hồi lâu trên tàu điện, chuyển đến căn hộ. Nghe nói hai
năm nay người ta đua nhau dời sang khu Tây sống nên mặt bằng giá thuê nhà ở đây cũng tăng cao. Nhưng xem chừng nếu chạy song song hai việc làm thêm một lúc, tôi vẫn trang trải được tiền thuê căn hộ cũ này. Nằm sâu trong cao nguyên Musashino, nơi đây hầu như không bị ảnh hưởng bởi tình trạng ngập lụt. Tai nghe tiếng mưa rơi, tôi một mình dọn dẹp phòng ốc và sắp xếp hành lý, sau đó pha mì ly ăn. Ăn xong thì trời bắt đầu tối. Radio trực tuyến phát dự báo thời tiết vùng Kanto. “Sau đây là dự báo cho tuần tới. Mưa sẽ kéo dài cả tuần. Nhiệt độ cao nhất dao động ở mức 15 độ. Mưa không nặng hạt nên quý vị vẫn có thể ngắm hoa anh đào trong thời gian dài…” Vừa mơ màng nghe dự báo thời tiết, tôi vừa lướt trang tin tìm kiếm việc làm bán thời gian trên di động. Ngoài kia có vô khối công việc, nhưng… tôi chưa thấy chỗ nào phù hợp. Chưa tìm thấy. Chưa biết mình muốn tìm gì. Sau hai năm rưỡi vắt óc suy nghĩ, tôi quyết định chọn ngành nông nghiệp khi lên đại học. Tỏi muốn học những kiến thức cần thiết trong thời buổi biến đổi khí hậu hiện nay. Tuy còn mơ hồ, mục tiêu trước mắt đã giúp tôi thấy cuộc sống dễ thở hơn đôi chút. Song tôi vẫn chưa trả lời được những câu hỏi quan trọng nhất. Lấy lý do gì để gặp cô? Có thể làm gì cho cô? “A.” Tôi khẽ thốt lên. Đang mải tìm việc, tôi chợt nhớ ra. Nhắc đến làm thêm… Liệu trang web kia còn hoạt động không nhi? Tôi bèn thử nhập địa chỉ URL. “Vẫn còn!” Màn hình di động hiển thị dòng chữ bảy sắc cầu vồng “Dịch vụ chuyển phát thời tiết” cùng hình mặt trời, con ếch hồng mặc áo mưa vàng và khung thoại “Nữ thần nắng 100% đây!”. Chính là trang web kinh doanh nắng do chúng tôi lập. Tôi gõ mật khẩu, đăng nhập giao diện quản lý. Âm báo liền vang lên. Màn hình thông báo “Có một yêu cầu mới”. Tôi ngạc nhiên mở ra xem. Đơn hàng được gửi đến từ gần hai năm trước. *
“Ồ, mình cháu đến thôi à?” Nhìn tôi đứng trước cửa chính, bà Tachibana thắc mắc hỏi. “Cô bé nữ thần nắng đâu?” Thấy bà hơi thất vọng, tôi vội bảo, “Xin lỗi bà, cô ấy không làm nữ thần nắng nữa ạ. Hôm nay cháu đến chỉ để báo điều này…” “Vì vậy mà cháu cất công đến tận đây sao?” “Vâng…” Ầm, ầm. Tiếng đóng cọc vang đến tận hành lang khu nhà phức hợp. Chỗ này gần sông Arakawa, tránh được nạn lụt nhưng lại nằm sát công trường đê phòng hộ lớn đang thi công. “Nhà bà hơi chật, nhưng cứ vào trước đã nào.” Nhà bà Fumi rộng phải gấp đôi căn hộ tôi trọ, nhưng so ra vẫn tương đối nhỏ so với căn nhà kiểu Nhật chúng tôi ghé thăm lần trước. Phòng khách