phần lớn là sĩ quan đều nghĩ rằng anh sẽ sống độc thân. Dáng oai vệ của anh nổi bật đến mức Hôsa bạn anh đã gọi anh là "Sáclơ - con người tuyệt vời", "Xêtíp chẳng có gì ghê gớm cả ... Các sĩ quan đã lấy vợ ở đó và tuy mới đến mà con đã được mời dự hai đám cưới", trung úy Béctơrăng - tử trận ngày 22-3, viết thư cho bố mẹ năm 1951. Tuy nhiên, tháng 9-1952, Đờlaphông cưới cô em họ Săng tan Gơvanh, con gái của một cựu học viên võ bị Xanh Xia. Họ đi Xêtíp và Săng tan hội nhập vào "nhóm tiểu đoàn 3 dù ngoại quốc", đơn vị này có rất nhiều chàng trai chưa vợ, quấn quanh họ là các bà mẹ có con gái đến tuổi lấy chồng của thành phố ba mươi sáu ngàn dân này. Săng tan vừa mới kịp khâu cho anh chiếc lon thứ ba - lấy từ mũ Kê pi của bố cô là tướng không quân - thì anh được tin sắp phải lên đường sang Đông Dương với nhiệm kỳ hai. Sự chia tay còn khó khăn hơn khi Săng tan đang chờ một đứa con ra đời. Đờlaphông đi trên tàu Athốt II ngược sông Sài Gòn ngày 17- 11-1953. Đã quá chậm để tham gia vào kế hoạch "Hải li". Được bổ nhiệm vào tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc, Đờlaphông thay thế trung úy Lơ Cua Grăngmedông ở đại đội 7, ở lại làm phó chỉ huy của ông. Sĩ quan thứ ba của đại đội 7 là một người tốt nghiệp võ bị Xanh Xia, tóc vàng nâu, mắt xanh, đó là Phơragôna, chưa đến 25 tuổi. Hay quen nói về nhiệm vụ: "Anh không quen với những cuộc hành quân dài nữa”. Sáclơ thú nhận với Săng tan ngày 14-12. Ba ngày sau: "Bọn anh đang tham gia hoạt động tác chiến nhưng không chạm địch. Thời tiết thật ghê tởm: mưa phùn và bùn lầy. Anh không rõ ăn Noen ở đâu nhưng đã có kế hoạch tiếp tế, khi cần họ sẽ thả dù cho bọn anh. Một viên đường cho
249 Bruytuýt nhé!" (ngày 17-12). Trước khi lên đường, Sáclơ đã tặng cho Săng tan một con vật nuôi, trong một chuồng chó, họ đã chọn được một con chó Bốc xe có tên là Bruytuýt. Trong tất cả các bức thư gửi về cho vợ, Sáclơ luôn kết thúc với câu "Một viên đường cho Bruytuýt", hoặc "Vuốt ve Bruytuýt”. Theo các dòng thư người ta lần theo sự di chuyển của tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc cũng sát sao và chính xác như trong nhật ký của tiểu đoàn. Các tin tức về tiểu đoàn anh em - tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc buồn bã hơn. Sáclơ nói cho Săng tan biết về cái chết của Nêve và vết thương của Brăngđông. Cuối tháng giêng, sau ba ngày thư giãn ở Sài Gòn, Sáclơ nói đến một cuộc chạm súng: "Lơ Cua đã để mất cơ hội và bây giờ bọn anh đang ở trên một mỏm đồi có quang cảnh tuyệt vời. Đồ tiếp tế đã được thả dù nhưng không có thư. Trời nóng. Bọn anh đen chùi chũi như những người da đen". Không yên tâm, Sáclơ viết thêm; "Anh băn khoăn không biết em đã vào bệnh viện chưa....” . Ngày 13-2, anh được tin mình đã được làm cha từ ngày thứ năm 4-2: "Cuối cùng anh đã nhận được một tin lớn, Sáclơ viết. Anh thật hài lòng. Trước đó, anh đã lo sợ mọi việc không diễn ra suôn sẻ". Một tuần sau, anh nhận được bức điện báo tin bé Patơrixia đã chào đời: "Bức điện có lẽ cuốc bộ đến đây", anh nói đùa. Gạt chiến tranh sang một bên, anh cố trấn tĩnh người vợ trẻ đang ở nhà bố mẹ đẻ, trong nỗi lo âu: "Từ khi anh về tiểu đoàn, thực ra anh chưa bắn lấy một phát súng. Đó là điều mà người ta gọi là chính