Đồng Tiền Lên Ngôi

Chương 3); và từ năm 1742,

Chương 3); và từ năm 1742,

Chương 3); và từ năm 1742, nó thiết lập thế độc quyền một phần trong việc phát hành giấy bạc ngân hàng, một hình thức kỳ phiếu (promissory note) riêng biệt không mang lãi, nhằm hỗ trợ cho thanh toán mà không cần tới việc hai bên giao dịch phải có tài khoản lưu hành. Để hiểu được quyền năng của ba sáng kiến này, các sinh viên MBA năm đầu tại Trường Kinh doanh Harvard tiến hành một trò chơi tiền bạc đơn giản. Trò chơi bắt đầu với việc một ngân hàng trung ương giả định, thay mặt cho chính phủ, chi trả giáo sư 100 đô la tiền công cho một công việc tư vấn không béo bở lắm. Vị giáo sư mang tiền tới một ngân hàng giả định do một trong số các sinh viên điều hành và gửi tiền vào đó, thế là ông nhận được một phiếu gửi tiền. Để đơn giản, giả sử ngân hàng này vận hành với tỷ lệ dự trữ 10% (tức là ngân hàng muốn duy trì tỷ lệ dự trữ trên tổng nợ của nó ở mức 10%), nó sẽ gửi 10 đô la cho ngân hàng trung ương và cho vay 90 đô la còn lại cho một trong các khách hàng. Trong khi khách hàng này chưa quyết định làm gì với khoản vay, ông ta gửi tiền vào một ngân hàng khác. Ngân hàng này cũng có quy định dự trữ 10%, do đó nó gửi 9 đô la tại ngân hàng trung ương và cho vay 81 đô la còn lại cho một trong các khách hàng. Sau

vài vòng như vậy, giáo sư yêu cầu lớp học tính mức độ tăng trong cung tiền. Việc này cho phép ông trình bày về hai định nghĩa then chốt trong lý thuyết tiền tệ hiện đại: M0 (còn được gọi là tiền cơ sở [monetary base] hay tiền có mãnh lực [high-powered money]), bằng tổng nợ của ngân hàng trung ương, tức là bằng tiền mặt cộng với các khoản dự trữ của các ngân hàng thương mại dưới hình thức tiền gửi tại ngân hàng trung ương; và M1 (còn được gọi là tiền theo nghĩa hẹp [narrow money]), bằng tiền mặt đang lưu thông cộng với tiền gửi không kỳ hạn. Tới thời điểm tiền được gửi tại ba ngân hàng sinh viên khác nhau, M0 bằng 100 đô la nhưng M1 sẽ bằng 271 đô la (100 + 90 + 81). Ví dụ này minh họa rõ ràng, dù đã được đơn giản hóa cao độ, hoạt động ngân hàng dự trữ theo tỷ lệ thời hiện đại cho phép tạo ra tín dụng và do đó tạo ra tiền. Vị giáo sư sau đó bất ngờ đòi lấy lại 100 đô la của mình từ sinh viên thứ nhất. Sinh viên này phải rút từ dự trữ của anh ta và đòi lại tiền mà anh ta cho sinh viên thứ hai vay, tạo ra hiệu ứng domino khiến M1 co hẹp cũng nhanh chóng như khi nó mở rộng. Việc này minh họa cho nguy cơ xảy ra hiện tượng rút tiền ồ ạt khỏi ngân hàng. Do ngân hàng thứ nhất chỉ có một người gửi tiền, việc ông này rút tiền sẽ tạo ra một yêu cầu nhiều gấp mười lần so với dự trữ của nó. Sự sống còn của chủ ngân hàng thứ nhất rõ ràng phụ thuộc vào việc anh ta có thể đòi lại số tiền mà anh ta đã cho khách hàng của mình vay không, người này đến lượt mình lại phải rút toàn bộ tiền gửi của anh ta tại ngân hàng thứ hai, và cứ như vậy. Khi cho vay, các chủ ngân hàng cần phải suy nghĩ kỹ về mức độ dễ dàng trong việc thu hồi tiền của họ. Đây thực chất là vấn đề tính thanh khoản (liquidity) của khoản cho vay. Cần phải thừa nhận rằng định nghĩa cung tiền có cái gì đó hơi tùy tiện. Một số cách xác định M1 bao gồm cả séc du lịch. M2 cộng thêm tài khoản tiết kiệm, tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ và giấy chứng nhận tiền gửi. M3 là khái niệm còn rộng hơn nữa, bao gồm thêm tiền gửi đô la châu Âu (eurodollar deposit) tại các thị trường nước ngoài, và các thỏa thuận mua lại (repurchase agreement) giữa các ngân hàng và các tổ chức trung gian tài chính khác. Nhưng chúng ta không nhất thiết phải bận tâm với những vấn đề kỹ thuật ở đây. Điểm quan trọng cần thấy được là với việc lan rộng khắp thế giới phương Tây của: a) các giao dịch phi tiền mặt nội ngân hàng và liên ngân hàng, b) hoạt động ngân hàng dự trữ theo tỷ lệ, vàc) thế độc quyền phát hành tiền mặt của ngân hàng trung ương, bản chất của tiền tệ đã tiến hóa theo một cách thức hết sức quan trọng. Tiền tệ không còn được hiểu như người Tây Ban Nha từng hình dung về nó trong thế kỷ 16, là thứ kim loại quý hiếm được đào lên, nung chảy và đúc thành đồng tiền. Giờ đây, tiền tệ là tổng các khoản nợ cụ thể (tiền gửi và dự trữ) của ngân hàng. Tín dụng thì chỉ đơn giản là tổng các tài sản của ngân hàng (các khoản cho vay). Một phần trong số tiền này vẫn có thể bao gồm kim loại quý, mặc dù tỷ lệ các kim loại

