Chương 14 - "CHÀO ĐÓN CÁC BẠN TRÊN CÁCLÔLÔ" Caxtơri không phải là người biết những bí mật tối thượng và Nava không nói với ông ta ý tưởng của mình về "một cuộc ngừng bắn đơn phương". Tư lệnh GONO như vậy không phải quan tâm việc gì khác ngoài việc tiến hành trận đánh của mình. Trước ủy ban điều tra của Caxtơri, ông nhắc lại rằng "các mệnh lệnh đã nhận được có tính chất tuyệt đối, không có chuyện lơi lỏng được. Ngoài ý
318 thức cá nhân ra, có thể là ý thức về điều ấy, tôi được lệnh phải giữ vững và giữ càng lâu càng tốt". Đằng sau những yêu cầu về các phương tiện bổ sung mà Caxtơri nêu lên, có bóng dáng của Lăng le "nhà tiêu thụ" hàng đầu của tập đoàn cứ điểm, nhờ sự trung gian của GONO, từ cuối tháng 4, đã không ngừng đòi giữ một tiểu đoàn dù mới. Ở Hà Nội ai đó đã có ý kiến rằng Lăng le tiêu thụ quá nhiều. Từ ngày 13-3, người ta đã thả dù cho ông. Tiểu đoàn bảo an của Bôtenla, tiểu đoàn 6 dù thuộc địa của Biga, tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù của Brêsinhắc và cuối cùng, tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc của Liêdenphen. Lăng le luôn luôn chưa thỏa mãn "Người ta từ chối các ông về tiểu đoàn mới?", ông Chủ tịch ủy ban điều tra lo lắng. Lăng le hiểu rằng đại tá Sôvanhắc không thể tự mình chủ động gửi một tiểu đoàn dù khác. Ông phải được Nava bật đèn xanh. Lăng le thừa nhận đã gây sức ép mạnh mẽ với Sôvanhắc nhưng ông "không tự động đề xướng mà không báo cho tướng Đờ Caxtơri biết, Đờ Caxtơri đã đồng ý về vấn đề tăng viện bằng đường không". Rồi ông dốc túi: “Điều mà tôi trách đại tá Sôvanhắc, nhất là đã ngăn cản việc gửi các tiếp viện không thả bằng dù. Có một trận đánh đang diễn ra, người ta muốn nó được lâu dài. . . Muốn nó kéo dài phải gửi người đến bởi vì người ta tiêu thụ khoảng 100 người mỗi ngày. Vậy thì phải nhận nhiều. Một trăm người mỗi ngày. Để gửi họ, chỉ có việc kêu gọi những người tình nguyện, đeo vào lưng họ một cái dù và đẩy họ ra qua cửa máy bay ... Người tình nguyện, có hàng ngàn, mọi người đều biết, bộ tư lệnh các đơn vị đổ bộ đường không muốn cấp bằng cho những người đó. Đó là điều phi lý. Đòi phải có bằng là đế loại bớt một phần, là làm gãy chân một phần những người khác và để gửi các tăng viện đầu tiên cho tôi vào tháng 5 mà tôi lại cần ngay bây giờ. Cần có một quyết định của tướng Nava để sau đó ít ra là mười ngày tranh cãi không dứt, đạt được việc cho phép các người tình nguyện nhảy dù xuống”. Những người đầu tiên không có bằng nhảy dù đã xuống mặt đất trong đêm 16 rạng ngày 17-4 và cho đến ngày 4-5, 680 người tình nguyện sẽ nhảy dù. Những vụ từ chối nhảy có lẽ đã được ghi nhận, nhưng làm sao khác được? Giữa sự hăng hái ghi tên vào danh sách "để sát cánh cùng các bạn" và cái thực tế của cửa máy bay đang mở ra trên một thế giới hỗn loạn, đen tối và ồn ào, lấm chấm những vụ nổ và đạn vạch đường, có một sự khác biệt căn bản: ở bên này người ta còn cười
