phần của vấn đề là chúng tôi đã đơn giản hóa một cách quá mức hạnh phúc trong nền văn hóa đại chúng và các phương tiện truyền thông, khiến cho người ta phủ nhận nó như là một vấn đề chưa được chứng minh. Như Vanessa Buote, một nhà nghiên cứu về tâm lý học xã hội đã viết cho tôi trong một email:
Hạnh phúc 16 Một trong những hiểu lầm về hạnh phúc, đó là hạnh phúc đồng nghĩa với việc lúc nào cũng phải vui vẻ, sung sướng và mãn nguyện với gương mặt tươi cười. Không phải như vậy – hạnh phúc và sống một cuộc đời phong phú là mở lòng đón nhận những điều tốt đẹp cùng với những điều tồi tệ, và học cách nhìn nhận những điều tồi tệ theo một cách khác. Trên thực tế, trong bài báo gần đây đăng trên tạp chí Tâm lý học thực nghiệm với tên gọi “Sự đa đạng về cảm xúc và hệ sinh thái cảm xúc”, nhà nghiên cứu Quoidbach Jordi đã phát hiện ra rằng việc trải nghiệm nhiều cảm xúc – cả tiêu cực lẫn tích cực – có liên quan tới sức khỏe thể chất và tinh thần. Chúng ta không chỉ có xu hướng hiểu lầm về định nghĩa của hạnh phúc, mà còn có xu hướng theo đuổi nó một cách sai lầm. Shawn Achor, một nhà nghiên cứu và đào tạo cho doanh nghiệp, tác giả bài báo “Sự thông minh tích cực” đã nói với tôi rằng hầu hết mọi người có suy nghĩ sai lầm
17 Hạnh phúc không có nghĩa là thiếu đi những cảm xúc tiêu cực về hạnh phúc. “Hiểu lầm lớn nhất về ‘ngành công nghiệp hạnh phúc’ là hạnh phúc là một mục đích chứ không phải là một phương tiện. Chúng ta nghĩ rằng nếu đạt được những gì mình mong muốn thì sẽ hạnh phúc. Nhưng thực chất não bộ của chúng ta hoạt động theo hướng ngược lại.” Buote đồng ý rằng: “Đôi khi chúng ta có xu hướng xem ‘trạng thái hạnh phúc’ như là mục đích cuối cùng, nhưng chúng ta quên mất điều thực sự quan trọng là hành trình; tìm ra điều gì thực sự khiến chúng ta hạnh phúc và thường xuyên tham gia vào những hoạt động này giúp chúng ta có một cuộc sống viên mãn hơn.” Nói cách khác, theo đuổi hạnh phúc không làm cho chúng ta hạnh phúc. Chúng ta hạnh phúc nhất là khi không suy nghĩ về nó, khi đang tận hưởng khoảnh khắc hiện tại vì đắm chìm trong một dự án ý nghĩa, làm việc vì một mục tiêu cao cả hoặc giúp đỡ những người cần đến chúng ta.