này được dự trữ trong kho của ngân hàng trung ương ngày càng cao. Nhưng hầu hết tiền tệ bao gồm tiền giấy và tiền xu đều được thừa nhận là tiền pháp định, cùng với thứ tiền vô hình chỉ tồn tại trong bảng báo cáo tài khoản tiền gửi. Sáng kiến mới về tài chính đã thay thế cho thứ bạc trơ ì ở Potosí và trở thành cơ sở cho hệ thống tiền tệ hiện đại, trong đó các mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ được môi giới hóa hay "trung gian" hóa bởi ngày càng nhiều các tổ chức có tên là ngân hàng. Ngày nay, chức năng cốt lõi của các tổ chức này là thu thập thông tin và quản lý rủi ro. Nguồn lợi nhuận của chúng nằm ở việc tối đa hóa sự chênh lệch giữa chi phí từ các khoản nợ và thu nhập trên tài sản của chúng, trong khi không làm giảm dự trữ tới mức độ khiến ngân hàng trở nên dễ đổ vỡ trước một cuộc rút tiền gửi ồ ạt - một sự khủng hoảng lòng tin vào khả năng đáp ứng người gửi tiền của ngân hàng khiến cho việc rút tiền ngày càng leo thang và cuối cùng dẫn tới phá sản: thực chất đó là sự đổ vỡ của ngân hàng. Một điều quan trọng là trong khi các kỹ thuật ngân hàng Italia được cải thiện tại các trung tâm tài chính ở Bắc Âu thì có một quốc gia lại tụt hậu một cách không ngờ. Ỷ lại vào kho kim loại quý dồi dào, nước Tây Ban Nha hùng mạnh đã không phát triển được một hệ thống ngân hàng tiên tiến, thay vào đó nó dựa vào những khoản tiền mặt được ứng trước ngắn hạn từ các thương nhân ở Antwerp để đổi lấy việc giao nhận bạc trong tương lai. Quan niệm tiền tệ thực ra là tín dụng chứ không phải kim loại chưa bao giờ được tiếp thu tại Madrid. Trên thực tế, cuối cùng vương triều Tây Ban Nha đã vỡ nợ toàn bộ - hay một phần số nợ - ít nhất mười bốn lần trong giai đoạn từ năm 1557 tới 1696. Với lý lịch như thế, toàn bộ số bạc tại Potosí cũng không thể biến Tây Ban Nha thành nơi an toàn cho tín dụng. Trong thế giới hiện đại, quyền lực chuyển sang các chủ ngân hàng, chứ không phải những kẻ phá sản. Sự tiến hóa của ngân hàng Các sử gia về tài chính có quan điểm khác nhau về vai trò của sự phát triển hệ thống ngân hàng sau thế kỷ 17 đối với sự gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế bắt đầu tại Anh vào cuối thế kỷ 18, sau đó lan rộng sang Tây Âu và những thuộc địa quy mô lớn của châu Âu tại Bắc Mỹ và Á-Úc (Australasia). [70] Nhưng chắc chắn không có gì phải nghi ngờ rằng cách mạng tài chính đi trước cách mạng công nghiệp. Đúng là những đột phá quyết định trong ngành dệt và sản xuất thép, hai mũi nhọn của cuộc cách mạng công nghiệp, không phụ thuộc nhiều vào các ngân hàng trong việc cung cấp vốn. [71] Nhưng các ngân hàng đóng vai trò quan trọng hơn nhiều trong quá trình công nghiệp hóa ở châu Âu lục địa so với ở Anh. Trên thực tế, có thể việc

tìm một mối quan hệ nhân quả đơn giản sẽ là vô ích (các tổ chức tài chính tiên tiến hơn tạo ra tăng trưởng hay tăng trưởng thúc đẩy phát triển tài chính). Hai quá trình này hoàn toàn có thể phụ thuộc lẫn nhau và củng cố cho nhau. Cả hai đều thể hiện đặc tính tiến hóa rõ rệt, với sự đột biến thường kỳ (sáng kiến kỹ thuật), sự hình thành loài (sự ra đời nhiều loại hãng mới) và cân bằng ngắt quãng (các cuộc khủng hoảng sẽ quyết định hãng nào tồn tại và hãng nào sẽ biến mất). Nói theo lời Adam Smith, "hoạt động sáng suốt của ngân hàng, bằng cách dùng tiền giấy thay thế

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 24

Đang tải bình luận...