319 còn ở bên kia là cái chết đã đoán trước. Ngày 1-5, Nava đồng ý gửi tiểu đoàn 1 dù thuộc địa của đại úy Badanh đờ Bơzông. Tham chiến ở Lào từ đầu năm cùng với tiểu đoàn 6 của Biga và tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù của Brêsinhắc, tiểu đoàn 1 dù thuộc địa đã có những trận đánh ác liệt. Đại úy Maranh của đại đội 1 và trung úy Uêbe đã bị chết. nhưng Việt Minh buộc phải rút và Badanh đã kết hợp với một cuộc hành quân không vận vào Mường Sài. Rồi lính dù của ông đã canh gác sân bay Cát Bi trước khi đến Gia Lâm chờ nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Trung úy Phốtxuynê đã kế nhiệm đại úy Mác tanh và đại úy Pugiê, cựu sĩ quan hầu cận của Na va, tạm thời chỉ huy đại đội 4 của đại úy Tơrêhiu bị vỡ mắt cá ở Mường Sài. Cuộc nhảy dù kéo dài nhiều đêm, ba, có thể là bốn. Vì hỏa lực phòng không dày đặc và tình trạng chật hẹp của khu vực nhảy, không còn thể thả một tiểu đoàn trong một đêm. Ở đại đội 4, trung úy Đuypirơ ngày 4-5 viết thư cho bố mà anh gọi âu yếm là "pater". Đợt đầu tiên đã nhảy hôm qua. “Con vẫn luôn luôn ở Hà Nội đợi ngày lên đường đi Điện Biên Phủ. Hai đại đội đã nhảy và tối nay đến 1ượt chúng con, tinh thần rất tốt. Con viết thư cho bố vì con không muốn mẹ phải lo lắng. Lên trên đó không thể viết nữa nhưng tiểu đoàn sẽ gửi điện để thông báo tin tức gần như là hai ngày một lần. Ngược lại thư từ có thể đến với chúng con. Vậy bố đừng quên viết thư cho con nhé”. Đuypia kết thúc thư bằng: "nụ hôn thắm thiết” để che giấu sự xúc động mà anh chẳng có thì giờ cũng chẳng có ý chí để thể hiện. Giăng Mari Đuypia - mà người thân gọi là Gianíc - cố gắng cứng rắn lên để khỏi phải nghĩ đến bố mẹ, ở lại cùng Xanh Amănglêzô nơi ông bố làm nghề buôn bán ngũ cốc; nếu chỉ trong một giây thôi, nghĩ rằng có thể mình sẽ không bao giờ được gặp lại sáu anh chị em của mình thì anh có nguy cơ xỉu xuống, và cảm thấy tinh thần của mình sẽ bị tháo tơi ra như một chiếc dây cũ kỹ. Vậy thì "nụ hôn thắm thiết” và người ta phải trở lại để quàng dây dù vào người. Một trong những người cuối cùng nhảy xuống là một sĩ quan dự bị phục vụ trong ngạch thường trực. Thiếu úy Gibô, cũng thế, không muốn làm bố mẹ anh ở Lơ Havơrơ lo lắng, nơi ấy anh và cô em 15 tuổi đã sinh ra. Anh viết cho người bạn gái là Mácxen Ôbanh. Viết trên giấy mang tiêu đề và phù hiệu của tiểu đoàn 1 dù thuộc địa, thư đề ngày 5-5, lúc 19 giờ 30. “Lần này tớ được sử dụng về việc đánh nhau, Gibô hớn hở viết. Tớ lên máy bay cho một cuộc phiêu lưu lớn và máy bay sẽ cất cánh sau 4 giờ nữa. Với 1 giờ rưỡi
320 bay, cậu thấy gần đến giờ mà tớ sẽ ra cửa máy bay nghe tiếng hô "nhảy", tất nhiên nếu pháo phòng không cho phép. Tiểu đoàn đã bắt đầu nhảy từ hai ngày trước( (đúng hơn là hai đêm). Khu vực nhảy nhỏ bé, bởi vậy bọn mình nhảy thành từng tốp 8 người. và Việt Minh cách mỗi đầu khu vực nhảy có vài trăm mét. Trận đánh sẽ kết thúc như thế nào? Không phải là người bi quan, tớ chẳng thấy gì là tốt lành và không một ai trong binh sĩ tự dối mình. