Đồng Tiền Lên Ngôi

phần của vấn đề chính là việc

phần của vấn đề chính là việc

phần của vấn đề chính là việc các nhà sáng lập quỹ LTCM ở hành tinh khác đã quay trở lại Hành tinh Trái đất với một cú va đập mạnh. Bạn có nhớ các giả định cơ bản của công thức

Black-Scholes không? Các thị trường phải hiệu quả, nghĩa là sự biến động về giá chứng khoán là không thể dự báo được; các thị trường đó hoạt động liên tục, không ma sát và có tính thanh khoản tuyệt đối; và lợi nhuận từ các chứng khoán tuân theo phân bố chuẩn hình chuông. Người ta có thể cho rằng, càng có nhiều nhà kinh doanh học được cách vận dụng công thức Black-Scholes thì các thị trường tài chính sẽ trở nên càng hiệu quả hơn. [616] Song như John Maynard Keynes đã từng nhận định, trong một cuộc khủng hoảng "các thị trường có thể hoạt động thiếu lý trí lâu hơn thời gian bạn có thể còn khả năng trả nợ", về dài hạn, thế giới có lẽ sẽ ngày càng giống Hành tinh Tài chính hơn, tức là luôn logic một cách lạnh lùng. Song về ngắn hạn, đây vẫn là Hành tình Trái đất thân yêu của chúng ta mà sống trên đó là những con người đầy cảm xúc, hoàn toàn có khả năng đột nhiên nhảy từ tham lam sang sợ hãi. Khi mà thiệt hại bắt đầu tăng cao thì nhiều người tham gia thị trường đã rút lui ngay khỏi thị trường, để lại cho quỹ LTCM một danh mục các tài sản khó thanh tiêu, không thể bán được ở bất kỳ mức giá nào. Hơn thế nữa, đó là một Hành tinh Trái đất chưa bao giờ hội nhập sâu sắc đến vậy, làm cho một vụ vỡ nợ ở nước Nga có thể gây ra mức biến động dữ dội trên toàn thế giới. "Có lẽ sai lầm của Quỹ Dài hạn," Myron Scholes trầm ngâm trong một cuộc phỏng vấn, "là đã... không nghĩ rằng thế giới đang ngày càng toàn cầu hóa." Meriwether cũng chia sẻ quan điểm này: "Bản chất của thế giới đã thay đổi, và chúng tôi đã không nhận ra điều đó." [617] Đặc biệt, do nhiều công ty khác đã bắt đầu tìm cách sao chép các chiến lược của Quỹ Dài hạn, nên khi mà tình hình trở nên trục trặc thì không chỉ có danh mục đầu tư của Quỹ Dài hạn bị tác động, "mà cứ như thể là toàn bộ siêu danh mục đầu tư bị chảy máu vậy". [618] Có một dạng hành động hoảng loạn theo kiểu bầy đàn để rút lui, trong đó các nhà quản lý cao cấp tại các ngân hàng lớn đòi hỏi các vị thế bị đóng lại ở bất kỳ mức giá nào. Lập tức mọi thứ bỗng nhiên lao xuống. Như một nhà quản lý quỹ phòng hộ hàng đầu ở London đã diễn tả điều đó với Meriwether: "John, ông mới chính là hệ số tương quan." Tuy nhiên, còn có một nguyên nhân khác giải thích vì sao LTCM lại sụp đổ. Các mô hình Giá trị Rủi ro (VaR) của hãng đã chỉ ra rằng thiệt hại mà Quỹ Dài hạn phải chịu trong tháng 8 là khó có thể xảy ra, đến mức có lẽ sẽ chẳng bao giờ xảy ra trong toàn bộ thời gian tồn tại của vũ trụ. Song đó là bởi vì mô hình này chỉ tính trên số liệu của 5 năm. Nếu như mô hình quay ngược trở lại thêm 11 năm nữa, chắc hẳn là số liệu đã ghi nhận vụ sụp đổ thị trường chứng khoán năm 1987. Nếu quay ngược lại 80 năm nữa, chắc hẳn là số liệu đã ghi nhận vụ vỡ nợ lớn cuối cùng của nước Nga xảy ra sau cuộc cách mạng năm 1917. Bản thân Meriwether, sinh ra năm 1947, đã buồn rầu nhận xét: "Nếu như tôi sống qua cuộc Đại Suy thoái, tôi chắc hẳn sẽ có điều

