phần còn lại của châu Mỹ Latin. [385] Santiago ngày nay là một thành phố sáng ngời trên dãy Andes, có lẽ là thành phố thịnh vượng và hấp dẫn nhất lục địa. Một dấu hiệu thành công của Chile là cải cách lương hưu của quốc gia này đã được noi theo ở khắp nơi trong khu vực, và thực ra là trên khắp thế giới. Bolivia, El Salvador và Mexico đã sao chép mô hình của Chile đến từng chi tiết. Peru và Colombia đưa ra quỹ lương hưu tư nhân như một phương án lựa chọn bên cạnh hệ thống của nhà nước. [386] Kazakhstan cũng đã noi theo tấm gương của Chile. Thậm chí các nghị sĩ quốc hội Anh cũng đi nhẵn con đường từ Westminster (trụ sở Nghị viện Anh) đến cửa nhà Piñera. Sự trớ trêu là ở chỗ cải cách của Chile còn triệt để hơn bất kỳ điều nào đã được thử nghiệm ở Mỹ, trung tâm kinh tế học về thị trường tự do. Song cải cách phúc lợi đang trên đường đến Bắc Mỹ, bất kể là ai đó muốn điều đó hay không. Khi bão Katrina tràn vào New Orleans, nó đã lột trần một số thực trạng về hệ thống của Mỹ mà nhiều người đã tìm cách bỏ qua. Đúng, nước Mỹ đã có một nhà nước phúc lợi. Song nhà nước phúc lợi đó đã không làm tròn nhiệm vụ. Các chính quyền Reagan và Clinton dường như đã thực hiện nhiều cải cách phúc lợi mạnh mẽ, giảm trợ cấp thất nghiệp và khoảng thời gian mà người lao động có thể đòi trợ cấp. Song không cải cách nào có thể bảo vệ hệ thống này khỏi sự lão hóa dân số Mỹ và chi phí tăng vọt của việc chăm sóc sức khỏe tư nhân. Nước Mỹ có một hệ thống phúc lợi khác thường. Chương trình An sinh xã hội cung cấp lương hưu nhà nước tối thiểu cho mọi người về hưu, trong khi đồng thời hệ thống Chăm sóc y tế [387] trang trải tất cả chi phí y tế cho người già và người tàn tật. Trợ cấp thu nhập và các chi phí y tế khác đã đẩy tổng chi phí của các chương trình phúc lợi liên bang lên 11% GDP. Tuy nhiên, ngành chăm sóc sức khỏe của Mỹ lại nằm trong tay khu vực tư nhân hầu như toàn bộ. Điều tốt ở đây là một hệ thống tối tân, nhưng mặt trái là nó không hề rẻ. Và nếu như bạn muốn điều trị trước khi nghỉ hưu, bạn cần phải có một hợp đồng bảo hiểm tư nhân - cái mà khoảng 47 triệu người Mỹ không có được, bởi vì các hợp đồng bảo hiểm như vậy thường chỉ có được nếu người ta có việc làm thường xuyên, chính thức. Kết quả là một hệ thống phúc lợi không mang tính toàn diện, còn tính tái phân phối thì kém xa hệ
thống của châu Âu mặc dù vô cùng đắt đỏ. Kể từ năm 1993, chi phí An sinh xã hội đã trở nên tốn kém hơn quốc phòng. Chi phí nhà nước cho giáo dục tính theo phần trăm GDP là 5,9%, cao hơn ở Anh, Đức và Nhật Bản. Chi phí chăm sóc y tế của nhà nước tương đương với 7% GDP, bằng của Anh; song chi phí chăm sóc y tế tư nhân thì cao hơn (8,5% so với chỉ có 1,1% ở Anh). [388] Một hệ thống phúc lợi như vậy không đủ khả năng đáp ứng với sự tăng lên nhanh chóng số lượng những người được hưởng. Song đó chính là điều người Mỹ đang phải đối mặt khi mà những người