Hạnh phúc 18 Sự lạc quan lành mạnh không có nghĩa là chúng ta che giấu đi cảm xúc thật của mình. Hạnh phúc không có nghĩa là đau khổ biến mất mà chính là khả năng phục hồi từ những đau khổ đó. Và hạnh phúc không hoàn toàn giống với niềm vui hay trạng thái sung sướng ngất ngây; hạnh phúc còn chứa đựng cả sự hài lòng, khỏe mạnh và linh hoạt để trải nghiệm đầy đủ các cung bậc cảm xúc. Tại công ty của chúng tôi, một số người đã và đang đối mặt với nỗi lo lắng, phiền muộn. Một số người đã trải qua hậu chấn tâm lý. Vài người thì chứng kiến căn bệnh tinh thần trầm trọng trong gia đình mình, một số thì chưa từng. Chúng tôi có thể chia sẻ cởi mở với nhau hoặc giữ lại cho riêng mình. Một trong hai cách đều được. Chúng tôi ủng hộ việc khóc tại văn phòng nếu không thể kìm nén (cười cùng nhau và buồn cùng nhau). Một số người – có thể đang tìm kiếm một góc nhìn mới mẻ – thậm chí đã tranh luận rằng hạnh
19 Hạnh phúc không có nghĩa là thiếu đi những cảm xúc tiêu cực phúc là một thứ gây hại (hãy xem hai bài viết cuối cùng của cuốn sách này). Nhưng mục đích của việc thực hành các bài luyện tập giúp nâng cao sức khỏe tinh thần và cảm xúc không phải là để học cách nở một nụ cười gượng gạo trên gương mặt hay cầu mong các vấn đề của bạn tự động biến mất, mà là học cách để giải quyết các tác nhân gây căng thẳng với sự kiên cường thông qua tập luyện, giống như khi bạn đang luyện tập để chạy marathon. Trong suốt thời gian ở bệnh viện với Jim, tôi đã chứng kiến anh ấy thay đổi. Đầu tiên, những điều đó xảy ra một cách rất tinh tế, nhưng bỗng nhiên tôi nhận ra rằng việc thực hành lòng biết ơn và niềm hạnh phúc đi kèm đã mang Jim trở lại với tôi như một món quà. Nếu hạnh phúc là thứ độc hại thì tôi sẽ nói rằng “Hãy cứ để nó xảy ra!” JENNIFER MOSS là nhà đồng sáng lập và Giám đốc Truyền thông của Plasticity Labs.
02 Hạnh phúc tại nơi làm việc thực sự quan trọng - Annie Mckee
22 Rất nhiều người tin rằng không cần cảm thấy hạnh phúc tại nơi làm việc để thành công, và bạn không cần phải yêu quý hay có chung giá trị với các cộng sự của mình. “Công việc khác với chuyện cá nhân,” họ thường có suy nghĩ như vậy. Điều đó thật ngớ ngẩn. Nghiên cứu của tôi với hàng chục công ty và hàng trăm người – bên cạnh những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học não bộ như Richard Davidson, V.S.Ramachandran và các học giả như Shawn Achor – ngày càng chỉ ra một sự thật đơn giản: những người hạnh phúc sẽ làm việc tốt hơn. Những người tích cực gắn kết với công việc và
23 Hạnh phúc tại nơi làm việc thực sự quan trọng đồng nghiệp của mình sẽ làm việc chăm chỉ hơn – và thông minh hơn. Tuy vậy, một số lượng người đáng báo động lại không hề gắn kết. Theo một báo cáo gây quan ngại năm 2013 của Gallup, chỉ 30% lực lượng lao động Mỹ gắn kết với công việc. Điều này trùng khớp với những gì mà tôi nhìn thấy trong công trình nghiên cứu của mình. Không có nhiều người “cam kết về mặt cảm xúc và trí tuệ” với tổ chức.1 Quá nhiều người bàng quan với những điều đang diễn ra quanh mình. Họ gọi thứ Tư là “hump day”2 và làm việc một cách chểnh mảng để qua tới ngày thứ Sáu. Và cứ năm nhân viên thì có một người chủ động không gắn kết, cũng theo bản báo cáo đó của Gallup. Những người này đang làm hỏng các dự án, đâm sau lưng đồng nghiệp và nhìn chung đang hủy hoại môi trường làm việc. Báo cáo của Gallup cũng chỉ ra mức độ gắn kết của nhân viên hầu như không thay đổi qua các