kết hợp phòng ăn rộng chừng 15 mét vuông, bên cạnh còn một gian phòng kiểu truyền thống. Qua cửa sổ trượt khung nhôm, có thể thấy công trình đê phòng hộ đang thi công, nơi máy móc xây dựng màu vàng chạy qua chạy lại trông như mô hình thu nhỏ. Trong nhà có khá nhiều ảnh. Ảnh người chồng đã mất của bà, ảnh sum họp gia đình náo nhiệt, ảnh cưới của người cháu… Chỉ có khói hương thoang thoảng tỏa ra từ bàn thờ Phật nhỏ là giống với ngày lễ Obon năm nào. Bà Fumi đặt đĩa bánh kẹo đầy ắp trước mặt tôi. “A, cháu làm phiền bà quá.” “Người trẻ không nên khách sáo.” Bà ngồi xuống bên kia bàn và nói. Cất công đến mà chẳng nghĩ ra chủ đề gì để nói, tôi đành tìm cách gợi chuyện, “Ừm, vậy là bà cũng đã chuyển nhà. Chỗ bọn cháu tới lần trước có dáng dấp vùng trũng hơn…” “Khu đó ngập trắng rồi.” Bà Fumi nói như thể chuyện chẳng có gì to tát. “… Cháu xin lỗi.” Tôi buột miệng. “Sao cháu phải xin lỗi?” Bà Fumi tủm tỉm hỏi lại. Không dám nhìn thẳng vào bà, tôi cụp mât ấp úng, “Dạ…” Tôi có tư cách nói gì đây? Tự nhiên tôi muốn thú nhận tất cả. “Chính cháu đã cướp đi bầu trời xanh của Tokyo”, “Quyết định ích kỉ của cháu đã
khiến biết bao người mất chỗ ở, mất cả mặt trời”… Nhưng nói thế thì đổi lại được gì? Chỉ khiến bà Fumi khó xử. “Cháu biết chứ?” Bà Fumi dịu dàng lên tiếng. Tôi ngẩng đầu. Bà lấy một chiếc Choco-Pie trên khay, vừa xé vỏ vừa nói tiếp, “Xưa kia khu ấy vốn là biển, cho tới không lâu trước đây, khoảng thời Edo.” “Sao ạ…” “Nghe nói Edo từng là vịnh biển. Cháu cũng thấy cái tên bắt nguồn từ đó[30] rồi đấy. Còn Tokyo là cửa vào vịnh biển ấy. Chính con người và khí hậu đã dần thay đổi vùng đất này.” Nói đoạn, bà Fumi đưa chiếc Choco-Pie đã xé vỏ cho tôi. Không hiểu sao, tôi có cảm giác lạ lùng rằng mình vừa được truyền lại một bí mật trọng đại. “Cho nên… theo bà, mọi thứ chỉ quay về trạng thái vốn có mà thôi.” Bà Fumi nói với vẻ hoài niệm, mắt trông ra bờ đê ngoài cửa sổ. Tôi không thốt nên lời, chỉ biết chăm chăm nhìn gương mặt hằn sâu nếp nhăn của bà. Quay về trạng thái vốn có thôi ư…? Đổi lại là người ấy thì sẽ nói thế nào? Tự dưng tôi muốn hỏi thử. * “Gì? Đừng bảo từ bấy đến giờ cậu vẫn lăn tăn vụ này nhé? Thành sinh viên rồi mà cứ như thằng nít ranh thế?” Ông chú trung niên trước mặt tôi gõ phím luôn tay, cố ý ra chiều bận rộn. “Làm gì có…” Tôi quen miệng cãi. Hạ quyết tâm tìm đến hỏi chuyện, cứ tưởng chú sẽ hiểu cho, ai ngờ bị rủa không thương tiếc. “Giới trẻ thời nay càng ngày càng hỏng. Nước Nhật sắp tàn rồi.” “Nhưng lúc đó bọn cháu…” “Đã gây ra tình trạng ngày hôm