hồi xưa đông lắm, hẳn là đã có hàng trăm bộ lạc trên khắp thế giới. Nhưng mà bọn họ chết dần chết mòn bấy lâu nay. Dĩ nhiên cũng do pháp sư phù thủy giết một mớ, nhưng chủ yếu là họ tự giết nhau, và bây giờ thì họ chết nhanh chưa từng thấy. Bọn khổng lồ không phải sinh ra để mà sống thành bầy đoàn như kiểu đó. Cụ Dumbledore nói đó là lỗi của chúng ta, chính các pháp sư phù thủy ép họ phải bỏ đi và làm họ sống cách biệt chúng ta như vậy, và họ chẳng còn lựa chọn nào hơn là túm tụm lại với nhau để che chở lẫn nhau.” Harry hỏi: “Vậy, bác đã nhìn thấy họ, rồi sao nữa?” Lão Hagrid nói: “À, bọn ta chờ cho đến sáng, vì không muốn đang đêm đột nhập mà không báo trước, vì chính sự an toàn của bọn ta. Vào khoảng ba giờ sáng bọn họ lăn ra ngủ ngay chỗ bọn họ đang ngồi. Bọn ta không dám ngủ nữa. Vì lý do thứ nhất là bọn ta muốn biết chắc là không có tay nào trong số bọn họ thức dậy và trèo lên chỗ của bọn ta không, và một lý do khác nữa là bọn họ ngáy lớn kinh hoàng, gây ra một trận tuyết lở vào lúc gần sáng. Dù sao đi nữa thì khi trời sáng bọn ta có đi xuống gặp bọn họ.” Ron có vẻ sửng sốt: “Dễ như vậy sao? Bác chỉ cần đi thẳng tới chỗ cắm trại của
bọn khổng lồ à?” Lão Hagrid nói: “Chà, cụ Dumbledore có bảo bọn ta cách thức làm như thế nào. Tặng quà cho Ọe, bày tỏ lòng tôn kính bọn họ, tụi bây biết mà.” Harry hỏi: “Tặng quà cho cái gì?” “À, Ọe, nghĩa là Tù Trưởng.” Ron hỏi: “Làm sao bác phân biệt được ai là Ọe?” Lão Hagrid làu bàu một cách khoái trá: “Dễ ợt. Hắn là tay bự nhứt, xấu xí nhứt, và làm biếng nhứt. Cứ ngồi tại chỗ mà đợi mấy tay khổng lồ khác dâng đồ ăn tới miệng. Mấy con dê chết hay đại loại như vậy. Tên là Karkus. Ta ước chừng hắn cao sáu thước rưỡi hay bảy thước, và dám nặng bằng hai con voi đực chứ không ít. Da hắn giống y như da sống con tê giác.” Hermione hồi hộp nín thở, hỏi: “Vậy mà bác chỉ việc đi lên gặp hắn?” “Ái chà… đi xuống phía hắn chứ, chỗ hắn nằm là ở trong thung lũng. Bọn họ thụt xuống giữa bốn ngọn núi khá cao, hiểu không, bên cạnh một cái hồ núi, thằng Karkus nằm bên cạnh hồ mà gào thét mấy tên khổng lồ khác đem đồ ăn cho hắn và vợ hắn. Olympe và ta bèn đi xuống sườn núi…” Ron hỏi có vẻ ngờ vực:
“Nhưng họ không tìm cách giết bác khi họ thấy bác sao?” Lão Hagrid nhún vai: “Chắc chắn là một số tay trong bọn họ có ý nghĩ đó. Nhưng bọn ta làm đúng những gì cụ Dumbledore bảo bọn ta làm, tức là giơ cao món quà và nhìn thẳng vào mắt tay Ọe, không để ý đến những tay khổng lồ khác. Bọn ta làm đúng y như vậy. Và mấy tay khổng lồ khác nín lặng và ngó bọn ta đi ngang qua và bọn ta đi thẳng tới chân Karkus và cúi chào hắn và đặt món quà của bọn ta ngay phía trước mặt hắn.” Ron háo hức hỏi: “Bác tặng cho bọn khổng lồ cái gì vậy? Đồ ăn hả?” Lão Hagrid nói: “Không, hắn có đủ đồ ăn rồi. Bọn ta đem tặng hắn một chút pháp thuật. Bọn khổng lồ rất khoái pháp thuật, chỉ không khoái các pháp sư phù thủy ếm pháp thuật lên bọn họ thôi. Đằng nào đi nữa, bữa đầu tiên ấy, bọn ta tặng cho hắn một nhánh Lửa Gubraithian.” Hermione thốt lên một tiếng xuýt xoa ‘Quá đã’ khe khẽ, nhưng Harry và Ron cùng cau mày thắc mắc: “Một nhánh…?” Hermione gắt: “Lửa cháy vĩnh viễn. Mấy bồ đúng ra bây giờ phải biết về cái đó rồi, giáo sư Flitwick đã nói đến cái đó ở trong lớp ít nhất hai lần rồi.” Lão Hagrid đáp nhanh, và nói tiếp trước khi Harry và Ron
có thể phản ứng lại Hermione. “Cụ Dumbledore đã phù phép nhánh cây này để nó cháy hoài hoài, mà chuyện đó không phải pháp sư nào cũng làm được đâu nghe, và thế là ta đặt nó trong tuyết bên cạnh chân của Karkus và nói: ‘Một món quà do Albus Dumbledore gởi đến Ọe của những người khổng lồ, kèm theo lời chào trân trọng kính mến.’” Harry háo hức hỏi: “Vậy Karkus nói gì?” Lão Hagrid nói: “Không nói gì hết. Hắn đâu biết nói tiếng Anh.” “Bác nói chơi hoài!” Lão Hagrid vẫn tỉnh bơ: “Cũng không sao. Cụ Dumbledore đã báo trước cho bọn ta biết điều đó có thể xảy ra. Karkus cũng hiểu đủ để quát gọi hai tay khổng lồ biết tiếng của bọn ta ra thông dịch lại.” Ron hỏi: “Mà hắn có khoái món quà không?” “Ồ, có chứ. Cũng phải một phen sóng gió họ mới hiểu được đó là cái gì.” Lão Hagrid trở miếng thịt rồng để áp bề mặt mát hơn vào con mắt sưng vù của lão. “Hết sức hài lòng. Cho nên ta bèn nói rằng, ‘Albus Dumbledore mời Ọe nói chuyện với sứ giả của cụ khi vị sứ giả mang thêm một món quà khác trở lại vào ngày mai.’”
Hermione hỏi: “Tại sao không nói chuyện luôn với bác ngày hôm đó?” Lão Hagrid nói: “Cụ Dumbledore muốn bọn ta tiến hành hết sức từ tốn. Cứ để cho bọn họ thấy chúng ta giữ lời của chúng ta. Chúng tôi sẽ trở lại vào ngày mai mang thêm một món quà khác nữa, và chúng ta đúng là có trở lại với một món quà khác - tạo một ấn tượng tốt, hiểu không? Và để cho bọn họ có thì giờ xài thử món quà thứ nhất và nhận ra đó là một món xịn, và khiến bọn họ ham muốn thêm. Dù sao đi nữa, đối với bọn khổng lồ như Karkus - mình mà tống cho họ quá nhiều thứ một lúc thì họ sẽ phải giết mình đi để cho mọi việc được đơn giản. Cho nên bọn ta cúi chào và rút lui trở ra và kiếm cho mình một cái hang động nho nhỏ xinh xinh mà ngủ qua đêm đó, và vào sáng hôm sau, bọn ta quay trở lại và lần này bọn ta nhận thấy Karkus đang ngồi đợi bọn ta, trông ra vẻ háo hức lắm.” “Và bác đã nói chuyện với hắn?” “Ừ. Trước tiên bọn ta tặng hắn một cái nón sắt chiến trận rất đẹp, do-yêu-tinh-chế-tạo, không đời nào hư bể, tụi bây biết mà, và rồi bọn ta ngồi xuống và bọn ta nói chuyện.” “Thế hắn nói gì?” Lão Hagrid đáp: “Không nhiều lắm. Chủ yếu là lắng nghe. Nhưng mà có những dấu hiệu tốt. Hắn có biết tiếng cụ Dumbledore, có nghe cụ tranh cãi chống lại vụ giết những người khổng lồ cuối cùng ở nước Anh. Karkus tỏ vẻ rất quan tâm đến những điều cụ