Hạnh phúc 24 năm bất chấp những thăng trầm của nền kinh tế. Thật đáng sợ: chúng ta không gắn kết với công việc, và điều đó đã và đang tiếp diễn trong một thời gian dài. Những người không gắn kết, không hạnh phúc không tạo ra niềm vui khi người khác làm việc cùng họ và không đóng góp nhiều giá trị. Họ gây ảnh hưởng đến tổ chức (và nền kinh tế) của chúng ta theo những cách rất tiêu cực. Thậm chí còn tệ hơn khi các nhà lãnh đạo không gắn kết bởi họ khiến cho thái độ của mình lây lan sang người khác. Cảm xúc và tư duy của họ có ảnh hưởng rất ghê gớm tới tâm trạng và hiệu quả làm việc mọi người. Sau tất cả, cảm nhận của chúng ta liên quan tới việc chúng ta suy nghĩ về điều gì và như thế nào. Nói cách khác, suy nghĩ ảnh hưởng tới cảm xúc, và cảm xúc ảnh hưởng tới suy nghĩ.3 Đã đến lúc đập tan quan niệm sai lầm rằng cảm xúc tại nơi làm việc không quan trọng. Khoa
25 Hạnh phúc tại nơi làm việc thực sự quan trọng học đang đứng về phía chúng ta: tồn tại các liên kết thần kinh giữa cảm xúc, suy nghĩ và hành động.4 Việc chúng ta không kiểm soát được những cảm xúc tiêu cực cũng giống như bị miếng vải che mắt. Chủ yếu chúng ta chỉ tập trung – đôi khi là chỉ tập trung duy nhất – vào nguồn gốc của nỗi đau. Chúng ta cũng không xử lý thông tin, tư duy một cách sáng tạo hay ra các quyết định tốt. Sự bực bội, tức giận hay căng thẳng khiến cho tư duy và sự gắn kết,5 một phần quan trọng trong con người chúng ta bị vô hiệu hóa. Sự thiếu gắn kết là một phản ứng tự nhiên thuộc về thần kinh và tâm lý trước các cảm xúc tiêu cực phổ biến. Nhưng chúng ta không chỉ cần để ý các cảm xúc tiêu cực. Những cảm xúc tích cực mạnh mẽ cũng có tác động tương tự.6 Một số nghiên cứu chỉ ra rằng hạnh phúc quá mức có thể khiến bạn kém sáng tạo và có nguy cơ gây ra những hành động rủi ro hơn (hãy nghĩ về việc chúng ta hành động ngốc
Hạnh phúc 26 nghếch thế nào khi yêu). Về khía cạnh công việc: tôi từng gặp nhiều nhóm người quá khích ở các hội nghị bán hàng và buổi sinh hoạt của công ty. Rất ít sự đổi mới hay học hỏi ra đời từ những buổi tụ họp này. Chỉ cần cho vào đó một ít rượu, bạn sẽ có ngay vô số vấn đề. Nếu đồng ý với nhau rằng các trạng thái cảm xúc ở nơi làm việc là quan trọng, chúng ta có thể làm gì để gia tăng sự gắn kết và cải thiện hiệu suất làm việc? Trong mấy năm qua, tôi và nhóm của mình tại Học viện Lãnh đạo Teleos đã nghiên cứu hàng chục tổ chức và phỏng vấn hàng nghìn người. Những kết luận đầu tiên về mối liên kết đầy mê hoặc giữa cảm xúc và sự gắn kết của con người thật lý thú. Có những điểm tương đồng rõ ràng giữa những gì mà họ nói là họ muốn và cần, bất kể họ đến từ nơi nào, làm việc cho ai và trong lĩnh vực nào. Chúng ta thường giả định rằng có những sự khác biệt to