nay? Đã thay đổi bộ mặt thế giới?” Cáu kinh vặc lại xong, chú mới ngẩng mặt khỏi màn hình mà nhìn tôi. Đẩy cặp kính sành điệu (cá là kính lão) lên trán, chú nheo đôi mắt nhỏ lừ đừ. “Tin được mới ghê ấy, thằng ngốc. Ngạo mạn vừa thôi.” Người vừa nói chính là chú Suga. Vẫn bộ dạng sơ mi bó dài tay quen thuộc, chú lên lớp tôi bằng giọng điệu uể oải, “Đừng ảo tưởng nữa, nhìn vào thực tế hộ cái, thực tế ấy. Nghe đây, lớp trẻ cứ luẩn quẩn trong thế giới nội tâm mà không biết ở đấy chẳng có gì hết. Những thứ quan trọng nằm ở
bên ngoài cơ. Đừng chăm chăm tự ngắm mình, hãy nhìn người khác kìa. Tưởng mình đặc biệt lắm hả?” “Ơ, cháu đâu có hỏi vụ đó…” Điện thoại chú Suga thình lình đổ chuông. Chú cầm máy lên xem, sung sướng “Ồ!” một tiếng rồi gí màn hình vào mặt tôi. “Nhìn đi nhìn đi! Hôm trước tôi có hẹn với con gái đấy!” “Ồ!” Tôi bất giác cảm thán. Trên màn hình là một bức ảnh tự chụp, có chú Suga bị nhòe, đằng sau chú là bé Moka phổng phao thấy rõ. Ngoài ra còn có tiền bối Nagi và chị Natsumi, cà hai cùng giơ tay ra dấu chữ V. Tiền bối vốn là một cậu bé khôi ngô, giờ cao vổng lên, trông y như hoàng tử thực thụ. Cậu đã lên cấp hai. Chị Natsumi vốn cũng là mỹ nữ, nụ cười tinh nghịch ngày nào nay toát ra vẻ trưởng thành, nhan sắc lên hương biến chị thành một mỹ nhân phi phàm. “Tuy có cả Natsumi với Nagi chen vào phá đám. Giờ chúng nó thân thiết ghê lắm…” Miệng càu nhàu nhưng trông chú Suga rất vui. Chú với con gái vẫn sống riêng, song quan hệ với bố mẹ vợ không tệ như trước nữa. Tùy tình hình công việc của chú, khả năng cao hai bố con sẽ sớm được về ở cùng nhau. K&A Planning đã dời sang một căn hộ chung cư và hiện có ba nhân viên, phần nào ra dáng cơ sở biên tập. Chú Suga giữ chức giám đốc, có lẽ bộ dạng bận rộn kia không hoàn toàn là vờ vịt. Chú đột nhiên đổi giọng thuyết giáo, “Cậu cũng đừng nghĩ mãi về những việc đã hết khả năng vãn hồi. Mau đi gặp cô bé ấy đi. Rốt cuộc thời gian qua cậu đã làm gì mà từ bấy đến nay không đi gặp người ta?” “Thì tại… Chú cũng biết là cháu bị quản thúc suốt mà. Cho nên cháu không dám làm phiền cô ấy. Với lại, muốn liên lạc thì cô ấy cũng chẳng có điện thoại… Hơn nữa, nếu gặp mặt cô ấy, cháu sẽ căng thẳng lắm, cháu cần lý do, mà cũng chưa biết nên nói gì…” Đúng lúc đó, tiếng chuông lanh lảnh vang lên. Âm thanh này nghe quen quen. Không lẽ… Trống ngực còn đang đập dồn, tôi chợt thấy một khối đen trắng lù lù xuất hiện từ xó xỉnh nào đó. Nó phóng lên ghế, từ tốn leo tiếp lên bàn làm việc của chú Suga, thả phịch mông xuống rồi giương mắt nhìn tôi.
