Chương 2, cuộc khủng hoảng nợ đầu tiên ở Mỹ Latin đã xảy ra từ tận thập niên 1820. Chính một cuộc khủng hoảng thị trường mới nổi nữa ở Argentina đã suýt làm ngân hàng Barings phá sản năm 1890, cũng giống như chính nhà buôn bán hợp đồng tương lai lừa đảo ở Singapore, Nick Leeson, đã kết liễu Barings 105 năm sau đó. Cuộc khủng hoảng nợ Mỹ Latin thập niên 1980 và cuộc khủng hoảng châu Á thập niên 1990 không thể coi là những sự kiện chưa từng có tiền lệ. Lịch sử tài chính đã cho thấy rằng rất nhiều thị trường mới nổi ngày nay có lẽ tốt hơn nên được gọi là các thị trường mới nổi trở lại. [525] Còn giờ đây, thị trường mới nổi trở lại tầm cỡ nhất là Trung Quốc. Theo các nhà đầu tư thân Trung Quốc như Jim Rogers, số tiền có thể kiếm được ở đây hầu như không có một giới hạn nào. [526] Vậy mà đây không phải là lần đầu tiên các nhà đầu tư nước ngoài đổ tiền vào chứng khoán Trung Quốc với mơ ước kiếm được số tiền khổng lồ từ đất nước đông dân nhất thế giới này. Cũng nên nhớ lại là trong lần cuối cùng, họ đã mất nhiều áo sơ mi ngang mức mà tất cả các thợ may nổi tiếng của Hồng Kông có thể cùng nhau may trong một tháng trời . [527] Vấn đề chủ chốt đối với đầu tư nước ngoài, trước kia cũng như hiện nay, là ở chỗ các nhà đầu tư ngồi tại London hay New York rất khó có thể nhìn thấy một chính phủ ngoại quốc hay một nhà quản lý ở nước ngoài đang làm gì cách đó một đại dương hoặc xa hơn. Hơn thế nữa, hầu hết các quốc gia ngoài phương Tây cho đến tận gần đây vẫn có các hệ thống pháp lý rất không đáng tin cậy và các quy định kế toán rất khác biệt. Nếu như một bên đối tác kinh doanh nước ngoài quyết định không trả nợ, thì nhà đầu tư ngồi ở phía bên kia thế giới chẳng thể làm được gì nhiều. Trong kỷ nguyên thứ nhất của toàn cầu hóa, lời giải cho vấn đề này thật đơn giản, tàn nhẫn song rất hiệu quả: áp đặt luật lệ của châu Âu. William Jardine và James Matheson là hai người Scotland gian hùng đã thành lập một công ty kinh doanh ở thành phố cảng phía nam Trung Quốc là Quảng Châu (hồi đó được biết đến dưới tên gọi Canton) vào năm 1832. Một trong những phương án kinh doanh tốt nhất của họ là nhập khẩu thuốc phiện do chính phủ sản xuất từ Ấn Độ. Jardine nguyên là bác sĩ phẫu thuật của Công ty Đông Ấn, song thuốc phiện mà ông đưa vào Trung Quốc lại dành cho các mục đích hoàn toàn không liên quan đến y tế. Đó là việc mà Hoàng đế Ung Chính đã cấm từ hơn một thế kỷ trước, vào năm 1729, do việc nghiện thuốc phiện gây ra thiệt hại rất lớn đối với xã hội. Ngày 10/3/1839, một quan chức triều đình tên là Lâm Tắc Từ đã đến Quảng Châu theo lệnh của Hoàng đế Đạo Quang để dẹp bỏ việc kinh doanh này một lần và vĩnh viễn. Ông Lâm đã phong tỏa các kho chứa thuốc phiện ở Quảng Châu cho đến khi những thương gia người Anh phải chấp nhận đòi hỏi của ông. Tổng
cộng có khoảng 20.000 hòm thuốc phiện trị giá 2 triệu bảng Anh đã bị tịch thu. Các thứ đựng trong hòm đã được pha loãng đến mức không còn dùng được nữa và bị ném xuống biển theo đúng nghĩa đen. [528] Người Trung Quốc cũng yêu cầu rằng từ nay trở đi, tất cả người dân Anh ở trên lãnh thổ của Trung Quốc đều phải tuân theo luật lệ của Trung Quốc. Điều này không hợp với ý muốn của Jardine một chút nào. Được người Trung Quốc biết đến dưới cái tên "Chuột già đầu sắt" (thiết đầu lão thử), ông ta đang ở châu Âu khi cuộc khủng hoảng xảy ra và vội vã đến London để vận động chính phủ Anh. Sau ba cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao là Tử tước Palmerston, Jardine có vẻ đã thuyết phục được ông này rằng một cuộc phô trương sức mạnh là cần thiết, và "sự thiếu sức mạnh trong đội quân chiến tranh giẻ rách của chúng" sẽ đảm bảo chiến thắng dễ dàng nếu dùng một đội quân Anh "đủ lớn". Ngày 20/2/1840, Palmerston phát lệnh. Đến tháng 6/1840, mọi sự chuẩn bị của hải quân đã được hoàn tất. Đế quốc nhà Thanh sắp nếm phải sức mạnh của nhà nước ma túy thành công nhất trong lịch sử: Đế quốc Anh.
