Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp

phần máy bay được giao cho các phi hành đoàn Pháp. Tháng

phần máy bay được giao cho các phi hành đoàn Pháp. Tháng

phần máy bay được giao cho các phi hành đoàn Pháp. Tháng 10-1953, trước tình trạng thiếu kinh nghiệm về các phương tiện vận tải hàng không của binh đoàn viễn chinh, mười hai máy bay C119 Packét bổ sung được giao cho người Pháp mượn và đại úy Xula, cựu phi công của Lực lượng không quân giải phóng Pháp, được giao quyền chỉ huy số máy bay này. Tuy nhiên, các phi hành đoàn Pháp không đông lắm, Sen nôn lại được yêu cầu. Dễ nhận ra với cánh đuôi kép, Packét gây nên những điều dè dặt cho tướng Lôdanh thuộc Lực lượng không quân Pháp ở Đông Dương. Lôdanh thừa nhận rằng đó là một chiếc máy bay rất tốt "nhưng nó có những cánh quạt rỗng cho nên dễ gãy chỉ cần một viên sỏi nhỏ có thể gây nên những vết rạn, thậm chí những

219 gãy vỡ trong lúc bay, vì vậy nó cần có những đường băng hoàn hảo, không có sỏi, đường băng bê tông là lý tưởng nhất". Ưu thế của Packét là khi mở nắp đuôi, nó chỉ cần bay một vòng thôi là có thể thả sáu tấn hàng. Một sự khác biệt lớn với Đacôta là Đacôta chỉ thả được lần lượt kiện hàng này sau kiện kia, điều đó buộc máy bay phải bay đi bay lại trong tầm pháo cao xạ. Quy chế sử dụng Packét cũng phức tạp, Đờ sô giải thích rằng các máy bay này về "lý thuyết là máy bay dân sự do không quân cho mượn, do nhân viên kỹ thuật của không quân bảo dưỡng nhưng thường thường lại do các tổ lái của Pháp lái. Trong số 24 máy bay, có 12 phi hành đoàn Mỹ làm theo hợp đồng”. "Người Mỹ rất muốn các phi hành đoàn của họ chỉ làm nhiệm vụ tiếp tế”, Đờ sô kết luận. Trung tá Bruynê thuộc căn cứ Cát Bi nêu vấn đề trước ủy ban điều tra và trình bày về bom napan, một chủ đề mà ông rất am hiểu bởi vì ông đã thử nghiệm nó ở Đông Dương, ông xác nhận rằng bom napan, ném từ máy bay Đacôta và cả từ máy bay Tucăng (Chú thích: Đó là máy bay Junker 52 thu thập của Luftwaffe và đặt tên lại là Toucan, một loại ba động cơ có càng bánh không gập lại được, một số phi hành đoàn Pháp gọi nó là "la Julie".) là loại máy bay vẫn còn trong trang bị của không quân vận tải trong những năm 50, "vào mùa khô và vào những mục tiêu được bảo vệ ít, đã gây nên những hiệu quả phi thường. Khi người ta làm những thí nghiệm đầu tiên ở Nam Bộ, các báo cáo cho biết nó đã có những kết quả hoàn toàn nổi bật đối với Việt Minh và nhất là đối với dân chúng". Khi các Packét đỗ xuống Cát Bi, Bruynê được biết là những máy bay này đã ném napan thành công ở Triều Tiên. Tháng 5-1953, ỷ vào kinh nghiệm đó và được sự đồng ý của cấp trên, Bruynê cho chuẩn bị vài chiếc Packét để ném thử bom napan vào lãnh thổ do địch kiểm soát. Cuộc tấn công đầu tiên không xác chứng, mục tiêu ở trong rừng già, các thùng napan nổ trên ngọn cây trước khi đụng mục tiêu. Nhưng độ chính xác cao và hiệu quả rất ấn tượng. Một kế hoạch thứ hai mang tên FIACRE cho phép chọn một mục tiêu thích hợp với việc sử dụng napan và kết quả rất thú vị. “Khi thấy rằng Điện Biên Phủ sắp cần có một sự chi viện mạnh mẽ, Bruynê báo cáo, người ta đã làm những cuộc thử nghiệm đem lại kết quả đáng hài lòng, những cuộc thử bí mật bởi vì người Mỹ phản đối việc dùng máy bay Packét để ném bom napan. Người ta làm hai cuộc xuất kích cùng với đại úy Xula và người cố vấn Mỹ của tôi, kết quả đã làm chúng tôi ngạc nhiên. Người ta không ngờ lại