“A… Ame? Mày lớn quá nhỉ…” Chính là Ame, mới hôm nào còn là bé mèo con. Lần đầu gặp tôi trong ngõ hẻm, nó chỉ nhỉnh hơn chiếc di động chút xíu, giờ đã to đùng như đô vật. Bộ dáng độ 15 cân, ánh mắt lười biếng và xấu xa của nó giống hệt chú Suga. Đang gõ phím, chú ngẩng lên lần nữa. Mặt chú với mặt Ame đặt cạnh nhau chẳng khác hai cha con là mấy. Chú Suga xua tay về phía tôi, ý muốn đuổi kẻ gây cản trở đi. “Biến, biến ngay. Thà cậu đến nhà cô bé còn hơn, ở đây chỉ tổ vướng chân tôi!” Sau khi nói “Cháu xin phép”, tôi rầu rĩ cất bước ra khỏi văn phòng. Mấy nhân viên gọi với theo, “Lần sau lại ghé chơi nhé.” Tôi chợt muốn hỏi họ làm việc dưới quyền một giám đốc thế kia liệu có ổn không. “Này.” Chú Suga gọi đúng lúc tôi định mở cửa. Tôi ngoảnh lại. Chú thở dài gượng cười, mắt nhìn thẳng vào tôi. “Đừng tự trách mình, chàng trai trẻ ạ.” “Dạ?” “Thế giới… vốn đã loạn từ lâu rồi.” Chú nói nốt, mặt thoáng vẻ nhẹ nhõm. * Rời khỏi văn phòng chú Suga, tôi lên tàu tuyến Yamanote ở ga Shinjuku. Hiện nay lộ trình tuyến Yamanote không còn là vòng tròn nữa mà đứt đoạn thành hình chữC do bị ngập một phần. Ga Sugamo và ga Gotanda ở hai đầu mút của chữC ấy đều có buýt đường thủy tỏa đi các nơi. Tự dưng muốn đi đường vòng, tôi xuống ga Gotanda, băng qua cầu tàu, lên tàu thủy hai tầng. Trên tầng hai được thiết kế theo kiểu lộ thiên, vài hành khách khác cũng trùm áo mưa như tôi, lặng ngắm cảnh sông nước. “Trưa nay ăn gì?” “Hình như có quán mới mở đấy.” “Mong tới buổi ngắm hoa cuối tuần quá.” Thanh âm của cuộc sống thường nhật vang vọng bên tai. Màn mưa nhẹ và mảnh như dải lụa phủ kín mặt biển nội địa. Vùng nước phía Đông có vô số mái nhà nhô lên, xem ra từng là khu dân cư. Cảnh tượng này làm tôi liên
tưởng đến bầy cừu ngủ say giữa đồng cỏ bát ngát. Tôi có cảm giác những mái nhà đang thở phào nhẹ nhõm vì được giải thoát khỏi nhiệm vụ đằng đẵng bao năm trời. “Trạm kế tiếp, Tabata, Tabata.” Loa trên tàu thong thả thông báo. Con dốc dẫn đến nhà Hina hiện ra bên kia màn mưa. Tôi cởi áo mưa, giương ô, leo lên con dốc hẹp. Hè năm ấy, tôi đã đi qua con đường này biết bao lần. Dọc bờ đê bên phải là hàng anh đào đương độ ra hoa, mé dưới bên trái là không gian mở bao la. Hệ thống đường ray và những công trình san sát ngày nào đã hòa làm một với vùng biển nội địa dẫn thẳng ra Thái Bình Dương. Đỉnh các tòa nhà nhô khỏi mặt nước, tuyến shinkansen trên cao kéo dài tít tắp hệt cầu tàu cỡ lớn. Dây leo xanh rờn và hoa dại nhiều màu cuộn quanh những khối bê tông khổng lồ bị bỏ hoang như những vị chủ nhân mới. “Xưa kia vốn là biển…” Ngắm cảnh tượng ấy, tôi lẩm bẩm. “Thế giới loạn từ lâu rồi…” Tiếng mưa rơi trên mặt đất. Tiếng chim chóc ngày xuân hót véo von. Tiếng động cơ buýt đường thủy. Tiếng ồn của tàu xe truyền đến từ xa. Tiếng đế giày thể thao giẫm xuống mặt đường nhựa ướt đẫm. Tôi lấy nhẫn ra khỏi túi, nhìn chằm chặp. Chiếc nhẫn màu bạc mang hình đôi cánh nhỏ. Nếu gặp được cô lần nữa… tôi nên nói gì đây? “Thế giới thành ra thế này không do lỗi của ai cả.” Tôi thì thào. Nói thế ư? Liệu đó có phải những lời cô muốn nghe? Rằng Tokyo vốn là biển, ràng cuồng loạn chính là bản chất của thế giới? Thủy cầm vỗ cánh vút lên không. Tôi bần thần đưa mắt nhìn theo. Và rồi, tim tôi rộn lên một nhịp. Cô đang ở đó. Đứng trên đỉnh dốc, không che ô, hai bàn tay đan vào nhau, Hina đang nhắm mắt cầu nguyện. Giữa trận mưa như trút, cô hướng về thành phố chìm trong biển nước, cầu mong điều gì đó, ước nguyện điều gì đó. Tôi bừng tỉnh. Mình lầm rồi.