kiện hiểu các sự kiện tốt hơn." [619] Nói một cách thẳng thừng, các nhà đoạt giải Nobel biết rất nhiều thứ về toán học, song biết chưa đủ về lịch sử. Họ hiểu lý thuyết tuyệt diệu của Hành tinh Tài chính, song đã bỏ qua mất quá khứ hỗn độn của Hành tinh Trái đất. Và, nói một cách đơn giản, đó chính là lý do khiến Quỹ Quản lý Vốn Dài hạn rốt cuộc trở thành Quỹ Quản lý tồi Vốn Ngắn hạn. Có thể giả định rằng sau sự sụp đổ thảm họa của LTCM, các quỹ phòng hộ định lượng chắc hẳn sẽ biến mất khỏi sân khấu tài chính. Bất luận thế nào thì sự sụp đổ đó, mặc dù rất ngoạn mục về quy mô, cũng không phải là quá bất bình thường. Trong số 1.308 quỹ phòng hộ được hình thành từ năm 1989 đến năm 1996, trên một phần ba (36,7%) đã chấm dứt tồn tại vào cuối giai đoạn đó. Trong giai đoạn đó, tuổi thọ trung bình của một quỹ phòng hộ chỉ có 40 tháng. [620] Vậy mà điều hoàn toàn ngược lại đã xảy ra. Không những không giảm đi, mà trong 10 năm gần đây các quỹ phòng hộ thuộc đủ mọi dạng đã bùng nổ về số lượng và về quy mô tài sản mà họ quản lý. Theo Nghiên cứu về Quỹ phòng hộ, năm 1990 chỉ có trên 600 quỹ phòng hộ nhưng lại quản lý tới khoảng 39 tỷ đô la giá trị tài sản. Đến năm 2000 có 3.873 quỹ với 490 tỷ đô la giá trị tài sản. Kể từ năm 1998 đã có một cuộc đổ xô đầu tư vào các quỹ phòng hộ (và vào các "quỹ của các quỹ" là các tổ chức gộp hoạt động của nhiều công ty). Nếu như trước đây các quỹ phòng hộ là nơi bảo vệ cho các cá nhân "có giá trị ròng cao" và các ngân hàng đầu tư, thì ngày nay chúng thu hút một số lượng ngày càng nhiều các quỹ lương hưu và quỹ đóng góp cho các trường đại học. [621] Xu thế này càng trở nên đáng chú ý hơn ở chỗ tỷ lệ mất khách vẫn cao; chỉ có một phần tư trong số có báo cáo năm 1996 là vẫn tồn tại vào cuối năm 2004. Năm 2006, 717 quỹ ngừng hoạt động, trong 9 tháng đầu năm 2007 thêm 409 quỹ. [622] Điều không được thừa nhận một cách rộng rãi là một số lượng lớn các quỹ phòng hộ lặng lẽ xịt hơi sau khi rầm rộ khai trương và không có khả năng đáp ứng được kỳ vọng của các nhà đầu tư. Lời giải thích dễ thấy về sự bùng nổ số lượng quỹ phòng hộ này là chúng hoạt động tương đối tốt với tư cách là một lớp tài sản, với mức biến động tương đối thấp và độ tương quan với các cỗ máy đầu tư khác cũng thấp. Song lợi nhuận của các quỹ phòng hộ, theo Nghiên cứu về Quỹ phòng hộ cho biết, đang giảm xuống, từ 18% trong thập niên 1990 xuống còn 7,5% trong thời gian từ năm 2000 đến 2006. Hơn thế nữa, càng ngày quỹ phòng hộ càng bị nghi ngờ rằng lợi nhuận của chúng thực chất là sự phản ánh "alpha" (trình độ quản lý tài sản), chứ không phải "beta" (sự biến động chung của thị trường có thể nắm được thông qua một tập hợp các chỉ số thích hợp). [623] Một cách giải thích khác là các quỹ phòng hộ trong thời gian tồn tại đã làm giàu cho các nhà quản lý của chúng theo một cách đặc biệt quyến rũ. Năm

