chương 2). Có lê ông còn là nạn nhân của cơn thèm khát bất động sản. Để giúp trang trải chi phí cho trang trại yêu thích của ông ở Abbotsford, nhà văn đã trở thành người đứng tên khống cho nhà in xuất bản sách của ông là James Ballantyne & Co., và nhà xuất bản liên kết John Ballantyne & Co. Ông cũng đầu tư vào nhà xuất bản Archibald Constable của chính mình, do tin tưởng rằng lợi nhuận từ những cổ phần này cao hơn so với tiền hoa hồng truyền thống, ông giữ bí mật về các quyền lợi kinh doanh này vì cho rằng chúng không tương thích với vị trí của ông là lục sư của Tòa Hình sự và chánh án tòa án quận. Sự sụp đổ của Ballantyne và Constable năm 1825 đã để lại cho Scott món nợ từ 117.000 bảng đến 130.000 bảng. Thay vì bán trang trại Abbotsford, Scott thề sẽ viết để tìm đường xóa nợ. Ông đã làm được điều đó, song phải trả giá bằng chính sức khỏe của mình khi ông mất năm 1832. Nếu như ông chết sớm hơn thì những người cho ông vay tiền đã được thừa hưởng hợp đồng bảo hiểm từ hãng Scottish Widows. (TG) [339] Bản quảng cáo gốc 1986 dùng ảnh do David Bailey chụp, trong đó cô con gái Deborah của diễn viên Roger Moore đóng vai góa phụ Scotland quyến rũ. (TG) [340] G. Clayton và W. T. Osborne, "Insurance Companies and the Finance of Industry" (Các công ty bảo hiểm và tài chính ngành công nghiệp), Oxford Economic Review, bộ mới, 10, 1 (2/1958), tr. 84-97. [341] "American Exceptionalism" (Tính ngoại lệ của nước Mỹ), The Economist, 10/8/2006. [342] http://www.workhouses.org.uk/index.html/StMarylebone/StMarylebone.shtml . [343] Lothar Gall, Bismarck: The White Revolutionary (Bismarck: Nhà cách mạng trắng), tập II: 1879-1898, J. A. Underwood dịch (London, 1986), tr. 129. [344] H. G. Lay, Marine Insurance: A Text Book of the History of Marine Insurance, including the Functions of Lloyd's Register of Shipping (Bảo hiểm hàng hải: Sách giáo khoa về lịch sử bảo hiểm hàng hải, bao gồm Những chức năng của sổ đăng ký tàu biển của Lloyd) (London, 1925), tr. 137. [345] Richard Sicotte, "Economic Crisis and Political Response: The Political Economy of the Shipping Act of 1916" (Khủng hoảng kinh tế và phản ứng chính trị: Cơ sở kinh tế chính trị của Đạo luật Hàng hải năm 1916), Journal of Economic History, 59,4 (12/1999), tr. 861-84. [346] Khuyết danh, "Allocation of Risk between Marine and War Insurer"
(Phân bổ rủi ro giữa bảo hiểm hàng hải và bảo hiểm chiến tranh), Yale Law Journal 51, 4 (2/1942), tr. 674; mục "War Risks in Marine Insurance" (Các rủi ro chiến tranh trong bảo hiểm hàng hải), Modern Law Review, 10,2 (3/1947), tr. 211-14. [347] Alfred T. Lauterbach, "Economic Demobilization in Great Britain after the First World War" (Giải ngũ kinh tế ở Anh sau Thế chiến thứ nhất), Political Science Quarterly, 57,3 (9/1942), tr. 376-93. [348] Correlli Barnett, The Audit of War (Kiểm tra sổ sách chiến tranh) (London, 2001), tr. 31-32. [349] Richmond, "Insurance Tendencies", tr. 185. [350] Charles Davison, "The Japanese Earthquake of 1 September" (Động đất ở Nhật Bản ngày 1/9), Geographical Journal 65,1 (1/1925), tr. 42-43. [351] Yoshimichi Miura, "Insurance Tendencies in Japan" (Các xu hướng bảo hiểm ở Nhật Bản), Annals of the American Academy of Political and Social Science, 161 (5/1932), tr. 215-19. [352] Herbert H. Gowen, "Living Conditions in Japan" (Điều kiện sinh sống tại Nhật Bản), Annals of the American Academy of Political and Social Science, 122 (11/1925), tr. 163. [353] Kenneth Hewitt, "Place Annihilation: Area Bombing and the Fate of Urban Places" (Xóa sổ địa điểm: Đánh bom khu vực và số phận của các địa điểm thành thị), Annals of the Association of American Geographers, 73 (1983), tr. 263. [354] Khuyết danh, "War Damage Insurance" (Bảo hiểm thiệt hại chiến tranh), Yale Law Journal 51, 7 (5/1942), tr. 1160-1. Tổ chức này đã kiếm được 210 triệu đô la, khi thu phí tiền bảo hiểm từ 8 triệu hợp đồng và chỉ phải trả một phần khiêm tốn. [355] Kingo Tamai, "Development of Social Security in Japan" (Sự phát triển của an sinh xã hội ở Nhật Bản), trong Misa Izuhara (cb), Comparing Social Policies: Exploring New Perspectives in Britain and Japan (So sánh các chính sách xã hội: Khám phá những quan điểm mới ở Anh và Nhật) (Bristol, 2003), tr. 35-48. Xem cả Gregory J. Kasza, "War and Wehare Policy in Japan" (Chiến tranh và chính sách phúc lợi xã hội Nhật Bản), Journal of Asian Studies, 61, 2 (5/2002), tr. 428. [356] Theo đề xuất của Hội đồng Hệ thống An sinh Xã hội (1950). [357] W. Macmahon Ball, "Reflections on Japan" (Nghĩ về Nhật Bản), Pacific Affairs, 21,1 (3/1948), tr. 15-16. [358] BeatriceG. Reubens, "Social Legislation in Japan" (Lập pháp mang tính xã hội ở Nhật Bản), Far Eastern Survey, 18, 23 (16/11/1949), tr. 270. [359] Keith L. Nelson, "The 'Warfare State': History of a Concept" (Quốc gia chiến tranh: Lịch sử của một khái niệm), Pacific Historical Review, 40, 2 (5/1971), tr. 138-39.