Nhầm rồi, không phải thế. Thế giới không cuồng loạn từ buổi ban đầu, mà đã bị chúng tôi thay đổi. Ngày hè ấy, trên bầu trời ấy, tôi đã chọn Hina thay vì trời xanh, chọn sinh mạng của riêng Hina thay vì hạnh phúc của tất thảy mọi người. Và chúng tôi đã cầu nguyện. Cầu nguyện được tiếp tục sống bên nhau, bất kể thế giới biến đổi thế nào. “Hina!” Tôi hét gọi. Hina quay ra nhìn tôi. Ngay lúc ấy, gió mạnh thổi qua. Cơn gió cuốn theo cánh hoa anh đào làm bật mũ trùm đầu của cô. Mái tóc đen dài buộc thành hai chùm tung bay trong gió. Lệ dâng đầy trong mắt Hina. Rồi cô nở nụ cười rạng rỡ. Thế giới theo đó bừng sáng với muôn vạn sắc màu. “Hodaka!” Hina gọi. Tôi ném phăng ô. Chúng tôi vùng chạy cùng lúc. Gương mặt tươi vui của cô tiến lại gần. Tới trước mặt tôi, cô dang tay ôm chầm lấy tôi. Bất ngờ vì động tác đột ngột của Hina, tôi phải ôm cô xoay mấy vòng cho khỏi ngã. Chúng tôi đứng đối mặt nhau, ổn định hơi thở, nụ cười còn nguyên trên môi. Hina ngước đôi mắt to tròn nhìn tôi. Thấy cô ngước lên, tôi mới để ý mình đã cao hơn xưa. Hina đang mặc đồng phục cấp ba, lần này mới đúng là “sắp 18 tuổi”. Vẻ mặt bỗng chuyển sang lo lắng, cô chạm tay lên má tôi và hỏi. “Hodaka, có chuyện gì thế? Cậu ổn chứ?” “Sao cơ?” “Cậu khóc kìa.” Tôi nhận ra nước mắt đang tuôn như mưa trên mặt mình. Sao cậu lại cao quý nhường này. Cậu cũng đang khóc đấy thôi. Còn tớ thì quá vô dụng. Tớ cũng muốn hỏi “Cậu ổn không?” cơ mà. Tôi cười với Hina và nắm lấy tay cô, hạ quyết tâm trước khi mở lời. “Hina, chúng ta…” Dẫu mưa rơi bao lâu, chúng ta vẫn sống. Dẫu thế giới thay đổi thế nào, chúng ta vẫn sẽ sống. “Chúng ta sẽ ổn thôi.” Gương mặt Hina bừng sáng như được mặt trời chiếu rọi. Từng giọt mưa khẽ ve vuốt đôi bàn tay chúng tôi đang nắm chặt không rời.