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử người ta chở quân tiếp viện bằng đường không trong những điều kiện như thế. Đây sẽ là lá thư cuối cùng của tớ, tớ không có can đảm viết thư cho bố mẹ. Tớ chẳng để lại cái gì ở đằng sau tớ, không thư từ, chẳng nhật ký, như cậu đã nói ngày nào đó, đây là một thủ thuật để thoát khỏi sự phức tạp. Cậu biết cậu phải làm gì nếu tớ không thể viết nữa”. Gibô yêu cầu Ôbanh chào hộ vài người bạn và thêm đoạn tái bút: "Chén rượu cô nhắc cuối cùng này ngon thật!". Sĩ quan bất bình nhất của tiểu đoàn hẳn là đại úy Tơrêhiu. Khi ông biết rằng tiểu đoàn 1 dù thuộc địa sắp nhảy xuống Điện Biên Phủ, ông phản ứng như kiểu bị một viên ngói ném vào đầu: "Tôi cũng chẳng buồn nhìn binh sĩ trong đại đội tôi lên máy bay trong khi tôi ở lại mặt đất với lý do tôi bị vỡ mắt cá phải bó bột!”. Ba mươi bốn tuổi, Tơrêhiu bắt đầu binh nghiệp lúc 17 tuổi trong hải quân nhưng sự thất trận năm 1940 đã hướng anh đi theo kháng chiến. Là thành viên của mạng lưới "Senbơn” dùng tàu tốc hạm hồi hương về nước Anh, các phi công đồng minh bị rơi ở Brơtanhơ, anh gia nhập lực lượng Pháp tự do, thực tập biệt kích và nhảy dù. Làm các nhiệm vụ ở Brơtanhơ và ở Noócmăngđi, rồi Tổng cục tình báo cuối 1944, đại úy từ tháng 10-1952, một tháng sau tàu Lơ Pastơ đưa anh đến vịnh Hạ Long. Là người Brơtông vùng Pluha, Tơrêhiu không chịu ngồi dưới đất với "cái chân gãy" trong lúc đại đội anh nhảy xuống Điện Biên Phủ "Tôi xin nói rằng nếu được băng bó chặt chẽ, tôi có thể nhảy xuống mặt đất trong những điều kiện chấp nhận được. Đại úy Badanh đã đồng ý và trả lại cho tôi đại đội 4 thân yêu của tôi còn Pugiê sẽ nắm đại đội 3”. Thứ ba ngày 4-5, Caxtơri báo cho đại úy bác sĩ Lơ Đamany là ông sẽ đến thăm những người bị thương trong buổi sáng. Hai trạm giải phẫu (29 và 44) gồm khoảng 20 hầm trú ẩn đầy chật người, chẳng ai dám liều lĩnh hỏi xem thiếu tướng có định ở lâu trong những địa đạo đã quá đông người này. Đây là cuộc đi thăm người bị thương lần đầu của Caxtơri. Trung tá Tơranca, phó tham mưu trưởng, đến trước để tìm hiểu con đường mà người ta định dẫn thiếu tướng đi qua và báo tin là một cuộc trao huy chương đã được dự định. Hạ thấp giọng, Tơranca thổ lộ
321 với bác sĩ Grauuyn là sẽ có nhiều sự tượng trưng trong buổi lễ bởi vì, ông nói thêm, vẻ ngượng ngùng như một kẻ đi hái trộm táo, "cái túi đựng mề đay lại thả nhầm vào chỗ Việt Minh". "Sẽ điều chỉnh sau”. Ông nói để yên lòng mọi người. Caxtơri đến, mặc quần sóc và sơmi cộc tay - người ta nói với ông là nhiệt độ tăng lên trong các hầm quân y - đội mũ ca lô đỏ của các kỵ sĩ Spahi (kỵ binh Bắc Phi do Pháp tổ chức ND) và chân đi giày thấp cổ. Những hào giao thông hôi thối mà ông đi qua không gây xúc cảm gì cho ông và không tỏ ý ngần ngại, ông sẵn sàng lội trong bùn, đi qua những khu vực có mùi khó chịu xông lên. Ông dừng lại ở đầu giường những con người im lặng, mắt trũng sâu, mà Grauuyn mỉm cười giới thiệu như một người đang quan tâm đến tinh thần các bệnh nhân của mình. Lơ Đamany để thiếu tướng dừng lại ở chân giường các sĩ quan bị thương, một số trong đó như Đephơlin và