[360] Kasza, "War and Welfare Policy", tr. 418-19. [361] Như trên, tr. 423. [362] Như trên, tr. 424. [363] Nakagawa Yatsuhiro, "Japan, the Welfare Super-Power" (Nhật Bản, cường quốc phúc lợi), Journal of Japanese Studies, 5,1 (Đông 1979), tr. 5- 51. [364] Như trên, tr. 21. [365] Như trên, tr. 9. [366] Như trên, tr. 18. [367] Xem các nghiên cứu so sánh của Gregory J. Kasza, One World of Welfare: Japan in Comparative Perspective (Một thế giới phúc lợi: Nhật Bản dưới cái nhìn so sánh) (Ithaca, 2006); Neil Gilbert và Ailee Moon, "Analyzing Welfare Effort: An Appraisal of Comparative Methods" (Phân tích nỗ lực phúc lợi: đánh giá những phương thức so sánh), Journal of Policy Analysis and Management, 7,2 (Đông 1988), tr. 326-40. [368] Kasza, One World of Welfare, tr. 107. [369] Peter H. Lindert, Growing Public: Social Spending and Economic Growth since the Eighteenth Century (Công chúng đang phát triển: Chi tiêu xã hội và phát triển kinh tế từ thế kỷ 18) (Cambridge, 2004), tập I, bảng 1.2. [370] Hiroto Tsukada, Economic Globalization and the Citizens' Welfare State (Toàn cầu hóa kinh tế và nhà nước phúc lợi cho công dân) (Aldershot / Burlington / Singapore / Sydney, 2002), tr. 96. [371] Milton Friedman và Anna J. Schwartz, A Monetary History of the United States (Lịch sử tiền tệ Hoa Kỳ)/ 1867/1960 (Princeton, 1963). [372] Milton Friedman và Rose D. Friedman, Two Lucky People: Memoirs (Hai người may mắn: Hồi ký) (Chicago / London, 1998), tr. 399. [373] Như trên, tr. 400. [374] Như trên, tr. 593. [375] Friedman đã giải thích vào năm 1988 là ông cũng đưa ra một Khuyến nghị hầu như tương tự về lạm phát cho chính phủ Trung Quốc, song ông không hề nhận được “dòng thác phản đổi vì đã sẵn sàng tư vấn cho một chính phủ xấu xa như vậy”, bất chấp thực tế là nó “đã và hiện vẫn đang là một chính phủ tàn bạo còn hơn cả chế độ độc tài quân sự Chile”. (TG) [376] Patricio Silva, "Technocrats and Politics in Chile: From the Chicago Boys to the CEIPLAN Monks" (Những nhà kỹ trị và đời sống chính trị ở Chile: từ các Chàng trai Chicago đến những tu sĩ CEIPLAN), Journal of Latin American Studies, 23, 2 (5/1991), tr. 385-410. [377] Bill Jamieson, "25 Years On, Chile Has a Pensions Message for Britain" (25 năm sau, Chile có một lời nhắn về lương hưu cho Vương quốc Anh), Sunday Business, 14/12/2006. [378] Rossana Castiglioni, "The Politics of Retrenchment: The
Quandaries of Social Protection under Military Rule in Chile, 1973-1990" (Tính chính trị của tình trạng cắt xén: Thế khó xử của sự bảo vệ xã hội dưới chế độ quân quản ở Chile, 1973-1990), Latin American Politics and Society, 43,4 (Đông 2001), tr. 39 trở đi. [379] Như trên, tr. 55. [380] Jose Piñera, "Empowering Workers: The Privatization of Social Security in Chile" (Trao quyền cho công nhân: Tư nhân hóa an sinh xã hội ở Chile), Tạp chí Cato, 15, 2-3 (Thu/Đông 1995/96), tr. 155-166. [381] Như trên, tr. 40. [382] Teresita Ramos, "Chile: The Latin American Tiger?" (Chile: Con hổ Mỹ Latin?), Trường Kinh doanh Harvard, Trường hợp 9-798-092 (21/3/1999), tr. 6. [383] Laurence J. Kotlikoff, "Pension Reform as the Triumph of Form over Substance" (Cải cách lương hưu như sự chiến thắng của hình thức với nội dung), Economists' Voice (1/2008), tr. 1-5. [384] Armando Barrientos, "Pension Reform