Lời bạt Đứa con của thời tiết là phiên bản tiểu thuyết của bộ phim hoạt hình cùng tên do tôi làm đạo diễn công chiếu năm 2019. Tôi cũng đã mở đầu bằng cách này khi viết lời bạt cho cuốn Your Name. xuất bản đúng ba năm trước. Giống như lúc đó, lần này phim cũng chưa hoàn thành. Tôi còn đang lo sốt vó vì khâu chế tác gặp bế tắc thì khâu lồng tiếng đã xong được phân nửa (tròn hai tháng trước ngày công chiếu). Trong bối cảnh đó, bản tiểu thuyết lại hoàn thành sớm hơn. Tôi viết cuốn sách này với hi vọng những ai không xem phim vẫn có thể thưởng thức trọn vẹn tác phẩm. Cũng nhân đây, tôi muốn chia sẻ về quá trình sáng tạo cả bản tiểu thuyết lẫn bản phim của Đứa con của thời tiết. (Đoạn sau có đề cập đôi chút đến cảnh cuối, các độc giả muốn tránh bị tiết lộ tình tiết xin hãy đọc chính văn trước nhé.) Ý tưởng cho tác phẩm xuất phát từ việc tác phẩm trước, Your Name. tạo tiếng vang vượt xa những gì tổ chế tác chúng tôi dự tính… Cách nói “tạo tiếng vang vượt xa dự tính” nghe có vẻ chướng tai nhỉ. Nhưng với tôi, đây quả là chuyện ngoài sức mong đợi. Hơn nửa năm công chiếu Your Name. là lần đầu tôi nhận được sự quan tâm rộng rãi và đánh giá đa dạng đến vậy. Lúc dùng bữa ở nhà, tôi thấy tất cả người nổi tiếng trên ti vi đều bình phẩm về phim (chắc là phê bình). Ngồi nhậu ngoài quán rượu tôi cũng nghe người ta phát biểu cảm nghĩ (chủ yếu là phê bình). Thậm chí đi ngoài đường tôi cũng nghe tên phim được nhắc tới (vẫn là phê bình). Trên mạng xã hội nhan nhản bình luận, lượng người yêu thích hẳn cũng nhiều, song lượng người ghét thậm tệ cũng không ít. Trong suốt nửa năm đó, tôi đã miệt mài suy nghĩ xem rốt cuộc điều gì đã khiến họ tức giận. Đây cũng là thời gian tôi phác thảo kế hoạch cho Đứa con của thời tiết.
Tôi chưa thể rút ra câu trả lời thuyết phục sau trải nghiệm này, nhưng đã khẳng định được một điều. Đó là “phim ảnh không phải sách giáo khoa”. Theo quan điểm mới được củng cố của tôi, phim ảnh (hay lĩnh vực giải trí nói chung) nên khai thác những gì không được đề cập trong sách giáo khoa, ví dụ như những mong ước thầm kín mà nói ra kiểu gì cũng khiến người ta cau mày, chứ không nhất thiết phải chuẩn xác và mô phạm. Kể bằng ngôn ngữ khác với sách giáo khoa, chính trị gia và nhà phê bình. Xây dựng câu chuyện không theo tiêu chuẩn đạo đức hay giáo dục nào cả. Đó mới là công việc của tôi, bị chê trách cũng đành chịu. Tôi vẫn phải đem nguyên vẹn cảm nhận của mình về cuộc sống viết thành câu chuyện. Tuy quyết tâm này hình thành hơi muộn, nhưng Đứa con của thời tiết đã được viết trên tâm thế đó. Định hướng rõ ràng rồi viết nên tác phẩm này thực sự rất vui. Quá trình ấy giống như một cuộc phiêu lưu mà tôi có thể hào hứng trải nghiệm. Tôi không mảy may nghĩ đến chuyện “tạo ra một tác phẩm mùa hè hấp dẫn để kéo hết già trẻ gái trai ra rạp” nữa. Dàn nhân vật chính luôn sống hết mình, không biết đến ngần ngại, võ đoán hay thận trọng đã thúc đẩy tôi viết nên kịch bản về họ. Tôi mất mười tháng để chuyển nó thành kịch bản hình ảnh[31] (tức bản thiết kế phim) và bốn tháng để hoàn thiện tiểu thuyết. Sau một năm rưỡi, hiện tại phim cũng sắp hoàn thành. Giờ tôi xin nói đến khác biệt giữa