Dumbledore cần nói. Và vài tay khổng lồ khác, đặc biệt những tay biết chút đỉnh tiếng Anh, họ xúm lại chung quanh và dỏng tai nghe. Bọn ta tràn trề hy vọng khi bọn ta ra về vào ngày hôm đó. Hứa hẹn trở lại vào ngày hôm sau với một món quà khác nữa. Nhưng mà ngay đêm hôm đó chuyện đời diễn ra trật lất hết.” Ron hỏi ngay: “Nghĩa là sao hở bác?” Lão Hagrid buồn bã nói: “Chà, như ta nói, bọn họ, bọn khổng lồ ấy, không sinh ra để sống tương trợ nhau. Nhất là trong những nhóm đông như vậy. Bọn họ không tự kiềm chế được, cứ vài ba tuần lễ bọn họ lại chia đôi mà giết nhau. Đàn ông đánh với đàn ông, đàn bà đánh với đàn bà. Đám tàn dư của mấy bộ tộc già đánh với nhau, và bọn họ đánh nhau thậm chí cả khi không cần giành nhau đồ ăn thức uống hay chỗ ngủ gần đống lửa ấm nhất. Tụi bây nghĩ coi, cũng dễ hiểu là tại sao cả giống nòi bọn họ sắp bị tiêu vong, bọn họ cứ khử lẫn nhau, nhưng…” Lão Hagrid thở dài một cái thiệt sâu: “Đêm hôm đó một trận đánh nhau xảy ra, bọn ta nhìn thấy hết từ cửa miệng cái động của bọn ta, ngó xuống thung lũng. Đánh nhau nhiều tiếng đồng hồ liền. Tụi bây không thể nào tin được ì xèo cỡ nào đâu. Rồi khi mặt trời mọc lên thì mặt tuyết đỏ tươi và cái đầu hắn nằm tuốt dưới đáy hồ.” Hermione há hốc miệng hỏi: “Đầu của ai?”
Lão Hagrid nặng nề đáp: “Của Karkus. Một Ọe mới lên ngôi, tên là Golgomath.” Lão thở một hơi thiệt sâu thiệt dài. “Chà, bọn ta đâu có muốn cò cưa trả giá với một Ọe mới hai ngày sau khi bọn ta đã kết bạn được với Ọe trước đó, và bọn ta có cái cảm giác tức cười là Golgomath sẽ chẳng khoái nghe bọn ta cho lắm, nhưng bọn ta vẫn cứ cố gắng.” Ron nghi hoặc hỏi: “Bác đã đi nói chuyện với hắn à? Sau khi bác nhìn thấy hắn chặt mất đầu của một người khổng lồ khác à?” Lão Hagrid nói: “Dĩ nhiên là bọn ta đã đi. Bọn ta đâu có làm cả cuộc hành trình vất vả để chịu thua sau hai ngày! Bọn ta lại đi xuống với món quà kế tiếp mà bọn ta định tặng cho Karkus. “Trước khi mở miệng thì ta đã biết trước là chẳng ăn thua gì. Hắn ngồi đó, đội cái nón sắt của Karkus, liếc mắt hết sức đểu cáng nhìn bọn ta khi bọn ta đến gần. Hắn thiệt là đồ sộ, một trong những tay bự tướng nhất ở đó. Tóc đen và hàm răng vừa khớp, cổ đeo một xâu chuỗi xương, một số có vẻ là xương người. Ái chà, ta bèn phát pháo trước - đưa ra một cuộn da rồng thiệt to - và nói ‘Một món quà gởi tặng Ọe của những người khổng lồ’ - Chuyện tiếp theo mà ta biết được là ta bị tóm chân xách ngược lên không trung, đầu giộng xuống đất, thì ra hai thằng tay chân của hắn đã tóm lấy ta.” Hermione đưa cả hai tay lêm bụm miệng mình lại.