Rôlanh đã "vào viện" từ nhiều tuần nay. Rôngđô cũng vậy, bị mảnh đạn vào bụng tưởng là chết nhưng bây giờ tình hình đã khá hơn. Bị bận bịu vì những ca mổ mà ông làm theo "kiểu dây chuyền", Ginđrây không thể đến. Dưới ánh sáng mạnh của chùm đèn mổ, ông mải miết rạch, nắn lại, cắt dây chằng, cưa, để cứu những gì còn lại của sự sống trong những thân thể bị làm hư hại, biến dạng mà người ta đưa đến cho ông. Mổ cho thương binh có lúc phải trải qua những giờ chờ đợi trên cáng, dưới mưa gió, trong đáy một đường hào, phẫu thuật không phải là một chứng chỉ sống lâu. Các con số đã chứng minh. Trạm giải phẫu cơ động 29 của Grauuyn và trạm giải phẫu cơ động 44 của Ginđrây bổ sung cho nhau, cả hai đã nhận 636 người bị thương trong tháng 4; 201 người trong số đó đã được mổ, nhưng 78 đã chết. Có khi chết trước khi mổ, hoặc do phải chờ đợi quá lâu, hoặc vì vết thương quá nặng không còn chút hy vọng nào. (Chú thích: Ginđrây và Grauuyn không phải là ngoại lệ. Tháng 4 người ta ghi nhận ở chỗ bác sĩ Viđan (Trạm giải phẫu thả dù 6) có 269 người vào, 166 người được mổ và 39 người chết. Ở chỗ Rêđiô ở Isaben (trạm giải phẫu dù 3) có 265 người vào, 199 được phẫu thuật và 29 người đã chết. Ngày 29-4, số người bị thương do các tổ chức quân y đảm nhiệm lên đến 908. Trong tổng số này không có những người bị thương điều trị ở các bệnh xá tiểu đoàn hoặc trả lại đơn vị họ sau khi chăm sóc.) Thiếu tướng lắc đầu trước thiếu úy Lêcuyê, anh chưa lấy lại được thăng bằng, cũng chưa nói được từ khi một viên đạn cào sọ anh. Bên cạnh trung úy Birê, bị thương vào đầu gối trong cuộc phản kích vào Huy ghét 1, trung úy Đờ Cắccơray đã hồi phục sau khi bị cắt chân; Hanhz, một lê dương trẻ của tiểu đoàn 2 dù ngoại là một điều ngạc nhiên cho thiếu tướng. Bị cắt cụt hai tay và một chân, Hanhz
322 hòa nhập vào bệnh viện dưới hầm đến mức trở thành gương mặt tiêu biểu. Khi tinh thần một thương binh bị suy sụp, các bác sĩ hoặc cả cô Giơnơvievơ đờ Gala, đã nêu Hanhz làm tấm gương. Bị thương ở cẳng chân, trung úy Rôlanh trao đổi vài lời với thiếu tướng, nhưng tướng không nhìn thấy hai sĩ quan khác của tiểu đoàn dù ngoại quốc mà các đồng đội của họ, được sự tiếp tay tích cực của đại úy bác sĩ Rôngđy, cho ở trong hầm để được hưởng "tình đoàn kết lê dương" vô giá: Trung úy Bonnen và trung úy Đờ Stabenrát, người đang vật lộn giữa cái sống và cái chết. Tình trạng sức khỏe chung của Stabenrát đáng quan tâm hơn là vết thương của anh và Rôngđy không ngăn chặn nổi bệnh kiết lị đang làm hao mòn người bệnh. Được chữa chạy ở Hà Nội, "Stab" sẽ nhanh chóng lấy lại thần sắc, nhưng với những tin tức thảm hại đến hằng ngày từ các điểm tựa tuyến một, câu duy nhất mà mọi người nhai đi nhai lại là "việc ấy sẽ kết thúc như thế nào?". Giữ một nụ cười dúm dó, Caxtơri đi qua những lối đi bùn lầy, quay lại phía trung tá Tơranca ở mỗi giường và nói vẫn những lời ấy: "Huy chương quân sự, Bắc đẩu bội tinh, Tuyên dương với cành cọ... Nụ cười của những người được nhận, sự hài lòng, nụ cười vô tư, xúc