phần chủ chốt. Một thực tế không thể né tránh là quyết định phá vỡ mối liên hệ giữa việc tạo ra tiền và dùng kim loại neo giữ đã đưa đến sự mở rộng tiền tệ chưa từng có - và cùng với nó là sự bùng nổ tín dụng mà thế giới chưa bao giờ được chứng kiến. Bằng cách đo tính thanh khoản như là tỷ lệ tiền theo nghĩa rộng trên sản lượng [79] trong một trăm năm qua, chúng ta thấy rõ rằng xu hướng kể từ thập kỷ 1970 là tỷ lệ này tăng lên - ở những nước lớn phát triển, tỷ lệ này tăng từ khoảng 70% giai đoạn trước khi đóng cửa "cửa sổ vàng" tới hơn 100% vào năm 2005. [80] Trong khu vực đồng euro, tỷ lệ này tăng rất nhanh, từ mức chỉ hơn 60% vào năm 1990 lên tới gần 90% ngày nay. Trong khi đó, tỷ lệ vốn thích đáng (capital adequacy) của các ngân hàng tại các nước phát triển đang giảm chậm chạp nhưng đều đặn. Tại châu Âu, vốn ngân hàng hiện nay chưa bằng 10% tài sản, so với con số khoảng 25% vào đầu thế kỷ 20. [81] Nói cách khác, các ngân hàng không chỉ nhận thêm tiền gửi; họ còn cho vay một tỷ lệ lớn hơn của số tiền gửi này và giảm thiểu vốn cơ sở của mình. Ngày nay, tài sản của ngân hàng (tức là các khoản cho vay) tại các nền kinh tế lớn trên thế giới tương đương 150% tổng GDP của các nước này. [82] Theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank for International Settlement), tổng tài sản ngân hàng quốc tế vào tháng 12/2006
tương đương 29 nghìn tỷ đô la, xấp xỉ 63% GDP toàn thế giới. [83] Giá đóng cửa của vàng trên thị trường New York (đô la trên ounce, theo thang logarit), 1908-2008. Như vậy liệu có đáng ngạc nhiên khi tiền tệ không còn giữ nguyên được giá trị như thời bản vị vàng? Tờ bạc đô la ngày nay có thiết kế như bây giờ kể từ năm 1957. Từ đó, sức mua của nó, trong tương quan với chỉ số giá tiêu dùng, đã giảm đi một cách đáng kinh ngạc mất 87%. Lạm phát trung bình hằng năm trong giai đoạn này vượt quá 4%, cao gấp hai lần mức lạm phát mà châu Âu từng chứng kiến trong cuộc cách mạng giá cả do việc khai thác bạc ở Potosí mang lại. Một người đổi 1.000 đô la tiền tiết kiệm lấy vàng vào năm 1970, thời điểm mà cửa sổ vàng vẫn còn có hiệu lực, sẽ nhận được hơn 26,6 ounce một chút thứ kim loại quý này. Vào thời điểm viết cuốn sách này, với mức giá vàng đạt gần 1.000 đô la cho một ounce, ông ta có thể bán số vàng lấy số tiền 26.596 đô la. Một thế giới không có tiền sẽ tồi tệ hơn, tồi tệ hơn nhiều, so với thế giới hiện nay. Thật là sai lầm khi cho rằng (như nhân vật Antonio của Shakespeare từng nghĩ) tất cả những người cho vay tiền chỉ là lũ đỉa, hút máu các con nợ không may mắn. Những kẻ cho vay nặng lãi có thể hành động như thế, nhưng các ngân hàng đã biến chuyển kể từ thời gia đình Medici, nhằm mục đích (như cách nói cô đọng của Huân tước Rothschild Đệ Tam) "hỗ trợ cho sự chuyển dịch tiền tệ từ điểm A, nơi hiện nó đang ở, tới điểm B, nơi người ta cần tới nó". [84] Tín dụng và nợ, nói tóm lại, nằm trong số những viên gạch thiết yếu cho phát triển kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự giàu có thịnh vượng của các quốc gia không kém gì khai khoáng, chế tạo hay điện thoại di động. Trái lại, nghèo đói hiếm khi có thể
quy trực tiếp cho các mánh mung của những nhà tài chính tham lam. Nó thường xảy ra hơn là do thiếu vắng các tổ chức tài chính, các ngân hàng, chứ không phải do sự hiện diện của chúng. Chỉ khi nào người vay tiền tại những nơi như khu Đông Glasgow có thể tiếp cận được các mạng lưới tín dụng hiệu quả, họ mới có thể thoát khỏi móng vuốt của bọn cho vay nặng lãi; chỉ khi nào những người gửi tiền đưa tiền của mình vào các ngân hàng đáng tin cậy thì số tiền đó mới được chuyển dịch từ vốn nhàn rỗi tới những người chăm chỉ. Do đó, quá trình tiến hóa của ngân hàng chính là bước đi quan trọng đầu tiên trong sự lên ngôi của đồng tiền. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 8/2007 rất ít liên quan tới hình thức cho vay truyền thống của ngân hàng, hay thậm chí tới các vụ phá sản mà trên thực tế đã giảm trong năm 2007 (do sự thay đổi về mặt luật pháp). Nguyên nhân chủ yếu của khủng hoảng là sự thăng trầm của "cho vay chứng khoán hóa", nó cho phép các ngân hàng tạo ra các khoản cho vay, sau đó tái đóng gói chúng rồi đem bán lần nữa. Nhưng điều này xảy ra được chỉ là vì tiếp theo sự lên ngôi của các ngân hàng là sự lên ngôi của cột trụ lớn thứ hai trong hệ thống tài chính hiện đại: thị trường trái phiếu.