thuộc thế hệ "Bùng nổ sinh sản" (Baby Boomer), được sinh ra sau Thế chiến thứ hai, bắt đầu đến tuổi về hưu. [389] Theo Liên Hiệp Quốc, từ nay đến năm 2050, tuổi thọ trung bình của nam giới ở Mỹ nhiều khả năng sẽ tăng từ 75 lên 80. Trong vòng bốn mươi năm tiếp sau đó, tỷ lệ dân số Mỹ từ 65 tuổi trở lên được dự báo là sẽ tăng từ 12% lên gần 21%. Không may, nhiều người trong số những người chuẩn bị nghỉ hưu đã không chuẩn bị đầy đủ cho cuộc sống sau khi nghỉ hưu. Theo cuộc Điều tra Lòng tin Về hưu năm 2006, sáu trong số mười công nhân Mỹ nói rằng họ đã tiết kiệm cho nghỉ hưu và chỉ có bốn trong mười người nói rằng họ có thực sự tính toán xem cần phải tiết kiệm bao nhiêu. Nhiều người trong số những người không có đủ tiền tiết kiệm cho rằng họ sẽ bù đắp bằng cách làm việc lâu hơn. Trung bình một công nhân có kế hoạch làm việc cho đến tuổi 65. Song hóa ra ông ta hay bà ta thực sự nghỉ hưu ở tuổi 62; thực vậy, khoảng bốn trong số mười công nhân Mỹ rốt cuộc rời bỏ lực lượng lao động sớm hơn dự định. [390] Điều này mang lại những hệ lụy nghiêm trọng đối với ngân sách liên bang, bởi người nào tính toán nhầm thường rốt cuộc sẽ trở thành gánh nặng cho những người đóng thuế bằng cách này hay cách khác. Ngày nay, trung bình một người nghỉ hưu nhận được trợ cấp từ chính sách An sinh xã hội, Chăm sóc y tế và Hỗ trợ y tế [391] tổng cộng là 21.000 đô la một năm. Nhân con số này với tổng số 36 triệu người cao tuổi hiện nay thì bạn sẽ thấy tại sao các chương trình đó lại tiêu tốn một tỷ lệ lớn đến vậy trong tổng ngân sách liên bang. Và tỷ lệ này chắc chắn sẽ tăng lên, không chỉ bởi vì số người nghỉ hưu đang tăng lên mà còn vì các chi phí trợ cấp như Chăm sóc y tế không còn kiểm soát được nữa khi chúng tăng nhanh gấp đôi tốc độ tăng của lạm phát. Sự mở rộng chương trình Chăm sóc y tế vào năm 2003 để trang trải cả thuốc kê theo đơn bác sĩ chỉ càng làm cho tình hình thêm tồi tệ. Theo một dự báo do một ủy viên Quỹ ủy thác Chăm sóc Y tế có cái tên rất phù hợp là Thomas R. Saving, chỉ riêng chi phí của quỹ Chăm sóc y tế sẽ ngốn hết 24% toàn bộ thuế thu nhập của liên bang vào năm 2019. Các số liệu hiện tại cũng cho thấy là chính phủ liên bang đang có những khoản trách nhiệm tài chính chưa có nguồn chi trả lớn hơn nhiều so với con số chính thức. Theo ước tính gần đây nhất của Văn
phòng Kế toán Chính phủ, các khoản "chi phí" ngầm xuất phát từ các trợ cấp An sinh xã hội và Chăm sóc y tế trong tương lai là 34 tỷ đô la, chưa có nguồn nào để trả. [392] Con số này gần gấp bốn lần tổng số nợ chính phủ của liên bang. Trớ trêu thay, chỉ có duy nhất một quốc gia mà vấn đề dân số lão hóa có các hệ quả kinh tế nghiêm trọng hơn Mỹ, đó là Nhật Bản. "Siêu cường phúc lợi" Nhật Bản đã thành công tới mức, vào thập niên 1970, tuổi thọ trung bình ở Nhật Bản trở thành cao nhất thế giới. Song điều đó, kết với tỷ lệ sinh đẻ giảm, đã tạo ra một