động, ai mà biết được? Trung úy Ruyte còn không nhận thấy mình được "tặng huy chương quân đội". Viên sĩ quan bị thương này không nhìn thấy chiếc mũ ca lô đẹp đẽ của vị tướng vì mắt anh bị băng. Trung úy Xinvestơrơ là một trong số những sĩ quan liên lạc và quan sát âm thầm được gửi lên tuyến 1 để chi viện cho bộ binh. Sinh năm 1927 ở Moócbihan, đậu bằng nhảy dù năm 1946 (số 5829), viên sĩ quan nầy thuộc khóa Xanh Xia "tướng Phrerơ" và anh đã đến Điện Biên Phủ từ 16-3. Được chỉ định làm sĩ quan liên lạc và quan sát ở tiểu đoàn 2 Thái vào buổi chiều ngày 1-5, anh được lệnh có những chi viện cần thiết cho đại úy Perê ở Đôminíc 3. Từ một đài quan sát tạm thời, Xinvestơrơ điều khiển những làn đạn ngăn chặn của pháo 105 ở Isaben và các súng cối 120 ở vỉ trí trung tâm. Anh không thể làm hơn. Ngày hôm sau, sau khi Đôminíc 3 thất thủ, Xinvestơrơ được giao về cho tiểu đoàn 6 dù thuộc địa sử dụng. “Một đài quan sát nhỏ được giao cho tôi, viên sĩ quan nhớ lại và chính trong khí quan sát đường chân trời để định vị những làn đạn ngăn chặn đã được vẽ trên bản đồ trinh sát, mà tôi bị thương bằng mảnh đạn ở mặt. Báo vụ viên đưa tôi về sở chỉ huy của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa, rồi phải băng mặt nhưng tôi vẫn còn tương đối khỏe mạnh để có thể đi được Tôi đã theo những đường hào đi về hướng cầu Bailây, tay đặt lên vai một hạ sĩ quan. Trên chiếc cầu bị những làn đạn nổ trên không quét dọn, một chiếc xe Jeep vừa đến, và tôi vừa kịp leo lên xe thì nó đã lao
323 đến trạm phẫu thuật dưới đất và tôi đã được bác sĩ Viđan mổ”. Xinvestơrơ gặp điều không may là ở rìa của một chùm đạn 120 cho nên ngoài một vết thương ở khuỷu tay phải, mặt và sọ cũng bị thủng nhiều chỗ; một mảnh đạn đã đi qua mũi và làm gãy xương mép dưới mắt trái trước khi làm nổ mắt. Một mảnh đạn khác đã trúng vào phía trên mắt phải, mắt đã nhắm lại vì "quả đấm" nhưng vẫn nguyên vẹn. “Tôi hiểu rằng các y tá rất bận bịu vì các yêu cầu, anh nói thêm, cho nên tôi không bao giờ đòi hỏi cho biết rõ ràng, cụ thể về những vết thương của mình, mà tôi không biết gì hết. Tôi chẳng có lý do gì để phàn nàn cả vì tôi không đau nhưng đã nhận thức được là mình bị mất một con mắt. Ít lâu sau cuộc đi thăm của tướng Đờ Caxtơri, tôi vén cái băng ở phía phải lên và tôi thấy màu mờ mờ của một bóng điện, điều đó làm tôi yên tâm bởi vì dẫu thị lực giảm, tôi vẫn giữ được một con mắt” Khởi đầu từ những khúc quanh ẩm thấp của những đường hào giao thông nối liền các hầm quân y, cuộc đi thăm của thiếu tướng đã dừng lại trước căn hầm thứ hai mươi. Thời gian trôi qua và ở sở chỉ huy của GONO, người ta tự hỏi về cuộc tấn công sắp tới của Việt Minh. Lily 3 đã sụp đổ trong đêm và trung úy Payơrê rốt cục không được chết ở trạm phẫu thuật của Hanz. Ở chỗ thiếu tá Clêmăngxông, mỗi người tuy không nói ra nhưng nghĩ rằng đi từ bắc xuống nam, lần lượt quét sạch những cứ điểm này đến cứ điểm khác ở tuyến một, Huy ghét 7 của Spôgiô, rồi Huyghét 1 của Sơvaliê, Huy ghét 5 của Luyxiani. Lily 