Harry hỏi: “Rồi làm sao bác thoát ra khỏi tình thế đó được?” Lão Hagrid nói: “Nếu không có Olympe ở đó thì ta đời nào mà thoát ra được. Bà ấy rút cây đũa phép của bà ấy ra và làm vài phép ếm xì bùa mau mắn nhất mà ta từng thấy. Tuyệt vời hết chỗ nói. Ếm bùa Khắc Nhập Khắc Xuất trúng ngay vô mắt của hai thằng đang nắm chân ta, chúng buông ta ra ngay tức thì - Nhưng mà ngay sau đó bọn ta gặp rắc rối lập tức, bởi vì bọn ta đã dùng bùa phép chống lại bọn họ, và đó chính là điều bọn khổng lồ ghét nhất đối với bọn pháp sư. Bọn ta phải vắt giò lên cổ mà chạy, và bọn ta hiểu là bọn ta sẽ chẳng bao giờ có thể đàng hoàng tiến vào doanh trại bọn khổng lồ một lần nữa.” Ron kêu lên khe khẽ: “Ôi, bác Hagrid.” Hermione hỏi: “Vậy thì làm sao bác đi lâu ơi là lâu nếu bác chỉ ở đó có ba ngày thôi?” Lão Hagrid có vẻ nổi giận: “Bọn ta đâu có ra về sau ba ngày đó! Cụ Dumbledore trông cậy vào bọn ta mà.” “Nhưng mà bác nói là bác không thể nào trở lại nữa!” “Không thể vào ban ngày, đúng là bọn ta không thể trở lại. Bọn ta chỉ cần suy tính lại một chút. Bỏ thêm hai ngày nằm trong hang để quan sát. Và chuyện mà bọn ta nhìn thấy chẳng
hay ho gì hết.” Hermione hỏi, tỏ vẻ ghê tởm: “Hắn chặt thêm nhiều đầu nữa sao?” Lão Hagrid nói: “Không. Ta cầu cho hắn làm vậy.” “Bác nói vậy nghĩa là sao?” “Ta muốn nói là ngay lập tức bọn ta phát hiện ra rằng hắn không chống đối tất cả pháp sư - chỉ kỵ bọn ta thôi.” Harry hỏi nhanh: “Bọn Tử Thần Thực Tử à?” Lão Hagrid u ám đáp: “Ừ. Có hai tên Tử Thần Thực Tử đến thăm hắn mỗi ngày, đem quà tặng cho Ọe, và hắn chẳng hề treo ngược giò bọn chúng lên.” Ron hỏi: “Làm sao bác biết bọn chúng là Tử Thần Thực Tử?” Lão Hagrid gầm gừ: “Bởi vì ta nhận ra một tên trong bọn chúng. Macnair, còn nhớ hắn không? Cái thằng cha mà chúng phái tới để giết con Buckbeak đó? Hắn là thằng điên. Hắn khoái giết chóc y như Golgomath vậy, chẳng lạ gì khi chúng hạp nhau như vậy.” Hermione nói đầy thất vọng: “Vậy là Macnair đã thuyết phục những người khổng lồ nhập bọn với Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy?”
“Từ từ đã, con nhỏ hớt lẻo này, ta chưa nói hết câu chuyện mà.” Lão Hagrid tức giận nói. Lúc đầu lão vốn không muốn nói cho tụi nó biết gì hết, nhưng bây giờ thì lão có vẻ như đang cơn khoái kể chuyện. “Ta và Olympe bàn bạc kỹ chuyện này rồi bọn ta đồng ý, rằng chuyện tay Ọe có vẻ ủng hộ Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy không hẳn có nghĩa là tất cả bọn khổng lồ đều như vậy. Bọn ta cần phải cố gắng thuyết phục một số tay khổng lồ khác, những tay không chấp nhận Golgomath làm Ọe đấy.” Ron hỏi: “Làm sao bác phân biệt được ai phe ai?” Lão Hagrid kiên nhẫn đáp: “À, họ là mấy người đã bị đánh nhừ tử, chứ còn ai nữa? Mấy người còn chút ý thức đều tránh xa Golgomath, lẩn trốn trong mấy cái hang động quanh khe núi như bọn ta. Cho nên bọn ta quyết định đi lùng kiếm trong mấy cái hang động chung quanh vào ban đêm để xem bọn ta có thể thuyết phục được vài tên không.” Ron thốt lên với một sự kính trọng đặc biệt trong giọng nói: “Bác đi mò mẫm trong hang động tối thui để tìm người khổng lồ à?” Lão Hagrid nói: “Thực ra, bọn khổng lồ không phải là mối lo lớn nhất của bọn ta. Bọn ta lo tụi Tử Thần Thực Tử hơn. Cụ Dumbledore
đã nói trước với bọn ta là nếu có thể tránh được thì đừng có dây dưa rắc rối với bọn Tử Thần Thực Tử; và rắc rối là chúng lại biết bọn ta đang quanh quẩn ở đó… Ta nghi là Golgomath nói cho chúng biết về bọn ta. Ban đêm khi bọn khổng lồ ngủ và bọn ta muốn bò vô mấy hang động, thì Macnair và một tên khác sục sạo quanh núi để kiếm bọn ta. Thiệt tình không phải dễ gì mà ngăn được Olympe nhào ra đánh bọn chúng.” Lão Hagrid nói tiếp, hai mép nhếch lên kéo ngược cả đám râu ria mọc hoang: “Bà ấy hiếm khi nào ra tay tấn công… Chỉ đôi khi, lúc bà ấy hăng máu lên, thì Olympe… chà, tụi bây biết đó, nóng như lửa… ta nghi trong bà ấy có máu Tây…” Lão Hagrid hướng đôi mắt ủy mị vào ngọn lửa, có vẻ đăm chiêu. Harry để cho lão mơ màng trong hồi ức kỷ niệm chừng ba mươi giây rồi nó tằng hắng thiệt to: “Rồi chuyện xảy ra sao hở bác? Rốt cuộc bác có đến gần được người khổng lồ nào không?” “Cái gì? Ờ… ờ có, bọn ta có gặp chứ. Ừ. Vào đêm thứ ba sau khi Karkus bị giết, bọn ta bò ra khỏi cái động mà bọn ta ẩn náu và vừa lần xuống phía khe núi, vừa canh phòng bọn Tử Thần Thực Tử. Bọn ta vô được mấy cái hang động, chẳng xơ múi gì… nhưng sau đó, trong cái động thứ sáu thì phải, bọn ta tìm được ba tên khổng lồ đang trốn trong đó.” Ron nói: “Chắc là cái hang chật nứt ra được.” “Chẳng còn chỗ mà nhúc nhích cục cựa.”