phim và tiểu thuyết. Kì thực, vê cơ bản chúng tương đối giống nhau. Tuy nhiên, khá nhiều cảnh chỉ có trong tiểu thuyết chứ không xuất hiện trên phim. Không phải tôi không thể hiện được hết trên phim (tôi đã làm phim trên tinh thần đảm bảo tính toàn vẹn của tác phẩm), cũng không phải ưu ái đặc biệt cho tiểu thuyết. Theo tôi, nguyên nhân xuất phát từ đặc trưng của hai phương tiện truyền tải phim và tiểu thuyết. Ví dụ, nhìn chung lời thoại trong phim càng ngắn càng tốt (tôi nghĩ vậy), vì nó không phải văn bản đơn thuần mà được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố như nội dung và màu sắc hình ảnh, cảm xúc và ngữ điệu của diễn viên lồng tiếng, hiệu ứng âm thanh và nhạc nền… Điểm mấu chốt càng đơn giản, phương tiện bổ trợ càng phát huy hiệu quả. Tiểu thuyết thiếu hẳn những yếu tố đó. Trong phim, câu chuyện là nội dung, hình ảnh và âm thanh là công cụ truyền đạt. Nhưng trong tiểu thuyết, câu chuyện và công cụ là một. Chỉ đem câu chuyện viết thành văn thì
không thành tiểu thuyết (mà thành kịch bản). Tiểu thuyết là phương tiện truyền thông nơi nội dung không thể tách rời phương thức biểu đạt. Do đó, dù cùng hệ thống nhân vật và lời thoại, phim và tiểu thuyết vẫn được xây dựng theo cách khác nhau, tùy hoàn cảnh cụ thể. Tôi sẽ lấy một phân cảnh gần cao trào làm ví dụ cụ thể. Đó là cảnh Natsumi hét bảo Hodaka “Chạy đi!”. Trên phim, nhịp độ chuyển động của hình ảnh, giọng diễn viên lồng tiếng kết hợp với tiếng động cơ xe máy ngay đoạn trước và nhạc đệm ở đoạn sau, tạo nên phân cảnh gây xúc động mạnh (mong là vậy). Nhưng trong tiểu thuyết, câu thoại ngắn ngủi đó khó lòng tạo được hiệu ứng tương tự. Bởi vậy, tôi đã sử dụng rất nhiều phép so sánh khi viết bản tiểu thuyết, ngoài ra còn phác họa sơ bộ cuộc đời Natsumi ở nửa đầu. Chi tiết này không hề có trong phim, nhưng nhất thiết phải đưa vào tiểu thuyết nếu muốn khoảnh khắc trên đem lại ấn tượng ngang cảnh phim tương ứng. Kết quả là nó trở thành chi tiết riêng có của bản tiểu thuyết, đồng thời tạo niềm vui viết lách cho tôi. Mong rằng nó cũng sẽ trở thành niềm vui thưởng thức cho độc giả. Tiếp theo là về phần âm nhạc trong Đứa con của thời tiết. Khi viết xong kịch bản và muốn nhờ ai đó đọc hộ, tôi nghĩ ngay tới anh Noda Yojiro, nhóm RADWIMPS. Tôi đã đưa anh xem kịch bản với tư cách bạn bè thay vì đề nghị soạn nhạc. Tôi chỉ muốn biết cảm nhận của anh sau khi đọc nó. Ấy thế mà ba tháng sau, tôi nhận được hai ca khúc nháp nhan đề Tình yêu còn có thể làm những gì? và Mọi chuyện đều ổn. Đây đích xác là “cảm nhận” tôi trông đợi. Ca từ đầy ắp những điều tôi tha thiết muốn biết nhưng không thể tự tìm ra. Cảm giác lúc đó hệt như vô tình lạc vào kho báu bí mật. Thế là theo lẽ tự nhiên, tôi nhờ anh Yojiro làm đạo diễn âm nhạc cho Đứa con của thời tiết (giờ nghĩ lại mới thấy tôi đã ngoan cố nài ép anh). Nhưng phải thú thật, khi mới nghe lần đầu, tôi đã nghĩ không thể đưa bài Mọi chuyện đều ổn vào phim và cũng nói lại với anh Yojiro như vậy. Lý do đơn giản là không tìm ra chỗ dùng. Theo tôi thấy, cả ca từ lẫn giai điệu đều quá mãnh liệt so với tác phẩm. Tuy nhiên một năm sau, tôi lại được giải vây nhờ bài hát nhận từ đầu này.