2007, George Soros kiếm được 2,9 tỷ đô la, đứng trên Ken Griffin của Citadel và James Simons của Renaissance, song đứng sau John Paulson là người đã kiếm được số tiền đáng kinh ngạc 3,7 tỷ đô la từ các vụ đánh cược cho vay mua nhà thế chấp dưới chuẩn. Như John Kay đã chỉ ra, nếu Warren Buffett yêu cầu mức phí đối với các nhà đầu tư vào Berkshire Hathaway là "2 và 20", ông ta chắc hẳn đã giữ lại cho mình 57 tỷ đô la trong số 62 tỷ đô la mà công ty của ông đã kiếm cho các cổ đông trong vòng 45 năm qua. [624] Soros, Griffin và Simons rõ ràng là những nhà quản lý ngoại hạng (mặc dù chắc chắn là không hơn được Buffett). Điều này giải thích vì sao các quỹ của họ, cùng với những kẻ vượt trội khác, đã phất lên một cách nhanh chóng trong thập niên vừa qua. Ngày nay, khoảng 390 quỹ đang quản lý số tài sản vượt quá 1 tỷ đô la. Một trăm quỹ đứng đầu hiện chiếm 75% toàn bộ tài sản của các quỹ phòng hộ; chỉ riêng mười quỹ đứng đầu đã quản lý 324 tỷ đô la. [625] Song chỉ cần một kẻ lừa đảo thuộc loại tầm thường cũng có thể kiếm được một đống tiền bằng cách lập ra một quỹ phòng hộ, để nhận 100 triệu đô la từ những nhà đầu tư cả tín và tuân theo chiến lược đơn giản nhất có thể sau: 1. Anh ta đem 100 triệu đô la mua các trái phiếu Kho bạc một năm với lãi suất 4%. 2. Điều đó cho phép anh ta bán ăn 10 xu trên mỗi đô la các quyền chọn có bảo đảm trị giá 100 triệu đô la, sẽ mang lại lợi nhuận nếu S&P 500 tụt mất hơn 20% trong năm tới. 3. Anh ta nhận được 10 triệu đô la từ việc bán các quyền chọn và mua thêm trái phiếu Kho bạc, cho phép anh ta bán thêm các quyền chọn trị giá 10 triệu đô la nữa, và mang lại thêm cho anh ta 1 triệu đô la. 4. Sau đó anh ta đi nghỉ một chuyến dài. 5. Đến cuối năm, xác suất S&P 500 không giảm 20% là bằng 90%, như vậy anh ta không nợ nần gì với những người nắm giữ hợp đồng. 6. Anh ta thêm vào số tiền kiếm được của mình -11 triệu đô la từ việc bán các quyền chọn cộng với 4% lãi từ 110 triệu đô la của trái phiếu Kho bạc - một lợi nhuận ngon lành 15,4% trước khi khai trừ chi phí. 7. Anh ta bỏ túi 2% số vốn do mình quản lý (2 triệu đô la) và 20% lợi nhuận nêu trên, chẳng hạn mức chuẩn là 4%, mang lại trên 4 triệu đô la lãi thực. 8. Xác suất gần 60% là quỹ sẽ hoạt động một cách trơn tru trên cơ sở này trong hơn năm năm mà không sợ S&P 500 giảm đến 20%, mà nếu trong trường hợp đó thì anh ta sẽ kiếm được 15 triệu đô la ngay cả khi không có thêm tiền mới chảy vào quỹ của anh ta, và thậm chí không cần phải tạo đòn bẩy cho các vị thế của mình. [626] Liệu một cuộc khủng hoảng theo kiểu LTCM có tái diễn vào ngày nay,