xã hội già nhất thế giới, với trên 21% dân số hiện ở tuổi trên 65. Theo Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc tế Nakamae, dân số già sẽ bằng dân số lao động vào năm 2044. [393] Kết quả là hiện nay Nhật Bản đang phải vật lộn với cuộc khủng hoảng sâu sắc mang tính cấu trúc của hệ thống phúc lợi, một hệ thống không được thiết kế để đương đầu với cái mà người Nhật Bản gọi là xã hội trường thọ (chōju shakai). [394] Mặc dù đã nâng tuổi được nghỉ hưu lên, chính phủ hiện vẫn chưa giải quyết được các vấn đề của hệ thống lương hưu nhà nước. (Tình hình không được cải thiện thêm bởi một thực tế là nhiều người làm tư và sinh viên ấy là chưa kể một số chính khách nổi tiếng - đã không đóng phí bảo hiểm xã hội cần thiết.) Trong khi đó, các công ty bảo hiểm y tế nhà nước ngày càng thâm hụt kể từ đầu thập niên 1990. [395] Ngân sách phúc lợi của Nhật Bản hiện nay bằng ba phần tư số tiền thuế thu được. Khoản nợ từ phúc lợi đã vượt quá một triệu tỷ yên, bằng khoảng 170% GDP. [396] Song các tổ chức thuộc khu vực tư nhân cũng đang trong tình trạng không khá gì hơn. Các công ty bảo hiểm nhân thọ vẫn đang vật lộn kể từ khi thị trường chứng khoán sụp đổ năm 1990; ba công ty bảo hiểm lớn đã phá sản trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến 2000. Các quỹ lương hưu cũng đang trong tình trạng gay go như vậy. Trong tình trạng hầu hết các nước trong thế giới phát triển đang tiến theo cùng một hướng, điều này đã tạo thêm ý nghĩa mới cho bài hát nhạc pop cũ của thập niên 1980 về "biến thành người Nhật" (turning Japanese). Tài sản tại các quỹ lương hưu lớn nhất thế giới (gồm cả quỹ của chính phủ Nhật Bản, bản sao Hà Lan của họ và Quỹ Công chức California) hiện đã vượt quá 10 nghìn tỷ đô la, tăng thêm 60% từ năm 2004 đến 2007. [397] Song liệu mai đây những quỹ này có tăng đến mức mà có lẽ ngay cả những số tiền khổng lồ như vậy cũng sẽ không đủ chi trả? Biểu đồ nhân khẩu học của cuộc khủng hoảng phúc lợi: Nhật Bản, 1950- 2050 (tỷ lệ phần trăm của dân số phân theo nhóm tuổi)
Sống lâu hơn sẽ là một tin tốt lành đối với mỗi cá nhân, song đó là một tin tồi tệ đối với một nhà nước phúc lợi và đối với các chính khách nào phải thuyết phục cử tri là cần cải cách hệ thống nhà nước phúc lợi. Một tin còn tồi tệ hơn thế nữa là trong lúc dân số thế giới trở nên già đi, thì bản thân thế giới cũng đang trở nên nguy ngập hơn. [398] Người được phòng hộ và không được phòng hộ Điều gì sẽ xảy ra nếu các tổ chức khủng bố quốc tế hoạt động thường xuyên hơn và/hoặc tàn bạo hơn, còn Al Qaeda tiếp tục theo đuổi các vũ khí giết người hàng loạt? Trên thực tế, đúng là có lý do xác đáng để lo sợ về điều đó. Trước tác động tương đối hạn chế của các cuộc tấn công năm 2001, Al Qaeda có động cơ mạnh mẽ để thực hiện một "ngày 11/9 bằng hạt nhân". [399] Những người phát ngôn của tổ chức này không hề phủ nhận điều đó; ngược lại, chúng