"Chuột già đầu sắt": William Jardine, người đồng sáng lập công ty Jardine Matheson Đúng như Jardine đã dự kiến, chính quyền Trung Quốc không phải là đối thủ tương xứng với sức mạnh của hải quân Anh. Quảng Châu bị phong tỏa; đảo Chu Sơn bị chiếm. Sau mười tháng đối đầu, lính thủy đánh bộ Anh đã chiếm được các vị trí phòng thủ bảo vệ cửa sông Châu Giang, con đường thủy nối Hồng Kông với Quảng Châu. Theo Thảo ước Xuyên Tỵ được ký vào tháng 1/1841 (song sau đó lại bị Hoàng đế bãi bỏ), Hồng Kông đã trở thành sở hữu của người Anh. Hiệp ước Nam Kinh, được ký một năm sau đó, sau một cuộc đọ sức nữa nghiêng hẳn về một phía, đã khẳng định hành động
nhượng đất này và đồng thời trao quyền tự do buôn bán thuốc phiện tại năm "cảng hiệp ước": Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba và Thượng Hải. Theo nguyên tắc đặc quyền ngoại giao, người Anh có thể hoạt động tại các thành phố này và được miễn trừ hoàn toàn trước luật pháp Trung Quốc. James Matheson, đối tác của Jardine trong kinh doanh thuốc phiện Đối với Trung Quốc, cuộc Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất đã khởi đầu cho một kỷ nguyên "quốc sỉ". Tình trạng nghiện thuốc phiện bùng nổ. Các nhà truyền đạo Thiên Chúa đã làm lung lay đức tin Khổng giáo truyền thống. Và trong cơn hỗn loạn Thái Bình Thiên Quốc - cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại một triều đại bất tín nhiệm do một người tự nhận là em của Chúa Jesus lãnh đạo - khoảng từ 20 triệu đến 40 triệu người đã thiệt mạng. Song đối với Jardine và Matheson, những người đã nhanh chóng kiếm đất ở
Hồng Kông và ngay sau đó chuyển trụ sở chính đến khu Đông Cảng (East Point) của hòn đảo này, những ngày vinh quang của toàn cầu hóa thời Victoria đã đến. Trạm gác Jardine, một trong những điểm cao nhất trên hòn đảo Hồng Kông, là nơi công ty này đã duy trì một người theo dõi để quan sát các con tàu của công ty trên đường từ Bombay, Calcutta hoặc London đến. Khi Hồng Kông bắt đầu phát triển mạnh mẽ trong vai trò trung tâm trung chuyển thương mại, chẳng bao lâu thuốc phiện đã không còn là lĩnh vực kinh doanh duy nhất của công ty. Cho đến đầu thập niên 1900, công ty Jardine Matheson đã có xưởng nấu rượu bia, các xưởng bông riêng, một công ty bảo hiểm, một công ty vận tải và thậm chí một công ty đường sắt riêng, trong đó có tuyến đường từ Cửu Long đến Quảng Châu được xây dựng trong thời gian từ năm 1907 đến 1911. Còn ở London, một nhà đầu tư có vô số cơ hội đầu tư ra nước ngoài. Không gì có thể minh họa thực tế đó tốt hơn là các cuốn sổ kế toán của công tyN. M. Rothschild & Sons, cho thấy sự đa dạng phi thường của các chứng khoán mà thành viên của Rothschild đã nắm giữ trong danh mục đầu tư hàng triệu bảng của họ. Chỉ một trang đã liệt kê không dưới hai mươi loại chứng khoán khác nhau, bao gồm cả các trái phiếu được phát hành bởi chính phủ Chile, Ai Cập, Đức, Hungary, Italia, Nhật Bản, Na Uy, Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ, cũng như các chứng khoán được phát hành bởi mười một công ty đường sắt khác nhau, trong đó có bốn công ty ở Argentina, hai ở Canada, và một ở Trung Quốc [529] . Mà không chỉ có các thành viên của giới tinh hoa tài chính đặc tuyển mới có thể tham gia vào cách thức đa dạng hóa quốc tế như vậy. Ngay từ năm 1909, chỉ với một khoản chi phí khiêm tốn là 2 shilling và 6 xu, các nhà đầu tư Anh đã có thể mua được cuốn sách Investment: An exact science (Đầu tư: một môn khoa học chính xác) của Henry Lowenfeld, trong đó khuyến nghị ''một hệ thống hợp lý các mức lãi suất trung bình, dựa trên sự phân bố vốn theo địa lý" làm một phương cách để "giảm đến mức tối thiểu dấu vết nhơ bẩn của sự đầu cơ trong hoạt động đầu tư". [530] Như Keynes sau này nhắc lại, trong một đoạn khá nổi tiếng từ cuốn Economic Consequences of the Peace (Các tác động kinh tế của hòa bình), hầu như không cần một nỗ lực nào thì một người London với tiềm lực khiêm tốn vẫn có thể "đổ của cải của mình vào tài nguyên thiên nhiên và các công nghiệp mới tại bất kỳ khu vực nào trên thế giới, và chung hưởng mà không cần ráng sức hoặc thậm chí bận tâm, những thành quả và lợi thế trong tương lai". [531] Vào thời đó có khoảng 40 thị trường chứng khoán nước ngoài nằm rải rác khắp thế giới, trong số đó có 7 thị trường thường xuyên được báo chí tài chính Anh đưa tin. Thị trường chứng khoán London niêm yết các trái phiếu được phát hành bởi 57 chính phủ có chủ quyền hoặc chính phủ thuộc địa. Dõi theo dòng tiền từ London đến các