Đồng Tiền Lên Ngôi

hồi

hồi

hồi và gần một phần tư toàn bộ dân cư Lancaster phải sống nhờ trợ cấp người nghèo. [143] Người ta gọi đó là nạn đói bông. Nhưng đây là nạn đói do con người làm ra. Và những người làm ra nạn đói này dường như cũng đạt được

mục tiêu của mình. Lệnh cấm vận không những gây ra thất nghiệp, đói kém và bạo loạn ở miền Bắc nước Anh; việc thiếu hụt còn đẩy giá bông lên cao và làm tăng giá trị các trái phiếu bảo đảm bằng bông của miền Nam, biến chúng thành các món đầu tư đặc biệt hấp dẫn với nhiều nhân vật quan trọng trong tầng lớp tinh hoa chính trị ở Anh. Thủ tướng tương lai của Anh là William Ewart Gladstone đã mua một số trái phiếu này và chủ bút tờ The Times John Delane cũng vậy. [144] Trái phiếu bông của Liên hiệp cùng với cấc phiếu lĩnh lãi, mới có bốn phiếu đầu tiên bị xé Nhưng khả năng thao túng thị trường trái phiếu của miền Nam phụ thuộc vào một điều kiện thiết yếu: đó là các nhà đầu tư phải có khả năng sở hữu bông đảm bảo cho trái phiếu trong tay trong trường hợp miền Nam không thực hiện được nghĩa vụ trả lãi. Thế chấp rốt cuộc cũng chỉ có giá trị nếu người chủ nợ có thể cầm nắm được. Đó là lý do tại sao sự thất thủ của New Orleans vào tháng 4/1862 lại là bước ngoặt thực sự trong Nội chiến Mỹ. Khi cảng chính của miền Nam nằm trong tay quân Liên bang, bất kỳ nhà đầu tư nào muốn nhận bỏng của miền Nam đều phải đi qua vòng phong tỏa đường biển của quân Liên bang không chỉ một mà là hai lần, khi vào và khi ra. Với sức mạnh hải quân của miền Bắc ngày càng được tăng cường trên sông Mississippi và các vùng xung quanh, đây không phải là một triển vọng hấp dẫn lắm.

Một tờ tiền "mặt xám" của phe Liên hiệp: đồng 5 đô la của bang Louisiana Nếu miền Nam vẫn giữ được New Orleans cho tới sau vụ thu hoạch, khi bông đã lên tàu sang châu Âu, thì họ vẫn có thể bán được hơn 3 triệu bảng trái phiếu bông ở London. Khi đó thì có thể ngay cả nhà Rothschild vốn e ngại rủi ro cũng sẽ rời khỏi ngã ba đường tài chính mà họ đang đứng. Nhưng trên thực tế, nhà Rothschild cho rằng món nợ của công ty Erlanger này "quá mang tính đầu cơ và rất có thể sẽ hấp dẫn tất cả những nhà đầu cơ ngồng cuồng nhất... chúng tôi không nghe nói tới người đáng kính nào có liên quan tới vụ này cả." [145] Phe Liên hiệp đã chơi quá tay. Họ đã tắt van bông nhưng sau đó mất khả năng mở van trở lại. Tới năm 1863, các nhà máy ở Lancashire đã tìm thấy những nguồn cung cấp bông mới ở Trung Quốc, Ấn Độ và Ai Cập. Và lúc này, các nhà đầu tư đã nhanh chóng mất lòng tin vào các trái phiếu do bông bảo đảm của miền Nam. Những hậu quả đối với nền kinh tế phe Liên hiệp quả là thảm họa. Với việc thị trường trái phiếu trong nước cạn kiệt và chỉ có hai khoản vay không đáng kể từ nước ngoài, chính phủ Liên hiệp buộc phải in tiền giấy không được bảo đảm để trả cho chi phí chiến tranh và các chi phí khác, với tổng số tiền in ra trị giá 1,7 tỷ đô la. Đúng là cả hai phe trong nội chiến đều phải in tiền. Nhưng tới cuối chiến tranh, đồng đô la "mặt xanh" của phe Liên bang vẫn còn có giá tương đương 50 xu tiền vàng, trong khi đó đồng đô la "mặt xám" của phe Liên hiệp chỉ còn giá 1 xu, bất chấp nỗ lực cải cách tiền tệ vô vọng vào năm 1864. [146] Tình hình còn tồi tệ hơn nữa do các bang và các chính quyền thành phố ở miền Nam có thể tự in tiền giấy của riêng mình; và còn do tình trạng tiền giả tràn lan, bởi tiền giấy phe Liên hiệp được làm một cách thô sơ và dễ bị bắt chước. Và khi tiền ngày càng nhiều trong lúc hàng hóa ngày càng ít thì lạm phát sẽ bùng nổ. Giá cả ở miền Nam tăng khoảng 4.000% trong thời gian Nội chiến. [147] Trái lại, giá cả ở miền Bắc chỉ tăng có 60%. Thậm chí trước khi lực lượng quân sự chủ yếu của phe Liên hiệp tuyên bố đầu hàng vào tháng 4/1865 thì nền kinh tế miền Nam đã