Hermione hỏi: “Họ có tấn công khi nhìn thấy bác không?” Lão Hagrid nói: “Nếu mà bọn họ không bị te tua bầm giập thì dám họ đã đập bọn ta rồi. Nhưng cả ba tên đều bị thương nặng lắm. Bọn Golgomath ắt là đã dần bọn này đến bất tỉnh. Khi bọn họ tỉnh lại, bọn họ đã bò vô cái hang gần nhất mà bọn họ tìm được. May sao, một tay trong số bọn này biết chút đỉnh tiếng Anh nên có thể thông dịch cho mấy tay khác, và điều bọn ta phải nói không đến nỗi như nước chảy lá môn. Vì vậy bọn ta tiếp tục quay trở lại thăm viếng mấy tay khổng lồ bị thương… Ta cho rằng có lúc bọn ta đã thuyết phục được chừng sáu hay bảy tay trong số bọn này.” Ron hăng hái: “Sáu hay bảy? Chà, cũng không đến nỗi tệ… Vậy họ sẽ đến đây hiệp sức với chúng ta chống lại Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-aiđấy không?” Nhưng Hermione hỏi lại: “Bác Hagrid, bác nói ‘có lúc’ nghĩa là sao?” Lão Hagrid nhìn cô nàng này một cách buồn bã: “Bọn tay chân của Golgomath đã đột kích vô mấy hang động. Sau đó, những tay còn sống sót chẳng muốn dính dáng gì đến bọn ta nữa.” Ron thất vọng thấy rõ. “Vậy… vậy là không người khổng lồ nào đến nữa à?”
“Không!” Lão Hagrid đáp, rồi lão hít sâu và thở ra một cái thiệt dài trong khi tay lão trở miếng thịt rồng để áp phía mát hơn vào mặt lão. “Nhưng mà bọn ta đã làm được cái chuyện mà bọn ta định làm. Bọn ta đã trao được thông điệp của cụ Dumbledore và một số trong bọn họ đã nghe và ta nghi là một số trong bọn họ sẽ nhớ. Biết đâu chừng có mấy tay khổng lồ không muốn ở lại với Golgomath sẽ bỏ xuống núi và khi đó sẽ có cơ bọn họ nhớ ra là cụ Dumbledore thân thiện với họ… biết đâu họ sẽ đến…” Tuyết lúc này đã phủ dày lên trước cửa sổ. Harry cảm thấy vạt áo thụng của nó ở chỗ đầu gối ngấm ướt dần; cái đầu con Fang đặt trên đùi nó và con chó đang nhễu nước miếng ướt nhẹp. Sau một lúc lặng thinh Hermione nói: “Bác Hagrid à?” “Hử?” “Bác có… có thấy vết tích nào… bác có nghe tin tức gì về… về… má của bác trong thời gian bác ở đó không?” Con mắt không bị miếng thịt rồng che mất của lão Hagrid ngó Hermione một lát. Cô nàng hơi hoảng. “Con xin lỗi… Con… quên là…” Lão Hagrid lầu bầu: “Chết rồi. Chết mấy năm trước rồi. Bọn họ nói với ta như vậy.”