and Pension Coverage in Chile: Lessons for Other Countries" (Cải cách lương hưu và độ phủ lương hưu ở Chile: Bài học cho các nước khác), Bullentin of Latin American Research, 15,3 (1996), tr. 312. [385] "Destitute No More" (Không còn nghèo khổ), The Economist, 16/8/2007. [386] Barrientos, "Pension Reform", tr. 309. Xem cả Raul Madrid, "The Politics and Economics of Pension Privatization in Latin America" (Tính chính trị và kinh tế của việc tư nhân hóa lương hưu ở Mỹ Latin), Journal of Latin American Studies, 37, 2 (2002), tr. 159-82. [387] Medicare: chương trình bảo hiểm xã hội của chính phủ Mỹ, cung cấp bảo hiểm y tế cho người già trên 65 tuổi. [388] Tất cả số liệu là của năm 2004, dữ liệu mới nhất có thể so sánh được có trong cơ sở dữ liệu Chỉ số phát triển thế giới của Ngân hàng Thế giới. [389] Tôi biết ơn Laurence J. Kotlikoff và Scott Bums, The Coming Generational Storm: What You Need to Know about America's Economic Future (Cơn bão thế hệ sắp đến: Những gì bạn cần biết về tương lai của nền kinh tế Mỹ) (Cambridge, 2005). Xem cả Peter G. Peterson, Running on Empty: How the Democratic and Republican Parties Are Bankrupting Our Future and What Americans Can Do about It (Chạy xe hết xăng: Các đảng Dân chủ và Cộng hòa đang làm phá sản tương lai của nước Mỹ ra sao và người dân có thể làm điều gì?) (New York, 2005). [390] Ruth Helman, Craig Copeland và Jack VanDerhei, "Will More of Us Be Working Forever? The 2006 Retirement Confidence Survey" (Chúng ta có nhiều người đi làm vĩnh viễn hơn không? Khảo sát Niềm tin về hưu
2006), Báo cáo sơ bộ của Trung tâm Nghiên cứu Phúc lợi Nhân viên, 292 (3/2006). [391] Medicaid: chương trình y tế của chính phủ Mỹ cho những người và gia đình có thu nhập thấp. [392] Gene L. Dodaro, quyền Kiểm toán trưởng Hoa Kỳ, "Working to Improve Accountability in an Evolving Environment" (Làm việc để tăng cường kiểm toán trong một môi trường luôn tiến hóa), diễn văn tại Hội nghị Hiệp hội Chính phủ và Tổ chức Phi lợi nhuận của các nhà kiểm toán đã được chứng nhận của bang Maryland 2008 (18/3/2008). [393] James Brooke, "A Tough Sell: Japanese Social Security" (Khó bán: An sinh xã hội Nhật Bản), New York Times, 6/5/2004. [394] Xem Mutsuko Takahashi, The Emergence of Welfare Society in Japan (Sự xuất hiện xã hội phúc lợi ở Nhật) (Aldershot / Brookfield / Hồng Kông / Singapore / Sydney, 1997), tr. 185. Xem cả Kasza, One World of Welfare, tr. 179-82. [395] Alex Kerr, Dogs and Demons: The Fall of Modern Japan (Chó và quỷ: Sự sụp đổ của Nhật Bản hiện đại) (London, 2001), tr. 261-66. [396] Gavan McCormack, Client State: Japan in the American Embrace (Đất nước khách hàng: Nhật Bản trong vòng tay Mỹ) (London, 2007), tr. 45- 69. [397] Lisa Haines, "World's Largest Pension Funds Top $10 Trillion" (Quỹ lương hưu lớn nhất thế giới đạt tới 10 nghìn tỷ đô la), Financial News, 5/9/2007. [398] "Living Dangerously"(Sống mạo hiểm), The Economist, 22/1/2004. [399] Philip Bobbitt, Terror and Consent: The Wars for the Twenty-first Century (Khủng bố và đồng thuận: Những cuộc chiến tranh giành thế kỷ 21) (New York, 2008), đặc biệt là tr. 98-179. [400] Suleiman abu Gheith, trích trong sách như trên, tr. 119. [401] Graham Allison, "Time to Bury a Dangerous Legacy, Part 1" (Đã đến lúc phải chôn vùi một di sản nguy hiểm,