sụp đổ, tình trạng siêu lạm phát như là tín hiệu báo trước sự thảm bại. Nhà Rothschild đã đúng. Những người đầu tư vào trái phiếu Liên hiệp cuối cùng đều mất trắng do phe miền Bắc sau khi chiến thắng tuyên bố không trả nợ cho phe miền Nam. Cuối cùng, cách duy nhất để tài trợ cho chiến tranh của miền Nam là in tiền. Đây sẽ không phải là lần cuối cùng trong lịch sử một cố gắng thúc đẩy thị trường trái phiếu mang lại kết quả là lạm phát phi mã và thảm bại quân sự. Cái chết êm dịu của Rentier Số phận những người đánh mất cả tấm áo manh quần vì trái phiếu phe Liên hiệp không phải điều gì quá khác thường trong thế kỷ 19. Nhà nước Liên hiệp hoàn toàn không phải là chính quyền đầu tiên ở châu Mỹ đi đến việc khiến các chủ nợ thất vọng; nó chỉ đơn thuần là kẻ phá nợ nằm ở xa nhất về phương Bắc. Ở phía nam sông Rio Grande, những vụ vỡ nợ và phá giá tiền tệ gần như đã thành chuyện hằng ngày. Những gì Mỹ Latin trải qua trong thế kỷ 19 đã báo trước nhiều vấn đề gần như có mặt mọi nơi vào giữa thế kỷ 20. Một phần điều này xảy ra vì tầng lớp xã hội có khả năng đầu tư vào trái phiếu nhất - và do đó có lợi ích trong việc duy trì trả lãi đúng hạn bằng một đồng tiền ổn định - tại nơi này yếu hơn ở các nơi khác. Một phần khác là vì các nước cộng hòa Mỹ Latin nằm trong số những nước đầu tiên phát hiện ra rằng họ có thể vỡ nợ mà không chịu hậu quả nhiều lắm khi có một tỷ lệ đáng kể chủ nợ là người nước ngoài. Chẳng phải tình cờ mà cuộc khủng hoảng nợ lớn đầu tiên của Mỹ Latin xảy ra rất sớm, từ năm 1826 tới 1829, khi Peru, Colombia, Chile, Mexico, Guatemala và Argentina cùng không trả được nợ cho các khoản vay phát hành tại London chỉ vài năm trước đó. [148] Trên nhiều khía cạnh, thị trường trái phiếu quả thực có thế lực. Tới cuối thế kỷ 19, nước nào không trả được nợ là phải chịu nguy cơ trừng phạt kinh tế, bị nước ngoài áp đặt quyền kiểm soát lên nền tài chính của mình, và thậm chí trong ít nhất năm trường hợp còn gặp phải can thiệp quân sự của nước ngoài. [149] Thật khó tin rằng Gladstone [150] lại ra lệnh xâm lược Ai Cập năm 1882 nếu như chính phủ Ai Cập không đe dọa phá vỡ cam kết với các chủ nợ trái phiếu châu Âu, trong đó có cả Gladstone. Đặt một "thị trường mới nổi" trong sự che chở của Đế chế Anh là cách chắc chắn nhất để loại bỏ rủi ro chính trị khỏi các mối bận tâm của nhà đầu tư. [151] Ngay cả những nước nằm ngoài Đế chế cũng có nguy cơ bị tàu chiến viếng thăm nếu các nước này không trả nợ, như trường hợp của Venezuela năm 1902, khi một đoàn tàu chiến do các nước Anh, Đức và Italia phối hợp đã phong tỏa tạm