công khai bộc lộ tham vọng của mình là sẽ "giết chết 4 triệu người Mỹ - trong đó có 2 triệu trẻ em - và làm mất nhà cửa gấp đôi số đó, làm thương vong và què quặt hàng trăm nghìn người khác". [400] Điều này không nên chỉ xem là những lời lẽ khoa trương. Theo Graham Allison từ Trung tâm Belfer của Đại học Harvard, "nếu như Mỹ và các chính phủ khác vẫn tiếp tục làm những gì họ đang làm hiện nay thì một cuộc tấn công khủng bố hạt nhân vào một thành phố lớn sẽ có nhiều khả năng xảy ra vào khoảng năm 2014." Theo quan điểm của Richard Garwin, một trong những người thiết kế bom khinh khí, hiện nay đã có "xác suất 20% mỗi năm xảy ra một vụ nổ hạt nhân nếu tính cả các thành phố của Mỹ và châu Âu". Một ước tính khác, do đồng nghiệp của Allison là Matthew Bunn đưa ra, cho rằng xác suất xảy ra một cuộc tấn công khủng bố hạt nhân trong giai đoạn mười năm là
29%. [401] Thậm chí một quả bom hạt nhân nhỏ cỡ 12,5 kiloton cũng có thể giết chết 80.000 người nếu phát nổ ở một thành phố cỡ trung bình ở Mỹ; một quả bom khinh khí 1,0 megaton có thể giết chết tới 1,9 triệu người. Một cuộc tấn công sinh học thành công có sử dụng các mầm bệnh than cũng có thể có mức độ gây chết người gần như vậy. [402] Điều gì sẽ xảy ra nếu như hiện tượng trái đất đang nóng lên làm tăng xác suất xảy ra các thảm họa tự nhiên? Ở đây cũng có cơ sở để chúng ta phải lo ngại. Theo các chuyên gia khoa học trong ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), thì "tần suất xảy ra các trận mưa dữ dội đã tăng lên tại hầu hết các khu vực", hậu quả của việc trái đất nóng lên do con người gây ra. Ngoài ra còn có "bằng chứng biểu kiến cho thấy sự gia tăng hoạt động của bão nhiệt đới ở Bắc Đại Tây Dương kể từ khoảng năm 1970". Mực nước biển dâng lên theo IPCC dự báo chắc chắn sẽ làm gia tăng thiệt hại do lũ lụt gây bởi những trận bão tương tự Katrina. [403] Không phải tất cả các nhà khoa học đều chấp nhận ý kiến cho rằng hoạt động của bão dọc theo bờ biển Đại Tây Dương của Mỹ đang gia tăng (như khẳng định của Al Gore trong phim An Inconvenient Truth (Sự thật chua chát) của ông). Song hẳn sẽ là một sai lầm khi điềm nhiên giả định rằng điều đó là không đúng, đặc biệt là nếu xét tới việc xây cất nhà tăng liên tục ở các bang dễ bị bão tấn công. Đối với các chính phủ đã lung lay dưới gánh nặng của các cam kết về phúc lợi đang tăng cao không ngừng, thì sự gia tăng tần suất hoặc quy mô của các thảm họa có thể trở thành đòn chí tử về mặt tài chính. Các thiệt hại về bảo hiểm (và tái bảo hiểm) gây bởi các cuộc tấn công ngày 11/9 nằm trong khoảng từ 30 đến 58 tỷ đô la, gần bằng thiệt hại về bảo hiểm mà cơn bão Katrina gây ra. [404] Trong cả hai trường hợp đó, chính phủ Liên bang Mỹ đều phải nhảy vào để giúp các công ty bảo hiểm tư nhân đảm bảo được cam kết của mình, bằng cách cung cấp bảo hiểm khủng bố khẩn cấp của liên bang ngay sau vụ 11/9, đồng thời gánh