sách bảo toàn quân số" (ngày 18-2) (Chú thích: Đại úy Đờlaphông mất người anh là Giắccơ ở Đông Dương năm 1947. Hạ sĩ nhất thuộc bán lữ đoàn thuộc địa biệt kích dù thứ nhất SAS, sinh ngày 30-7-1925, bị chết ngày 18-12-1947 trong một, trận đánh vào Thái Nguyên.). Săng tan tha thiết hỏi anh liệu có được về nhà vào dịp cuối năm không, và đầu tháng ba anh gửi cho cô một câu trả lời nước đôi "nếu các lời đồn đại ở đây được xác minh thì có nhiều cơ may đấy, trừ khi chính em lại sang đây". Rốt cuộc, thiếu tá Liêdenphen và phó chỉ huy của anh là đại úy Galue đưa vợ sang là đúng. Ngày 25-3, tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc trở về Hà Nội nghỉ ngơi sau khi đã được trang bị lại, Sáclơ cung cấp tin tức về những người cũ ở Xêtíp. Ở Điện Biên Phủ, Tuyếcxi và Béctơrăng đã bị giết, Cabirô có thể sẽ mất một chân, Đômigô bị thương lần thứ ba, Đềmedierơ bị thương ở mặt... Ngày 2-4, Sáclơ gửi một bức thư mà Săng tan không biết rằng đó là thư cuối cùng. Tiểu đoàn đi canh gác sân bay còn Sáclơ thì đi xem phim "Những người đẹp trong đêm". Sáclơ chúc mừng lễ sinh nhật bé Patơrixia và gửi nụ hôn nồng nhiệt đến hai mẹ con. Tiểu đoàn 2
250 dù ngoại quốc được điều lên Điện Biên Phủ. Các đại úy Galue và Píccatô, trung úy bác sĩ Mađơlen nhảy dù đợt đầu cùng với thiếu tá Liêdenphen và đại đội 7. Tùy thuộc vào thời gian, những sự cố có thể xảy ra và mức độ dữ dội của hỏa lực phòng không địch, đại đội 5 của Bi rê, đại đội 6 của Bulanhghiê, rồi đại đội 8 của Pêtơrô sẽ nối theo nhau nhảy xuống tập đoàn cứ điểm. Đại tá Xôvanhắc và trung tá Baxtiani của liên đoàn 1 không vận đến dự cuộc họp giao nhiệm vụ cuối cùng và chào họ trước khi lên đường. Thứ bảy ngày 10-4, trời còn tối khi những toán đầu tiên nhảy dù xuống lòng chảo Điện Biên lấm tấm hàng ngàn ánh đèn. Một máy bay suýt nữa phải quay trở về. May thay, trung úy Phơragôna của đại đội 7 phải nhảy ở đầu toán nhảy dù nhưng người thả bị ngất xỉu, Phơra Gông "lập tức thay thế, Liêdenphen kể, tự mình đảm nhiệm việc thả dù, anh cho binh sĩ đơn vị mình xếp thành hàng một ra cửa máy bay để anh thả xuống còn anh nhảy cuối cùng". * * * Đại đội 7 có 137 lính lê dương, khi xuống đất ba người bị chết, một người bị thương. Trung sĩ nhất Kôđơree và túi đựng đại bác không giật 57 li đã biến mất vào khu vực Việt Minh; dù của trung sĩ Patơri bị đạn cháy bắn xuyên đã bốc cháy; đại úy Bulanhghiê nhảy đầu chúi xuống mình đường hào nhưng đã tháo được dù. Một trong số những người bị thương đầu tiên là người tùy tùng của ông Hanhzơ Hát, về sau bị cưa hai tay và một chân nhưng vẫn còn sống, lấy vợ hai lần, li dị hai lần và có hai con. Trung sĩ nhất Kơmenxây của đại đội Piccatô bị gãy xương cụt ở bờ một đường hào khác nhưng nếu trừ hai máy bay phải quay trở lại vì "sự cố kỹ thuật" thì mọi việc đều ổn và tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc đã tập hợp lại. Tổng cộng bảy trăm mười chín người, điều đó chỉ ra rằng 40 quân nhân nhảy dù không thuộc tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc mà thuộc những đơn vị tăng viện. Trung úy Nômura thuộc tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc được mệnh danh là "Đô đốc" để nhớ đến ông nội của anh là đô đốc Hạm đội Hoàng gia Nhật Bản, đi tìm bạn anh là Đờlaphông đến Đông Dương cùng với anh trên tàu Athốt II. Vì được ở những đơn vị khác nhau cho nên hai người bị chia cách nhưng việc thả dù tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc đã tập hợp họ lại trong một chiến dịch: "Một người lính lê dương nói với tôi, Sáclơ đã đến trong đêm ngày 9 rạng ngày 10, Nômura viết cho Săngtan, "Đại úy đã nhảy xuống trước mặt tôi, một người