3 của Pêranh, mục tiêu sắp tới của Việt Minh hoàn toàn lôgíc sẽ là Clôđin 5. Cuộc tấn công sẽ gây ra bao nhiêu người chết và người bị thương? Người tả sẽ phải làm gì với những người phê bình mới, với tình hình hiện nay trong các hầm trú ẩn? “Với bạn đồng nghiệp của tôi là Staécman, bác sĩ Vécđaghê chứng minh, chúng tôi đã tập hợp ở Huy ghét 3 hơn 200 người bị thương của hai tiểu đoàn của chúng tôi. Tôi trực tiếp chăm sóc 10 người bị thương, lồng ngực phát triển thành viêm màng phổi có mủ (chọc hút, tháo ra, rửa bằng dung dịch kháng sinh...). Họ được "ở" trong những căn hầm của nhân viên bỏ trống vì những người ở trước nay đang ở các điểm tựa ngoại vi. Về ăn uống và bài tiết, thì còn kém hoàn hảo nhưng có sự giúp đỡ lẫn nhau và bên cạnh những vấn đề khác, chuyện này không khiến chúng tôi bận tâm lắm. Staécman và tôi có đầy đủ một chục y tá thạo việc (trong đó có một lê dương là thầy thuốc chuyên khoa miệng của Đức). Chúng tôi tính rằng việc bố trí lực lượng đã được thu hẹp và phải nhờ đến sự đóng góp không phải là ít của các y tá đại đội. Bốn phụ nữ người Việt trong tiểu đoàn hành
324 quân của quân lê dương giấu trong điểm tựa đã tỏ ra rất tận tụy, với sự hiện diện và nữ tính của họ, đã có sự giúp đỡ đáng kể đối với những người bị thương nặng nhất của chúng ta”. Ở Hà Nội, việc lắp biên cho bộ máy nghiền người được khởi động lại ngày 3-5 vào buổi tối. Đại đội 2, tiểu đoàn 1 dù thuộc địa của đại úy Étmơ lên máy bay và đội hình đã cất cánh với sự hiện diện của đại tá Sôvanhắc "kẻ thù thân thiết" của Lăng le. Là SAS cũ (bằng 2266), cựu huấn luyện viên nhảy dù ở Vannơ - Mơcông, Étmơ là một khuôn mặt của giới nhảy dù và rời Hà Nội đối với ông là một sự dằn vặt về tinh thần. Là nữ y tá ở bệnh viện Lanétxăng, Marizơ, vợ anh, đang có thai 8 tháng và Étmơ hối hận đã có ý nghĩ dại dột rằng có lẽ mình sẽ không bao giờ biết mặt con. Trước khi đi anh đã khuyên Marizơ về nước sinh con. Ở Điện Biên Phủ khi đại đội 2 tập hợp lại ở mặt đất, đại tá Lăng le vội chạy đến với người bạn Étmơ mà ông ôm hôn thắm thiết như anh em và báo cho Étmơ biết ông vừa gửi điện cho Marizơ báo cho cô biết là ông xã đã đến nơi "an toàn". Đêm sau, đại đội 3 của đại úy Pugiê, đeo dù ở chân máy bay và viên sĩ quan ngạc nhiên thấy trong hàng ngũ, không chỉ có một người được hồi hương mà ông đã thuyên chuyển về căn cứ phía sau mà cả những người ốm nằm viện nay bỗng nhiên xuất hiện và giải thích rằng họ đã hoàn toàn bình phục. Một người trong bọn họ nói với giọng khúm núm làm như người ta lấy lại quà đã tặng cho anh: "Thưa đại úy em không thể bỏ lỡ dịp được!” Trung úy Néctu thuộc đại đội Pugiê, nhớ lại là trước khi đi "đại tá Sôvanhắc đã đến lưu ý mọi người về tầm quan trọng và các khó khăn của cuộc nhảy dù: không có khu vực nhảy thực sự, cọc tiêu chỉ gần đúng thôi còn hỏa lực cao xạ thì mãnh liệt và liên tục”. Sau bài diễn văn để củng cố tinh thần đó, quân dù ngồi vào các ghế dài có thể hạ xuống và các máy bay Băng giô cất cánh, mang theo cùng với họ một