220 chính xác và hiệu quả như thế. Tôi đã báo cáo với tướng Đờ sô, ông đã' làm cái không thể được để được người Mỹ cho phép tiến hành ít nhất một loạt cuộc thử. Đó là vào đầu tháng giêng 1954 và người Mỹ vẫn luôn luôn phản đối”. Trong những điều kiện giống như với quả bom Hail, người Pháp vấp phải tính không nhượng bộ của đồng minh, chống lại việc sử dụng ở quy mô lớn một loại đạn dược có thể làm cho bộ đội của tướng Giáp phải rút lui ở Điện Biên Phủ nhưng làm hoen ố lương tâm của người Mỹ đối với một việc đáng tiếc có thể xảy ra. Chưa nói đến việc Trung Quốc có thế nắm lấy lý do đó để tham gia vào cuộc xung đột như họ đã làm ở Triều Tiên. Bruynê khăng khăng giữ ý kiến và chối bỏ dự án. Đờ sô ủng hộ ông bởi vì ông ta tin ở bom napan sử dụng với số lượng lớn. “Như vậy mới bõ công thử, Đờsô phàn nàn... Ban đêm, tôi thấy những đám cháy. . . Người ta thấy đạn dược Việt Minh nổ tung trong đó. Dĩ nhiên, không nên làm việc này vào ngày 15-4, mà phải bắt đầu từ ngày 15-12!” Một nhân tố khác cản trở việc tổ chức ném napan ở quy mô lớn. Tướng Bơ đê, Phó chỉ huy trưởng của tướng Na va đến Cát Bi vào giữa tháng hai để bàn về dự án với Bruynê. Ý tưởng đã đạt đến đích. Bruynê báo cáo về những kinh nghiệm thu được với máy bay Packét và được lệnh bắt tay lại vào công việc. Vì chỉ có những phi hành đoàn Mỹ và không có vấn đề đưa họ tham gia vào một cuộc không kích napan, Bruynê thành lập những phi hành đoàn Pháp và những dự trữ napan đã được chuẩn bị. Phòng không Việt Minh rất tích cực hoạt động chung quanh Điện Biên Phủ, ông quyết định hoạt động đêm và vì thiếu thời gian cho nên bỏ qua các cuộc thử. Ngày 23-3, 9 máy bay đã có mặt lúc 18 giờ để xuất phát tại đường băng sân bay Cát Bi và một tai nạn suýt xảy ra khi một chiếc Packét nằm bẹp ở cuối đường băng với trọng tải napan của nó. Hệ thống bảo đảm an toàn đã hoạt động, máy bay chỉ bị những tổn hại về vật chất chứ không về người và 8 máy bay còn lại có thể cất cánh. (Chú thích: "Một phi vụ quan trọng ném bom napan đang được thực hiện với những máy bay C119 (một chiếc trong số đó đã rơi xuống lúc cất cánh ở Cát Bi) (Phiếu số 100 do GONO gửi cho phòng 3 của Lục quân Bắc Việt, nhận lúc 19h15 ngày 23-3).) Đó là sự thừa nhận cuộc không kích do trung tá Bruynê chỉ huy. Là một người thực dụng, tướng Lôdanh thuật lại là mục tiêu của phi vụ 23-3 là "thổi một luồng gió vào làm cho lửa lan rộng với một sức mạnh phi thường không ngăn cản nổi".