thời các hải cảng của nước này. Nước Mỹ đặc biệt hào hứng (và có hiệu quả) trong việc bảo vệ quyền lợi của các chủ trái phiếu ở Trung Mỹ và vùng Caribê. [152] Nhưng ở một khía cạnh cốt yếu, thị trường trái phiếu lại rất dễ đổ vỡ. Các nhà đầu tư ở khu City của London, thị trường tài chính quốc tế lớn nhất thế giới trong suốt thế kỷ 19, tuy giàu có nhưng không đông đảo. Vào đầu thế kỷ 19, số chủ trái phiếu ở Anh có lẽ chưa đến 250.000 người, chỉ khoảng 2% dân số. Thế nhưng tài sản của họ nhiều hơn hai lần tổng thu nhập quốc dân của toàn nước Anh; và thu nhập của họ chiếm khoảng 7% thu nhập quốc dân. Năm 1822, khoản thu nhập này - tiền lãi trên trái phiếu chính phủ - chiếm gần một nửa tổng chi tiêu công cộng, trong khi hơn hai phần ba nguồn thu từ thuế là từ thuế gián thu và do đó sẽ đánh vào tiêu dùng. Cho tới năm 1870, các tỷ lệ này vẫn ở mức một phần ba và hơn một nửa. Khó lòng có thể nghĩ ra được một hệ thống tài khóa nào có tính lũy thoái hơn thế, với các khoản thuế đánh vào nhu cầu thiết yếu của đa số người dân được sử dụng để trả lãi cho một thiểu số rất ít người. Không có gì ngạc nhiên khi những người theo phái Cấp tiến như William Cobbett đã từng phẫn nộ. "Nợ quốc gia, cùng tất cả những thuế khóa và cờ bạc thuộc về nó," Cobbett tuyên bố trong tác phẩm Rural Rides (Những chuyến đi nông thôn, 1830), "có xu hướng tự nhiên là rút của cải từ đại đa số nhân dân... cho lợi ích của một thiểu số." [153] Ông cảnh báo rằng nếu không có cải cách chính trị, đất nước sẽ nằm trong tay "một số người mà tiền vay từ họ được dùng để duy trì hệ thống kinh khủng này... những kẻ môi giới nợ, môi giới chứng khoán... bọn Do Thái và toàn bộ những kẻ nuốt tiền đóng thuế". [154] Những lời đả kích này không mảy may làm suy yếu vị thế của giai cấp được gọi theo tiếng Pháp là rentier - những người hưởng lái từ các trái phiếu chính phủ như trái phiếu rente của Pháp. Trái lại, các thập niên sau năm 1830 là thời hoàng kim cho các rentier ở châu Âu. Những vụ vỡ nợ xảy ra ngày càng ít hơn. Tiền, nhờ chế độ bản vị vàng, trở nên ngày càng đáng tin cậy. [155] Chiến thắng này của các rentier, bất chấp quyền bầu cử ngày càng được mở rộng cho các tầng lớp dân cư, là rất đáng kể. Quả là sự phát triển của các ngân hàng tiết kiệm (thường có nghĩa vụ phải giữ trái phiếu chính phủ như là tài sản chủ yếu) khiến cho nhiều nhóm dân cư trong xã hội chịu ảnh hưởng gián tiếp từ thị trường trái phiếu, và do đó có ràng buộc với thị trường này. Nhưng về cơ bản, các rentier vẫn là tầng lớp tinh hoa những Rothschild, Baring và Gladstone - họ có mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau về mặt xã hội, chính trị, nhưng trên hết là về mặt kinh tế. Sự thống trị của họ bị chấm dứt không phải nhờ sự đi lên của nền dân chủ hay chủ nghĩa xã hội, mà vì một thảm họa tài khóa và tiền tệ mà chính giới tinh hoa châu Âu phải chịu trách nhiệm. Thảm họa đó là Thế chiến thứ nhất.