mười năm sau - mà lần này trên một quy mô lớn và với sự dính líu của nhiều quỹ phòng hộ mà đến mức không có khả năng giải cứu? Liệu các ngân hàng của thế giới phương Tây ngày nay có bị ảnh hưởng bởi thiệt hại của các quỹ phòng hộ, và bởi những rủi ro ở bên đối tác liên quan, nhiều hơn so với thời điểm năm 1998? [627] Và nếu như vậy, thì ai sẽ đến để giải cứu họ lần này? Câu trả lời cho các câu hỏi đó không phải nằm ở một hành tinh khác, mà nằm ở phía bên kia của hành tinh này. Chimerica - Trung-Hoa-Mỹ Đối với nhiều người, lịch sử tài chính chỉ là nước chảy mây trôi trong trang sử ngày xưa, giống như lịch sử của Đế quốc Trung Hoa. Các thị trường đều có trí nhớ ngắn. Nhiều nhà kinh doanh trẻ hôm nay thậm chí còn chưa từng trải nghiệm cuộc Khủng hoảng châu Á giai đoạn 1997-98. Những ai bước vào ngành tài chính sau năm 2000 thì mới chỉ trải qua bảy năm lâng lâng (tính đến thời điểm viết cuốn sách). Các thị trường chứng khoán trên thế giới đang bùng nổ. Tương tự là các thị trường trái phiếu, thị trường hàng hóa và thị trường phái sinh. Trên thực tế, tất cả các lớp tài sản đều bùng nổ như vậy - đấy là chưa nói đến các tài sản được lợi khi các khoản lợi tức lên cao, từ rượu Bordeaux lâu năm đến các du thuyền sang trọng. Song những năm bùng nổ hiện thời cũng chính là những năm bí ẩn, khi mà thị trường vọt lên bất kể lãi suất tiết kiệm ngắn hạn tăng, mất cân đối thương mại rành rành và các rủi ro về chính trị tăng lên, đặc biệt là tại các khu vực xuất khẩu dầu mỏ quan trọng về kinh tế của thế giới. Chiếc chìa khóa để dẫn tới điều dường như là nghịch lý đó nằm ở Trung Quốc. [628] Trùng Khánh, một tỉnh nằm trên hai bờ mấp mô của con sông Dương Tử hùng vĩ ngập màu phù sa, nằm sâu trong lòng Trung Quốc, cách các đặc khu kinh tế ven biển mà hầu hết người phương Tây thường ghé thăm tới trên một nghìn dặm. Song 32 triệu người dân của tỉnh này cũng được bắt kịp với sự kỳ diệu về kinh tế của thời đại ngang với những ai sống ở Hồng Kông hay Thượng Hải. Ở một mức độ nào đó, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra với tốc độ quá nhanh ở Trùng Khánh là kỳ công mới nhất và vĩ đại nhất của nền kinh tế kế hoạch hóa theo kiểu cộng sản. Ba mươi cây cầu, mười tuyến đường sắt hạng nhẹ và vô số tòa nhà cao tầng, tất cả đều hiện lên dưới làn sương lẫn khói như những đài tôn vinh quyền lực của nhà nước một đảng tập trung này. Song sự phát triển của Trùng Khánh còn là kết quả của việc kinh doanh tư nhân được giải phóng. Xét ở nhiều khía cạnh, bà Ngô Á Quân là hiện thân của sự giàu có mới xuất hiện ở Trung Quốc. Với tư cách là một trong những nhà xây dựng bất động sản hàng đầu Trùng Khánh, bà là một trong những phụ nữ giàu có nhất ở Trung Quốc, với tài sản trên 9 tỷ đô

la - một sự tương phản sống với những người Scotland đã lập nên cơ nghiệp của họ ở Hồng Kông một thế kỷ trước. Hoặc hãy xem Doãn Minh Thiện. Bị cầm tù trong thời gian Đại Cách mạng Văn hóa, ông Doãn đã phát hiện ra thiên hướng thực sự của mình vào đầu thập niên 1990, sau khi nền kinh tế Trung Quốc được cải cách mở cửa. Chỉ trong vòng có mười lăm năm, ông đã xây dựng nên một doanh nghiệp 900 triệu đô la. Năm 2007, công ty Lợi Phàm (Lifan) của ông đã bán được trên 1,5 triệu động cơ xe máy và xe; hiện nay ông đang xuất khẩu sang Mỹ và châu Âu. Bà Ngô và ông Doãn chỉ là hai trong số hơn 345.000 triệu phú đô la hiện đang sống ở Trung Quốc. Trung Quốc không chỉ đã bỏ xa quá khứ đế quốc của mình. Cho đến nay, nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới này còn tìm cách tránh được kiểu khủng hoảng đã định kỳ làm vỡ tung các thị trường mới nổi khác. Bằng cách phá giá đồng nhân dân tệ năm 1994 và duy trì sự kiểm soát các luồng vốn trong suốt giai đoạn cải cách kinh tế, Trung Quốc đã tránh khỏi bị thiệt hại bởi cuộc khủng hoảng tiền tệ trong các năm 1997-98. Khi người Trung Quốc muốn lôi kéo vốn nước ngoài, họ yêu cầu vốn đó phải dưới dạng đầu tư trực tiếp. Điều đó có nghĩa là thay vì vay từ các ngân hàng phương Tây để tài trợ cho sự phát triển công nghiệp của mình, như nhiều thị trường mới nổi khác đã làm, họ cho người nước ngoài xây dựng nhà máy tại các đặc khu kinh tế ở Trung Quốc - những khối tài sản lớn khó có thể rút ra một cách dễ dàng trong trường hợp xảy ra khủng hoảng. Tuy nhiên, điểm mấu chốt là ở chỗ

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 121

Đang tải bình luận...
phần của vấn đề chính là việc - Đồng Tiền Lên Ngôi | DocTruyen.vip | DocTruyen.vip