lê dương, đau lòng vì bị coi không phải là những người thoát nạn mà là những kẻ chạy trốn, đã đào ngũ mấy ngày sau đó. Thực tế, người thoát nạn của Bêatơrít rất đông và có thể cuộc tàn sát các sĩ quan đã đóng một vai trò tiêu cực đối với những người lính lê dương mà đông đảo trong số họ bị cắt đứt mọi thứ, không có chỉ huy, chỉ thấy một giải pháp cho sự cô lập của họ: tìm về phân khu trung tâm. Nhật ký của tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 bộ binh Angiêri đề ngày 14, ghi: "Khoảng 110 binh sĩ lê dương đã trở về Đôminíc 1 và được đại đội 9 của trung úy Giăccơlin thu dụng”. Đại úy Vécdenhan, tối 13 đến sở chỉ huy Đờ Caxtơri để kéo một đường dây điện thoại bổ trợ tới "binh đoàn không vận số 2, ghi trong sổ của mình rằng: "Một số lớn lính lê dương của Bêatơrít rút về cứ điểm, chúng đã gây ra một vài rối loạn ở đó. Ngay cả những chiến binh dày dạn, nếu bị pháo kích bất ngờ thì ta cũng có thể hiểu được hiện tượng dao động, nghiêng ngả đã xảy ra tại Bêatơrít... Ở chỗ chúng tôi thì không phải là sự hành hoành mà là sự suy sụp chút ít. Sự thất thủ Bêatơrít là sự bất ngờ khó chịu cộng với sự mệt nhọc qua một đêm thức trắng và sự rung động thần kinh vì một cuộc pháo kích dữ dội, làm cho chúng tôi không được lạc quan lắm”.
93 Là trưởng phòng nhì, đại úy Noen đặt ra một vấn đề khác cho Caxtơri khi ông báo cho Caxtơri rằng Việt Minh đã cho Tuyếcpanh trở về , mang theo một bức thư, theo đó, Việt Minh đồng ý về một cuộc ngưng bắn cho đến giữa trưa để người Pháp đến lấy thương binh và tử sĩ của phía Pháp. Dĩ nhiên, cứ điểm Bêatơrít không được làm mục tiêu cho bất cứ một cuộc bắn phá, một cuộc trinh sát nào hoặc một cuộc oanh kích nào trong thời gian ngừng bắn. Noen giải thích là Tuyếcpanh giả làm một hạ sĩ quan của chính đại đội anh, anh ta đau đớn vì những vết thương trầm trọng và phải đưa anh về Hà Nội. Dĩ nhiên, tình trạng sức khỏe của anh xác nhận việc đưa anh vào bệnh viện là đúng nhưng để tránh né Tuyếcpanh, GONO tránh đưa ra những câu hỏi lộ liễu để hỏi người sĩ quan duy nhất thoát nạn từ Bêatơrít. Caxtơri từ chối việc nhận trách nhiệm thực hiện ngừng bắn đến trưa. Điều đó toát lên trong buổi nghe ông trình bày trước ủy ban điều tra của Catơru khi ông khẳng định "cá nhân ông, ông không chấp nhận ngừng bắn". Ngạc nhiên, tướng Ma nhăng hỏi ông có bày tỏ ý kiến đó với Hà Nội không. “Có chứ.! Tôi không trực tiếp báo cáo với tướng Cônhi ở đầu dây bên kia mà là với tham mưu trưởng của ông, đại tá Bastiani. Tôi đã nói với ông ấy: "Tôi, đó không phải là ý kiến của tôi!. Ông ấy trả lời tôi: "Phải chấp nhận" (Chú thích: Được Bastiani báo cáo, Cônhi gọi Sài Gòn nhưng Na va đi vắng. Gămbiê nhận trách nhiệm chấp nhận cuộc ngừng bắn.) - Mấy giờ rồi? - Đã bảy giờ, bảy giờ mười lăm. - Như thế ông có thể đưa về một số lượng lớn thương binh - Khoảng ba chục". Trên phiếu số 64 ngày 14-3 của GONO gửi về Hà Nội để báo cáo có ghi những con số sau đây: 14 người bị thương và ba người chết. Còn xa con số "ba chục”. Tại sao con số lại phình lên thế? Nếu Caxtơri không nhớ cụ thể, thì tại sao lại còn nói ra? Có cha Tơranh cũng đi cùng, đại úy bác sĩ Lơ Đamany thực hiện một nhiệm vụ tế nhị dưới sự hướng dẫn của một sĩ quan Việt Minh mà ý nghĩ duy nhất là chỉ cho họ Bêatơrít. Xác chết của địch đã được mang đi và cả bác sĩ, cả cha tuyên úy đều