251 khác khẳng định. Tôi gọi đi các hướng và với tất cả các bạn mà tôi gặp, tôi nhờ họ tìm hộ Lơ Sáclơ đã đến chỗ Phuốcniê, đang nhấm nháp một ngụm rượu. Tôi chỉ được gặp lại anh vào buổi sáng và tôi đã tập hợp trong sở chỉ huy của tôi tốp bạn cũ gồm Mác tanh "chó bông", Brăngđông "vú em" và những người khác”. Đại đội Sáclơ thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù rời cứ điểm Đôminíc 3 vào cuối buổi sáng ngày 10 để thay phiên cho tiểu đoàn 6 dù thuộc địa ở Êlian 1, tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc phải thay thế đại đội Sáclơ. Liêdenphen chỉ định đại đội 7 và trong khi mọi người đang chuẩn bị, ông yêu cầu Đờlaphông đi theo ông để nhận biết các địa điểm. Đi theo một người dẫn đường, hai sĩ quan và một trung sĩ rađiô đì dưới một đường đạn ngoằn ngoèo đến Đôminíc 3. Họ tiếp xúc với thiếu tá Sênen của tiểu đoàn 2 Thái và việc bố trí đại đội 7 được dự kiến vào cuối buổi chiều. “Ngày 10-4 đó, Liêphenden viết thư cho Săng tan Đờlaphông, hỏa lực địch dày đặc vì địch muốn chống lại một cuộc phản kích vào Êlian 1. Cối hạng nặng của địch bắn không ngừng. Trinh sát thực địa xong, chúng tôi theo đường hào trở về địa điểm chờ, theo trật tự như sau: người dẫn đường, tôi, đại úy Đờlaphông và nhân viên rađiô. Cách điểm xuất phát của chúng tôi vài trăm mét, một quả đạn cối nổ ngang tầm chúng tôi trên bờ hào. Bị hất xuống mặt đất, tôi đứng dậy nhìn ra phía sau thấy Đờlaphông nằm dài, bất tỉnh, một bàn tay đặt lên mũ sắt, đúng vào đầu anh. Chúng tôi mang anh đến trạm giải phẫu và anh đã được sơ cứu. Lúc đó đã 11 giờ 30. Hai giờ sau anh đã mất trong tình trạng bất tỉnh”. Ngay cả trước khi chiến đấu, tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc đã mất người sĩ quan đầu tiên, cái chết này đã làm cho bạn bè ông đau ốm, dường như số mệnh đã khước từ không ban cho ông sự may mắn. (Chú thích: Sinh năm 1923, Sáclơ Đơlaphông cùng tiểu đoàn dù ngoại quốc xuống tàu đi Đông Dương tháng 10-1948. Hồi hương vì sức khỏe tháng 7-1950. Trở lại Sài Gòn 11-1953. Được bổ nhiệm về tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc, cùng tiểu đoàn dù này nhảy xuống Điện Biên Phủ.) Vấn đề người bị thương vẫn còn nguyên vẹn; việc giải phóng các hầm trú ẩn lấy chỗ cho thương binh ở là điều không thể làm được nữa: Điện Biên Phủ không thể giãn rộng ra. Lăng le đã cưỡng bức giải phóng mấy căn phòng hầm mà hai sĩ quan của Liên đoàn biệt kích hỗn hợp không vận (LĐBKHHKV) và các nhân viên người Mèo cùng gia đình họ ở khép kín lấy lý do là họ trực thuộc tổng chỉ huy, tuy nhiên vấn đề vẫn tồn tại là: giải quyết người bị thương như thế nào? Rồi người ta sẽ mau chóng thấy những người đang hấp hối bị vứt lại trong các hào hoặc hố đạn, khi mà vào lúc cao điểm của những tháng xót xa năm 1916, những
252 người tải thương vẫn có thể sơ tán