27 Hạnh phúc tại nơi làm việc thực sự quan trọng lớn giữa các ngành nghề trên toàn thế giới, nhưng nghiên cứu đã thách thức giả định đó. Để trở nên hạnh phúc và gắn kết một cách trọn vẹn, ai cũng cần ba điều: 1. Một tầm nhìn có ý nghĩa về tương lai. Khi những người tham gia kể với nhóm nghiên cứu của chúng tôi về những điều đang phát huy tác dụng và những điều vô ích trong tổ chức của họ, những điều giúp ích hay cản trở nhiều nhất, họ nói về tầm nhìn. Họ muốn có khả năng biết trước tương lai để xem mình sẽ phù hợp như thế nào trong viễn cảnh tương lai ấy. Và, từ công trình nghiên cứu với chuyên gia Richard Boyatzis về sự thay đổi có chủ tâm, chúng tôi biết rằng mọi người học hỏi và thay đổi khi họ có tầm nhìn cá nhân gắn liền với tầm nhìn của tổ chức.7 Thật đáng buồn là có quá nhiều nhà lãnh đạo không vẽ ra
Hạnh phúc 28 được một tầm nhìn hấp dẫn về tương lai, không cố gắng kết nối nó với tầm nhìn cá nhân của nhân viên và không truyền thông hiệu quả. Kết quả là, họ đã đánh mất đội ngũ của mình. 2. Cảm giác có mục đích. Mọi người thường cảm thấy công việc của họ là đáng kể và đóng góp của họ góp phần gặt hái được một điều gì đó thực sự quan trọng. Trừ những người ở cấp quản lý cao nhất, giá trị cổ đông không phải là một mục đích có ý nghĩa khiến cho họ thích thú và gắn kết. Họ muốn biết rằng họ và tổ chức của họ đang làm một điều gì đó lớn lao cho người khác. 3. Các mối quan hệ tuyệt vời. Chúng ta biết rằng nhân viên đến là vì tổ chức, và ra đi chỉ vì một người sếp.8 Mối quan hệ bất hòa với sếp là một nỗi đau. Tương tự như mối quan hệ tồi tệ với đồng nghiệp. Những nhà
29 Hạnh phúc tại nơi làm việc thực sự quan trọng lãnh đạo, quản lý và nhân viên đều nói với chúng tôi rằng các mối quan hệ gần gũi, tin tưởng và hỗ trợ lẫn nhau cực kỳ quan trọng đối với trạng thái tâm lý và sự sẵn sàng của họ trong việc giúp đỡ đội nhóm. Tóm lại, khoa học não bộ và nghiên cứu về tổ chức trên thực tế đang vạch trần những ngộ nhận sai lầm lâu đời và khẳng định: cảm xúc ở nơi làm việc vô cùng quan trọng. Hạnh phúc quan trọng. Để gắn kết một cách tuyệt đối, mọi người cần có tầm nhìn, ý nghĩa, mục đích và các mối quan hệ cộng hưởng. Chúng ta có trách nhiệm tìm ra các cách để thể hiện giá trị của mình tại nơi làm việc và xây dựng các mối quan hệ tuyệt vời. Trách nhiệm của các nhà lãnh đạo là tạo ra một môi trường nơi nhân viên có thể phát triển. Rất đơn giản và thực tế: Nếu bạn muốn có một đội ngũ gắn kết, hãy chú ý tới cách mà bạn tạo ra một tầm nhìn, kết nối công việc của mọi người với mục đích lớn hơn của công ty và
Hạnh phúc 30 tưởng thưởng cho những cá nhân đồng thuận với các cá nhân khác. ANNIE MCKEE là nghiên cứu sinh tại Đại học Pennsylvania, Giám đốc Chương trình Tiến sĩ dành cho CEO và là nhà sáng lập Học viện Lãnh đạo Teleos. Bà là đồng tác giả với Daniel Goleman và Richard Boyatzis trong cuốn sách Primal Leadership (tạm dịch: Lãnh đạo căn bản), Resonant Leadership (tạm dịch: Lãnh đạo cộng hưởng) và Becoming a resonant leader (tạm dịch: Trở thành một nhà lãnh đạo cộng hưởng). Những ý tưởng trong bài viết này được mở rộng trong cuốn sách mới nhất của McKee mang tên How to be happy at work (tạm dịch: Làm thế nào để hạnh phúc ở nơi làm việc), do Harvard Business Review xuất bản. Chú thích 1. 1. “Đo lường mức độ gắn kết của nhân viên: một nghiên cứu ngành công nghiệp sản xuất xe ô tô của Ấn Độ.” A. K. Goel, tạp chí Quốc tế về văn hóa và quản trị kinh doanh của Ấn Độ, số 1, năm 2013, trang 5-21. 2. 2. Ngày giữa tuần, giống như cái bướu (hump) nhô lên giữa lưng con lạc đà. 3. 3. J. Lite, “MIND review: cuộc sống cảm xúc của bộ não”, tạp chí Scienticamerican, ngày 1 tháng 7, 2012, http://www.