94 không được phép đến sở chỉ huy của tiểu đoàn 3, bán lữ đoàn 13 để lấy thi hài của thiếu tá Pê gô, của đại úy Pácđi và của trung úy Puyngiiê. Ngoài ra, cuộc ngừng bắn đã gây ra một cuộc bút chiến giữa Bộ chỉ huy tối cao của địch và Bộ tham mưu của tướng Nava do một người phát ngôn của tướng Nava nói thiếu thận trọng với báo chí là "Việt Minh yêu cầu một cuộc ngưng chiến từ 8 giờ sáng đến trưa". Thông qua đài "Tiếng nói Việt Nam", một người phát ngôn của Tướng Giáp trả lời một cách lôgíc là "Bêatơrít đã bị đánh chiếm trong đêm, bộ đội chiến thắng của Quân đội nhân dân không cần đến việc ngừng bắn”. Vấn đề đầu tiên, nảy ra trong ý nghĩ sau sự sụp đổ của Bêatơrít, là vấn đề có ý nghĩa chiến thuật: Tại sao GONO không tiến hành một cuộc phản kích để cứu giúp, thậm chí để giành lại? Lăng le đã nói nhiều đến những cuộc diễn tập phản kích được thực hiện từ tháng giêng thế mà khi cần đến một hoạt động tác chiến như vậy thì ông ta lại chẳng làm gì cả, ở ủy ban điều tra, tướng Valanh mời Caxtơri giải thích: - Dựa vào những hậu quả đầu tiên của chiều ngày 13, người ta thấy gần như chắc chắn sẽ có một cuộc tấn công vào đêm? - Chắc chắn. - Vào thời điểm đó, ông có dự kiến một cuộc phản kích có chuẩn bị và duy trì trong tình trạng báo động không? Chắc là, tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc của Ghirô và tiểu đoàn 8 xung kích của Turê đã được báo động nhưng không được lệnh can thiệp. Chẳng ai dám liều lĩnh đi theo hướng Bêatơrít và người ta hiểu tại sao Tuyếcpanh đã đi trên một con đường vắng trước khi trở về phòng tuyến của mình. Ủy ban điều tra của Catơru tìm hiểu thiếu sót này nhưng Caxtơri không thay đổi ý kiến trong những lời khai của ông: Trời đầy mây mù, không quân không thể chi viện cho cuộc phản kích, cuộc phản kích không thể thực hiện được. Tóm lại, nếu Bêatơrít không được cứu giúp, dó là lỗi của thời tiết. "Vả lại Caxtơri nói thêm, mỗi khi Việt Minh làm một cuộc tấn công lớn, họ chọn thời kỳ mà các điều kiện khí tượng không cho phép không quân can thiệp. Trong thời gian từ 13 đến 16 tháng 3, thời tiết xấu: trời mưa”. Tuy nhiên, đại uý Nicôla than phiền về ánh sáng do máy bay - đom đóm phát ra sau khi Bêatơrít thất thủ, bằng chứng là bãi chiến trường được chiếu sáng! Nhưng chúng ta hãy trở lại với biên bản buổi nghe trình bày của cựu tư lệnh GONO.
95 - Từ khi tôi không còn không quân nữa, mọi cuộc phản kích đều trở thành không thể được. Không phải với hai tiểu đoàn mà tôi có thể thu