221 Phi vụ đã đem lại những kết quả mong đợi nhưng điệu van do dự chưa chấm dứt và Bruynê nói với chúng ta rằng "ngày hôm sau có lệnh phải từ bỏ napan. Lệnh đến trực tiếp với chúng tôi từ Bộ tham mưu của tướng Cônhi (...). Ngày sau nữa lại nhận được lệnh bắt đầu lại các cuộc không kích ồ ạt bằng napan. Phi vụ này kéo dài 48 giờ rồi lại thôi". Ít biết đến, trận ném napan xung quanh Điện Biên Phủ có mật danh là kế hoạch Baza, Bruynê mong mỏi nó, được thực hiện đến cùng để hiệu quả của nó được chứng minh. “Được tham gia sáu phi vụ Packét trên tám phi vụ đã hoàn thành, ông ta tỏ ý tiếc trong báo cáo, đã quả quyết rằng, bắt đầu vào mùa khô, nghĩa là sớm hơn một tháng và giao cho những phi hành đoàn đã được tập luyện, việc thực hiện kế hoạch tham chiến đã dự kiến sẽ đưa đến sự vô hiệu hóa hoàn toàn và có thể là sự rút lui cuối cùng của Việt Minh ra khỏi những khu vực mà cuộc không kích đã nhằm vào”. Sự vô hiệu hóa hoàn toàn và có thể là sự rút cuối cùng của Việt Minh khỏi những khu vực đã nhằm vào. Đó là giả thuyết do Phêlíc Bruynê đề xuất và bất cứ một thanh gươm nào rồi một ngày nào đó cũng tìm thấy cái khiên của nó nhưng nhờ công cụ phá hoại hàng loạt này, người Pháp có được một độ dài về thời gian chuẩn bị trước và sự phá hủy do các cuộc tấn công bằng napan gây ra mà ai cũng biết đã làm cho lập luận của Bruynê không bị xem là không đáng quan tâm. Nhưng rốt cuộc, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Nhật đã cấm theo đuổi cuộc thí nghiệm có thể làm lung lay cơ may của người Pháp, mà người Pháp thì đang có nhu cáu cấp thiết về sự giúp đỡ của Mỹ đành chịu khuất phục. (Chú thích: Trước ủy ban điều tra của Caxtơri, đại tá Bruynê đã công nhận những lời lẽ trong bản báo cáo của ông: Tôi chắc chắn rằng những khu vực bị ném bom napan, Việt Minh sẽ rút) Ở phía tây của tập đoàn cứ điểm, tướng Giáp muốn tạo ra một sự nghi binh làm cho người ta tưởng rằng cuộc tấn công ngày 30-3, kéo dài đến tận các cứ điểm Huy ghét, điều đó có thể dẫn người Pháp, nếu họ bị mắc bẫy, đến chỗ phân tán lực lượng chi viện của họ. Việc chiếm Huy ghét 7 cũng là khúc dạo đầu của cuộc tấn công vào các điểm mạnh khác ở phía tây, một loại thử nghiệm để xem tấn công từ phía đồng ruộng hay từ phía đồi núi, phía nào hay hơn. "Ngày 30 từ 16 giờ đại úy Biza ghi chép, chúng ta có thể chứng kiến cuộc dàn hàng ngang tiến lên của Việt Minh".

222 Lăng le xác nhận rằng một cuộc tấn công vào Huy ghét 7 là có thể xảy ra vào cuối chiều, vào lúc 17 giờ 30, các binh sĩ đã ở vị trí chiến đấu của họ, bỗng những phát đạn 105 đầu tiên nổ. Hai khẩu cối đã bị vô hiệu hóa và các khẩu đội trưởng Lay và Coócnê bị thương. Lô cốt bắc của thiếu úy Thêlô là mục tiêu đầu tiên, bởi vì từ đó Việt Minh có thể vươn ra đến Huy ghét 7. Chàng thanh niên Thêlô đã bị giết cũng như trung sĩ Cloáttơri và hai lính dù. (Chú thích: Sinh năm 1927, Giăng Clốt Thêlô học ở Loa và ở trường đại học Ren nơ. Anh không muốn hoãn nghĩa vụ 11-1951 và gia nhập tiểu đoàn 18 xung kích. Đậu bằng dù, hạ sĩ nhất 1952, chuẩn úy tháng 4, thiếu úy (dự bị) tháng 10. Tình nguyện sang Đông Dương, đến Sài Gòn tháng 12. Bổ nhiệm về tiểu đoàn 5 dù Việt Nam, nhảy xuống Điện Biên Phủ ngày 14-3 cùng với tiểu đoàn dù của mình.) Trung sĩ Tuốcnayrơ thay thế viên sĩ quan và Biza chờ đợi cuộc xung phong. Nhưng Việt Minh đã tính toán sai. Các hào chiến đấu mà buổi sáng quân của Thêlô đã bịt lại, buộc Việt Minh phải đi xa hơn và do đó mất thời gian quý giá, giúp quân dù Biza bị pháo kích, làm cho choáng váng điên đầu, hồi tỉnh lại đến mức khi tiếp cận hàng rào kẽm gai, thì quân ta đã bị những làn đạn giết người đón tiếp. Ở phía bắc, được Tuốcnayrơ tôi luyện, lính dù chiến đấu bằng lựu đạn và những trận đánh xứng đáng với các trận giáp lá cà năm 1916 kéo dài suốt đêm, tắt ở phía này, cháy ở phía khác. Ngày 31 từ rạng đông, ngại một sự can thiệp của không quân, Việt Minh rút lui. Con dê nhỏ của ông Xanh đã giữ vững suốt đêm. Mắt luôn luôn chăm chú vào lô cốt bắc, Biza tăng cường cho Tuốcnayrơ bằng các tiểu đội của Lănggiơvanh và Phoátxốt. Trung sĩ nhất Vien đã sửa sang lại khẩu cối 81; một cuộc bắn sát thương đã được khai hỏa và thiếu tá Clêmăngxông tham gia vào. Khoảng 6 giờ 30, những người cuối cùng của bộ đội Việt Minh mang người bị thương đi nhưng để lại nhiều thi thể và vũ khí. Cái chết của Thêlô làm rầu rĩ thắng lợi đạt được và Biza không gào lên chiến thắng; với 17 người bị giết và bị thương phải sơ tán, ông mong mỏi đúng hơn là được người ta thay quân. “Việc phòng ngự điểm tựa bắc của Huy ghét 7 không còn có thể dự tính nữa, ông viết, nhất là để chiến đấu được thuận lợi Việt Minh đã phá hủy rào kẽm gai và đưa chiến hào của họ lên chỉ cách khoảng mười mét. Trận tuyến địch, ta gối lên nhau đến nỗi một chiếc Bearcat, tưởng rằng vị trí đã rơi vào tay Việt Minh, liền bồi thêm một quả bom nổ trên hào liên lạc của sở chỉ huy của tôi và lô cốt của trung đội Thêlô cũ. May thay, không ai ở nơi này”. Trong buổi sáng, trung sĩ Tuốcnayrơ rời lô cốt bắc theo lệnh của Biza. Những tàn quân của trung đội anh hòa nhập vào trung đội của thiếu úy Latan và sở chỉ huy đặt trong hầm của trung sĩ nhất Lơ Gan. Người ta sửa chữa, đào bới suốt cả ngày.