31 Hạnh phúc tại nơi làm việc thực sự quan trọng scienticamerican.com/article/mind-reviews-the-emotionallife-of/. 4. 4. D. Goleman, Destructive Emotions: A Scientific Dialogue with the Dalai Lama (tạm dịch: Các cảm xúc gây hủy hoại: một đoạn đối thoại khoa học với Dalai Lama), New York: Bantam, 2004. 5. 5. D. Goleman, Primal Leadership, With a New Preface by the Authors: Unleashing the Power of Emotional Intelligence (tạm dịch: Lãnh đạo theo kiểu nguyên thủy: Giải phóng sức mạnh của trí tuệ cảm xúc), Boston: Harvard Business Review Press, 2013. 6. 6. J. Gruber, “Four ways happiness can hurt you”. Greater Good, ngày 3 tháng 5, 2012, http://greatergood.bekeley.edu/article/ item/four_ways_happiness_can_hurt_you. 7. 7. R. E. Boyatzis vàC. Soler, “Vision, leadership and emotional intelligence transforming family business”, tạp chí Journal of Family Business Management số 2, số 1 (2012), số 1 (2012), trang 23–30; và A. McKee và các cộng sự, “Becoming Resonant Leader Relationships Effectiveness”, Boston: Harvard Business Review Press, 2008. http://www.amazon.com/Becoming-ResonantLeader-Relationships-Effectiveness/dp/1422117340. 8. 8. “How managers trump companies”, tạp chí Gallup Business, ngày 12 tháng 8, 1999, http://businessjournal.gallup.com/ content/523/how-managers-trump-companies.aspx.
03 Khoa học ẩn sau nụ cười - Một cuộc phỏng vấn với Daniel Gilbert DO Gardiner Morse THỰC HIỆN
34 Daniel Gilbert, Giáo sư ngành tâm lý học nổi tiếng tại Đại học Harvard với cuốn sách best-seller năm 2006 mang tên Stumbling on happiness (tạm dịch: Tình cờ gặp hạnh phúc). Bên cạnh nhiều nội dung thú vị khác, cuốn sách còn chỉ ra các sai lầm mang tính hệ thống mà chúng ta mắc phải trong việc tưởng tượng rằng chúng ta sẽ hạnh phúc (hay khổ sở) thế nào. Trong bài phỏng vấn này, cùng với Gardiner Morse từ HBR, Gilbert sẽ khảo sát lĩnh vực nghiên cứu về hạnh phúc và khám phá ra các giới hạn của nó.
35 Khoa học ẩn sau nụ cười HBR: Nghiên cứu về hạnh phúc đã trở thành một chủ đề nóng trong 20 năm vừa qua. Tại sao? Gilbert: Gần đây chúng ta mới nhận ra rằng chúng ta có thể kết hợp một trong những câu hỏi lâu đời nhất – “Bản chất hạnh phúc của con người là gì?” với phương pháp mới nhất để tìm ra câu trả lời: Khoa học. Chỉ mới vài thập kỷ trước, hạnh phúc là vấn đề chủ yếu nằm trong tay của các nhà triết học và thi sĩ. Giới tâm lý học vẫn luôn quan tâm tới cảm xúc, nhưng nghiên cứu về cảm xúc chỉ bùng nổ trong hai thập kỷ trở lại đây, và một trong những cảm xúc mà các nhà tâm lý học nghiên cứu chuyên sâu nhất chính là hạnh phúc. Gần đây, các nhà kinh tế học và khoa học về não bộ đã tham gia vào. Những lĩnh vực này có tính đặc thù riêng nhưng đều có những mối quan tâm chung: các nhà tâm lý học muốn
Hạnh phúc 36 hiểu con người cảm nhận như thế nào, những nhà kinh tế học muốn biết con người đánh giá cao điều gì, và các nhà khoa học não bộ thì muốn biết bộ não của con người phản ứng thế nào với sự tưởng thưởng. Việc ba lĩnh vực tách biệt có cùng hứng thú về một chủ đề đã đặt vấn đề đó lên bản đồ khoa học. Các nghiên cứu về hạnh phúc được xuất bản trên tạp chí Science, nhiều nhà nghiên cứu về hạnh phúc đoạt giải Nobel, và các chính phủ trên toàn thế giới đang gấp rút để tìm ra cách đo lường và gia tăng hạnh phúc cho công dân của họ. Làm thế nào để có thể đo lường một thứ mang tính chủ quan như hạnh phúc? Đo lường các trải nghiệm chủ quan dễ dàng hơn bạn nghĩ rất nhiều. Đó là những gì mà bác sĩ nhãn khoa làm khi đo kính cho bạn. Cô ấy đặt một thấu kính lên mắt bạn và yêu cầu bạn
