phần lớn nguyên nhân bắt nguồn từ không biết mình là ai, cũng không có giá trị sống để định nghĩa bản thân. Hệ quả của nó là việc mình tự tước đoạt lòng chắc ẩn với chính mình và tự tra tấn tinh thần mỗi ngày. Neff (2003) định nghĩa dòng chắc ẩn cho chính mình là khi bạn đối xử với cá thể đang chật vật trong đời - không ai khác là chính bạn - bằng sự tử tế thay vì sự chỉ trích, bằng cách thấu hiểu thay vì liên tục nhai đi nhai lại những sai lầm cùng khiếm khuyết của bản thân trong đầu và chấp nhận rằng việc phạm lỗi hay vật
8 | T r an g lộn trong đời là một điều rất con người. Không giống như lòng tự trọng là một thứ chỉ có thể xây dựng dựa trên những thành tựu hay những điều đẹp đẽ bạn làm, lòng trắc ẩn do chính mình là loại xúc cảm vô điều kiện, bất kể bạn có thành đạt hay không, tốt đẹp hay không, đó là việc luôn đối xử với chính bạn một cách dịu dàng và tử tế. Nghiên cứu của Neff (2003) cho thấy những người có lòng tự trách bản cao thường cảm thấy ít lo âu và trầm cảm hơn, đồng thời cảm thấy gắn kết với xã hội và hài lòng với cuộc sống hơn, bất kể lòng tự trọng của họ có cao hay không. Việc ghét bản thân, do đó, nên được định nghĩa là khi bạn tự mình tước đoạt lòng trắc ẩn với bản thân. Một khái niệm khác cũng gắn liền với lòng trắc ẩn tự thân và sự chán ghét bản thân là nỗi sợ lòng trắc ẩn, bao hàm cả việc từ chối yêu thương bản thân và lòng tốt người khác dành cho chúng ta. Nghiên cứu của Gilbert và cộng sự (2014) và nỗi sợ này đề cập đến hai lý do khiến chúng ta không muốn dành lòng trắc ẩn cho chính mình. Lý do thứ nhất nằm ở chỗ chúng ta nhìn nhận việc đón nhận lòng tốt là một sự yếu đuối hoặc nuông chiều bản thân. Do đó, để là một người mạnh mẽ, chúng ta vô tình khước từ lòng tốt từ mọi người xung quanh đồng thời không thể tự xây dựng lòng trắc ẩn cho chính mình.
9 | T r an g Lý do thứ hai cho rằng nỗi sợ này đã được cắm rễ từ những tổn thương trong tuổi thơ. Cụ thể hơn, nghiên cứu này cho thấy rằng những đứa trẻ bị bạo hành hay thiếu sự quan tâm tới các bậc cha mẹ thường lớn lên với nỗi sợ về lòng tốt và sự gắn kết. Nỗi sợ này thường kích hoạt xu hướng né tránh cảm xúc trong mối quan hệ giữa người với người. Nghiên cứu của Naismith (2019) cho thấy rằng những đứa trẻ thiếu thốn tình thương của ba mẹ trong tuổi thơ sẽ có lòng trắc ẩn thấp cho bản thân khi trưởng thành. Đồng thời, cảm giác yếu kém và không bao giờ là đủ cũng là hệ quả của việc không nhận được sự công nhận từ cha mẹ. Nghiên cứu của Gilbert cùng các cộng sự (2014) cho thấy biểu hiện giữa hai đón nhận lòng trắc ẩn từ người khác có mối quan hệ đồng biến với nỗi sợ yêu thương chính bản thân. Hay nói cách khác, nếu bạn không thể để người khác yêu bạn thì chính là do bạn không thể yêu bản thân mình và ngược lại. Nghiên cứu này cũng chỉ ra những người có xu hướng trầm cảm thường cho rằng việc được yêu vô cùng đau đớn vì họ không cảm thấy mình xứng đáng được yêu. Sự chán ghét bản thân ở đây bắt nguồn từ suy nghĩ: "Đó là bởi bạn không phải là tôi, nếu bạn biết được những gì đang diễn ra trong đầu tôi, bạn sẽ không thể yêu tôi đâu." Cảm giác xấu hổ và việc tin rằng bản thân là một kẻ xấu là vật cản khiến chúng ta
10 | T r an g không thể yêu thương chính mình và càng không thể cho phép người khác yêu thương chúng ta. Vào năm 2016, thông qua việc trị liệu tâm lý với những bệnh nhân trầm cảm, Austin đã nghiên cứu về sự chán ghét bản thân và cho rằng đây là biểu hiện của nỗi hổ thẹn hiện sinh. Hay nói một cách dễ hiểu hơn, việc ghép bản thân là một