Lúc ấy tôi đang nhức óc vì cảnh cuối. Các cảnh khác đều đã được dựng thành kịch bản hình ảnh và bước vào giai đoạn chế tác. Kịch bản hình ảnh cho đoạn kết cũng đã có, nhưng lại kẹt ở thoại của nhân vật Suga (“Thế giới… loạn từ lâu rồi.”), ba phút cuối cùng chưa xong. Phương hướng triển khai có sẵn trong kịch bản, riêng cảm xúc sau cùng của Hodaka và Hina là tôi không sao nắm bắt được. Tôi đã dựng thử một phương án, nhưng mọi người không hài lòng lắm. Sau hơn hai tháng phiền não, vào một lần thảo luận với anh Yojiro về âm nhạc ở cảnh cuối, tôi bỗng nhớ đến bản Mọi chuyện đều ổn bấy giờ vẫn chưa được dùng tới. Tôi bèn nghe lại bài hát lần nữa và kinh ngạc vô cùng. Tất cả đều được viết trong này. Phải, những điều cần truyền tải, những cảm xúc quan trọng đều được trình bày trong Mọi chuyện đều ổn, bài hát tôi nhận được đầu tiên. Tôi gần như đã bê nguyên lời bài hát vào kịch bản cảnh cuối. Ca khúc ra đời một năm trước hoàn toàn khớp với đoạn này. Dựng thử mới thấy, đây chính là cái kết hoàn hảo cho câu chuyện, ngoài ra không còn phương án nào thích hợp hơn. Cuối cùng, tôi xin chia sẻ lý do viết tiểu thuyết song song với làm phim. Vốn dĩ tôi khá lừng khừng khi tiến hành việc này theo yêu cầu của hội đồng chế tác Your Name. Nhưng giờ tôi lại thấy công việc ấy đã cứu tôi theo cách nào đó. Viết văn rất vui, hơn nữa bản tiểu thuyết còn chứa nhiều chi tiết có thể đưa vào bản phim. Trên hết, nó khiến tôi yêu những nhân vật sống trong thế giới mình tạo ra hơn. Mong rằng không riêng tác giả tôi đây, mà độc giả cũng tìm được niềm vui khi đọc cuốn sách này. Được vậy thì quả là không còn gì hạnh phúc hơn. Ngoài ra, tôi có thể thường xuyên vắng mặt khỏi phòng thu trong quá trình làm phim để chuyên tâm viết tiểu thuyết là nhờ sức làm việc năng nổ của các thành viên studio Ogikubo, trong đó có đạo diễn hình ảnh Tamura Atsushi. Rất cảm ơn mọi người. Thành thật cảm ơn các bạn vì đã chọn đọc tác phẩm này.
Shinkai Makoto Tháng Năm 2019
Cảm nghĩ Noda Yojiro Hiện tại là ngày 7 tháng Sáu năm 2019. Đã hai tháng trôi qua kể từ ngày tôi nhận yêu cầu viết cảm nghĩ cho cuốn sách này. Đầu tháng Tư, khi quá trình sản xuất nhạc phim còn dang dở, đạo diễn đã nhờ tôi viết cảm nghĩ cho tiểu thuyết Đứa con của thời tiết. Lúc đó tôi hoàn toàn không biết “cảm nghĩ” anh nói tới là gì nhưng vẫn trả lời, “Nếu anh thấy ổn thì tôi sẽ nhận.” Thú thật, tôi nhận chỉ vì nghĩ đến quyền được đọc tác phẩm đầu tiên thôi. Giờ thì tôi hối hận sâu sắc. Viết kiểu gì cũng không ưng. Cứ viết rồi xóa, xóa rồi lại viết. Đang đau đầu không biết viết cảm nghĩ thế nào mới hợp với tiểu thuyết, tôi lại phải đối mặt với chuyến lưu diễn toàn quốc mùa hè bắt đầu từ ngày mai. Đáng ra không nên nhận việc này mới phải. Với tâm thế hơi liều do bế tắc, tôi vừa điểm lại những