37 Khoa học ẩn sau nụ cười kể lại trải nghiệm của mình, sau đó cô ấy lại thay một thấu kính khác, rồi một thấu kính khác nữa. Cô ấy sử dụng các báo cáo của bạn như một dạng số liệu, gửi số liệu đi để phân tích khoa học, rồi thiết kế một thấu kính có thể mang lại cho bạn tầm nhìn tốt nhất – tất cả đều dựa trên báo cáo của bạn về trải nghiệm chủ quan của mình. Báo cáo theo thời gian thực là một sự ước lượng rất tốt về trải nghiệm của mọi người, và nó cho phép chúng ta nhìn thế giới qua cặp mắt của họ. Có thể ngày hôm qua hay ngày mai họ không có khả năng diễn tả cho chúng ta rằng họ hạnh phúc như thế nào, nhưng họ có thể nói cho chúng ta biết hiện tại họ đang cảm thấy ra sao nếu chúng ta đặt câu hỏi. “Bạn khỏe không?” có thể là câu hỏi được sử dụng nhiều nhất mà không làm cho ai bị bối rối.
Hạnh phúc 38 Có nhiều cách để đo lường hạnh phúc. Chúng ta có thể hỏi mọi người “Bây giờ bạn đang hạnh phúc như thế nào?” và để họ đánh giá dựa trên một thang điểm. Chúng ta có thể sử dụng phương pháp chụp cộng hưởng từ để đo lưu lượng máu não, hoặc điện cơ đồ để đo lường hoạt động của các “cơ nụ cười” trên gương mặt. Nhưng trong hầu hết trường hợp, các phương pháp này phải được liên kết với nhau rất chặt chẽ, và chỉ khi là chính phủ liên bang, bạn mới có thể chọn các phương pháp phức tạp, tốn kém thay vì các phương pháp đơn giản và rẻ tiền hơn. Nhưng không phải bản thân thang điểm cũng mang tính chủ quan hay sao? Điểm 5 của anh có thể là điểm 6 của tôi. Giả sử một hiệu thuốc bán một lô nhiệt kế rẻ tiền, chưa được hiệu chuẩn chính xác. Những
39 Khoa học ẩn sau nụ cười người có nhiệt độ bình thường có thể nhận kết quả khác với 98.6 °F (~37°C), và hai người có cùng nhiệt độ có thể nhận kết quả khác nhau. Sự sai lệch này khiến người ta tìm kiếm những liệu pháp mà họ không cần tới hoặc bỏ lỡ liệu pháp mà họ thực sự cần. Vì thế, nhiệt kế bị lỗi đôi khi là một vấn đề, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Chẳng hạn, tôi đưa 100 người tới phòng thí nghiệm của mình, để họ tiếp xúc với vi-rút cúm và sau đó dùng những nhiệt kế bị lỗi này để đo thân nhiệt một tuần sau đó, nhiệt độ trung bình của những người đã tiếp xúc với vi-rút gần như chắc chắn sẽ cao hơn nhiệt độ trung bình của những người khác. Một số nhiệt kế sẽ cho kết quả thấp hơn, một số khác cho kết quả cao hơn so với thực tế, nhưng miễn là số lượng người được đo thân nhiệt đủ lớn, những sai sót sẽ tự mất đi. Thậm chí với các thiết bị được hiệu chỉnh
Hạnh phúc 40 kém, chúng ta vẫn có thể so sánh giữa các nhóm lớn. Một thang điểm đánh giá cũng giống như một chiếc nhiệt kế bị lỗi. Sự sai sót khiến nó không phù hợp cho một số phép đo (chẳng hạn như việc chỉ ra chính xác John đang hạnh phúc như thế nào lúc 10 giờ 42 phút ngày 3 tháng 7 năm 2010), nhưng nó hoàn toàn thích hợp cho hầu hết các phép đo lường mà các nhà khoa học tâm lý tiến hành. Tất cả những nhà nghiên cứu về hạnh phúc này đã khám phá ra điều gì?