"Lạm phát" - Milton Friedman đã đưa ra định nghĩa nổi tiếng - "luôn luôn là một hiện tượng tiền tệ ở bất cứ đâu, theo nghĩa nó không thể xảy ra mà không kèm theo việc gia tăng lượng tiền tệ nhanh chóng hơn sản lượng." Điều xảy ra tại tất cả các quốc gia tham chiến trong và sau Thế chiến thứ nhất đã minh họa điều này một cách rõ ràng. Nhìn chung có năm bước thiết yếu dẫn tới lạm phát cao ở những nơi này: 1. Chiến tranh không chỉ dẫn tới thiếu hụt hàng hóa mà còn dẫn tới 2. việc vay mượn ngắn hạn của chính phủ từ ngân hàng trung ương; 3. những khoản vay này trên thực tế biến nợ thành tiền mặt, do đó làm tăng cung tiền; 4. gây ra kỳ vọng của công chúng là lạm phát sẽ tăng và làm giảm nhu cầu nắm giữ tiền mặt; 5. và giá cả hàng hóa sẽ tăng. [156] Tuy nhiên, lý thuyết tiền tệ thuần túy không thể giải thích tại sao tiến trình lạm phát lại xảy ra nhanh hơn nhiều hay nặng hơn nhiều ở nước này so với nước khác. Nó cũng không thể giải thích tại sao hậu quả của lạm phát lại rất khác nhau giữa các nước. Nếu cộng lại toàn bộ chi tiêu công của các cường quốc tham chiến chủ yếu trong giai đoạn từ năm 1914 tới 1918 thì Anh chi tiêu nhiều hơn Đức và Pháp tiêu nhiều hơn hẳn Nga. Tính theo đơn vị đô la, nợ công của Anh, Pháp và Mỹ tăng cao hơn nhiều so với Đức trong giai đoạn từ tháng 4/1914 tới 3/1918. [157] Đúng là số lượng tiền mặt lưu hành đã tăng nhanh hơn ở Đức trong giai đoạn 1913-1918 (1.040%) so với ở Anh (708%) hay Pháp (386%), nhưng ở Bulgaria, con số này là 1.116% và ở Romania là 961%. [158] So với năm 1913, giá bán sỉ vào năm 1918 đã tăng nhanh hơn ở Italia, Pháp và Anh so với ở Đức. Chỉ số giá sinh hoạt ở Berlin năm 1918 cao hơn 2,3 lần so với mức trước chiến tranh; ở London chỉ số này cũng không khác mấy (hơn 2,1 lần). [159] Vậy thì tại sao chỉ có nước Đức lại rơi vào tình trạng siêu lạm phát sau Thế chiến thứ nhất? Tại sao đồng mác bị suy giảm tới mức trở thành vô giá trị? Câu trả lời nằm ở vai trò của thị trường trái phiếu trong nền tài chính trong và sau chiến tranh. Trong chiến tranh, tất cả các nước tham chiến đều phát hành trái phiếu chiến tranh, thuyết phục hàng ngàn người tiết kiệm nhỏ lẻ vốn chưa bao giờ mua trái phiếu chính phủ rằng đây là nghĩa vụ yêu nước của họ. Nhưng không giống như Anh, Pháp, Italia và Nga, nước Đức không có khả năng tiếp cận thị trường trái phiếu quốc tế trong thời gian chiến tranh (nước này ban đầu đã từ chối thị trường New York và về sau thì bị thị trường này đóng cửa với mình). Trong khi những cường quốc phe Đồng minh (Entente) có thể bán trái phiếu ở Mỹ và khắp Đế chế Anh dồi dào nguồn vốn, thì các nước Liên minh Trung tâm (Đức, Áo-Hung và Thổ Nhĩ Kỳ) chỉ có thể dựa vào chính mình. Berlin và Vienna tuy cũng là các trung tâm tài chính quan trọng