223 Biza hiểu rằng Việt Minh sẽ "sắp xếp lại" nhưng ông hy vọng họ hành động quyết liệt ở điểm tựa bắc chưa có ai chiếm giữ. Vào khoảng 21 giờ, trong khi ở Êlian 2 người ta đánh nhau đã hai đêm liền, những quả cối giáng xuống lô cốt cũ của Thêlô đáng thương. Chẳng có giai đoạn chuẩn bị gì khác, đây là cuộc xung phong mà đặc điểm là những tiếng thét làm mất sức rồi lắng xuống khi đợt thứ nhất chiếm được vị trí trống rỗng và lựu đạn gài sẵn đã nổ. Các lính dù bảo an đã biến mất. Trước tình hình bất ngờ này, phía Việt Minh mất thời gian; họ báo cáo, cấp trên hỏi: tại sao quân địch lại rút lui? Đã gần ba giờ sáng, ngày 1-4, khi Việt Minh rốt cuộc nhận thấy rằng địch chỉ rút ở lô cốt bắc. Cối của tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc không cho họ yên và họ tỏ ra ít hung hăng hơn đến mức Biza quyết định phản kích. “Vào khoảng 6 giờ sáng, ông kể, các trung đội Latan và Lơ Gan đi ra bằng các cửa mở đã chuẩn bị trước trong đêm. Bị bất ngờ, Việt Minh phải rút. Một giờ sau, toàn bộ điểm tựa đã được chiếm lại khi một đại đội hành quân của lê dương do trung úy Spêzô chỉ huy, đến thay quân. Lợi dụng sương mù, chúng tôi tìm về sở chỉ huy Clêmăngxông cùng những người chết và bị thương”. Đăngtơ Spêzô thuộc đại đội 4 của trung úy Buốcgiơ đang chiếm giữ Huy ghét 1. Anh còn lại một mình trong cả buổi sáng ngày 31 và cảm thấy "hơi nhẹ nhõm". Vào buổi chiều, anh được tăng cường một trung đội - 21 lê dương - chỉ huy bởi trung úy Huygơnanh, anh rất ngạc nhiên không thấy cối bắn đuổi theo: “Địa hình phủ một lớp bụi đỏ dày hơn 10 xăngtimét vì ở gần đường băng của sân bay và vì hạn hán. Huygơnanh nhớ lại, mỗi bước đi của chúng tôi làm bay lên một đám mây đỏ nhỏ và chúng tôi chiếm lĩnh một vị trí rất thông thoáng. Ở gần vị trí, Việt Minh tung ra một làn đạn ngăn chặn ở một cửa vào nhưng chúng tôi chạy qua và... không bị thiệt hại gì”. Sinh năm 1929, Huygơnanh là học viên võ bị Xanh Xia "khóa Garigliano". Spêzô thì thâm niên hơn, thuộc khóa "Bahuýt mới". Điều bất ngờ đầu tiên đối với Huygơnanh, anh giữ điểm tựa đông nam, Spêzô lại ở điểm tựa tây nam. Không có súng máy, chẳng có súng cối, cũng không có rađiô, chỉ mình Spêzô có một đài thu thanh. Liên lạc bằng chạy chân như

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 52

Đang tải bình luận...