nhưng không có được bề dày như London, Paris và New York. Kết quả là việc bán trái phiếu chiến tranh ngày càng trở nên khó khăn hơn với Đức và các đồng minh của họ khi nhu cầu của các nhà đầu tư trong nước trở nên bão hòa. Chính quyền Đức và Áo phải quay sang ngân hàng trung ương để tìm tài trợ cho các khoản vay ngắn hạn sớm hơn, và với quy mô lớn hơn so với ở Anh. Sự gia tăng số lượng tín phiếu kho bạc do ngân hàng trung ương nắm giữ là tín hiệu báo trước lạm phát, bởi lẽ, khác với việc bán trái phiếu ra công chúng, việc hoán đổi các hối phiếu này lấy tiền mặt sẽ làm tăng cung tiền. Cho tới cuối chiến tranh, khoảng một phần ba các khoản nợ của Đức là các khoản nợ "thả nổi" hay không được tài trợ, và một trạng thái tiền tệ treo (monetary overhang) [160] đáng kể đã được tạo ra, mà chỉ có các biện pháp kiểm soát giá cả thời chiến mới ngăn nổi nó trở thành lạm phát cao hơn. Bản thân thất bại cũng là cái giá đắt. Tất cả các bên đều đảm bảo với người nộp thuế và chủ trái phiếu là kẻ thù sẽ phải chi trả cho chiến tranh. Giờ đây gánh nặng chi trả thuộc về Berlin. Một cách hiểu siêu lạm phát sau chiến tranh là xem nó như một hình thức phá sản của quốc gia. Những người mua trái phiếu chiến tranh đã đầu tư vào lời hứa hẹn chiến thắng; thất bại và cách mạng tương ứng với tình trạng vỡ nợ của quốc gia, và hậu quả chính của tình trạng này nhất định sẽ rơi vào những chủ nợ của Đế chế Đức. Ngoài thất bại thì những sự kiện cách mạng xảy ra từ tháng 11/1918 tới 1/1919 cũng ít có tác dụng trấn an các nhà đầu tư. Và cả hội nghị hòa bình tại Versailles ấn định nghĩa vụ bồi thường chiến tranh không được xác định rõ ràng cho Cộng hòa Weimar non trẻ cũng không thể làm các nhà đầu tư yên lòng. Cho tới lúc tổng số tiền bồi thường cuối cùng được xác định vào năm 1921, người Đức nhận ra mình vướng phải một khoản nợ nước ngoài mới khổng lồ, với giá trị danh nghĩa 132 tỷ "mác vàng" (đồng mác trước chiến tranh), tương đương với hơn ba lần thu nhập quốc dân. Dù không phải tất cả khoản nợ này đều đẻ ra lãi suất ngay lập tức nhưng tiền bồi thường chiến phí đã chiếm tới hơn một phần ba tổng chi tiêu của Đức trong hai năm 1921 và 1922. Không có nhà đầu tư nào xem xét tình hình nước Đức vào mùa hè năm 1921 lại có thể thấy lạc quan, và những dòng vốn nước ngoài đổ vào nước này sau chiến tranh chỉ là những dòng tiền đầu cơ hay tiền "nóng", chúng sẽ nhanh chóng rời khỏi Đức khi tình hình trở nên khó khăn. Nhưng sẽ là sai lầm nếu coi siêu lạm phát năm 1923 chỉ đơn thuần là hậu quả của Hiệp ước Versailles. Tất nhiên là người Đức muốn coi như thế. Họ khẳng định trong suốt giai đoạn sau chiến tranh, rằng chính gánh nặng bồi thường chiến phí đã làm thâm hụt cán cân vãng lai ở mức không thể duy trì; rằng không còn có cách nào khác ngoài tiếp tục in thêm tiền mác giấy để tài trợ thâm hụt; rằng lạm phát là hậu quả trực tiếp của việc đồng mác bị giảm giá. Tất cả các lý do này là nhằm che lấp căn nguyên chính trị nội bộ của cuộc khủng hoảng tiền tệ. Hệ thống thuế của Cộng hòa Weimar yếu một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 41

Đang tải bình luận...