Hermione lí nhí nói: “Ôi… Con… thiệt tình rất tiếc…” Lão Hagrid nhún đôi vai kếch sù của lão, nói cộc lốc: “Khỏi cần. Bác không nhớ nhiều lắm. Đâu phải một bà mẹ hiền.” Mọi người lại yên lặng một lát. Hermione áy náy đưa mắt liếc Harry và Ron, rõ ràng là muốn hai đứa tụi nó nói gì đó. Ron bèn chỉ tay lên bộ mặt đầy máu me của lão Hagrid mà nói: “Nhưng mà bác Hagrid à, bác vẫn chưa giải thích tại làm sao mà bác bị như vầy?” Harry nói thêm: “Hay tại sao mà bác lại về trễ như vậy. Chú Sirius nói là bà Maxime đã về từ đời nảo đời nào…” Ron hỏi tới luôn: “Ai đánh bác hả?” Lão Hagrid nói giọng quả quyết: “Ta không hề bị đánh! Ta…” Nhưng mấy tiếng cuối của lão bị chìm mất trong tiếng gõ cửa đột ngột. Hermione há hốc miệng ra; cái tách trà trong tay cô nàng tuột ra và rơi xuống sàn; con Fang kêu lên ăng ẳng. Tất cả bốn người đều nhìn trân trân vào cánh cửa sổ bên cạnh ô cửa. Bóng của ai đó vừa nhỏ vừa lùn vừa mập bè bè đổ dợn sóng trên bức màn mỏng.
Ron thì thào: “Chính là mụ ấy.” “Chui vô đây!” Harry nói nhanh, chụp lấy tấm Áo khoác Tàng hình, quăng trùm lên mình nó và Hermione, trong khi Ron chạy vòng qua cái bàn và lặn xuống dưới cái áo khoác. Tụi nó túm tụm nhau lui về một góc phòng. Con Fang sủa như điên về phía cánh cửa. Lão Hagrid rỏ ra hết sức bối rối. “Bác Hagrid, giấu mấy cái tách trà của tụi con đi!” Lão quơ ngay cái tách của Harry và Ron nhét vội xuống dưới cái đệm trong cái ổ của con Fang. Lúc này con Fang đã nhảy xổ về phía cửa; lão Hagrid dùng một chân gạt con chó qua một bên rồi mở cánh cửa ra. Giáo sư Umbridge đang đứng ngay trong ngưỡng cửa, khoác cái áo choàng bằng vài tuýt màu xanh lá cây và một cái nón có vành rất ư tương xứng. Môi trề ra, mụ ngửa ra sau như thể để ngắm gương mặt lão Hagrid, mụ chỉ đứng tới rún của lão mà thôi. Mụ nói, chậm rãi mà oang oang, như thể nói với người điếc: “Thế, ông là Hagrid, đúng không nào?” Không đợi câu trả lời, mụ ngang nhiên đi vô phòng, hai con mắt thao láo của mụ đảo vòng khắp mọi hướng. “Tránh ra!” Mụ quát, quơ cái túi xách tay của mụ đập con Fang, con
chó đang chồm lên người mụ, toan liếm mặt mụ. Lão Hagrid ngó mụ ta chằm chằm, nói: “Ờ… tôi không muốn thô bỉ, nhưng bà là kẻ thô bỉ nào vậy?” “Tên tôi là Dolores Umbridge.” Đôi con mắt của mụ quét khắp căn chòi. Hai lần chúng dừng lại ở cái góc mà Harry đang đứng, kẹp giữa Hermione và Ron. Lão Hagrid nói, giọng lão nghe bối rối vô cùng: “Dolores Umbridge hả? Tôi tưởng bà là một trong mấy người làm ở Bộ Pháp Thuật… chẳng phải bà làm việc cho ông Fudge sao?” Mụ Umbridge lúc này đang đi rảo quanh căn phòng, chú ý từng chi tiết nhỏ xíu, từ cái túi dết đặt dựa tường đến cái áo khoác đi đường vắt ẩu trên lưng ghế. Mụ nói: “Đúng, tôi là phó bí thư cao cấp của ngài Bộ trưởng. Hiện giờ tôi là giáo sư bộ môn Nghệ thuật Phòng chống Hắc ám…” Lão Hagrid nói: “Bà thiệt là gan cùng mình. Không còn mấy người dám đảm nhận công việc đó nữa…” Mụ Umbridge không tỏ ra một dấu hiệu nào là mụ có nghe lão Hagrid nói. Mụ vẫn tiếp tục: “… và là Thanh Tra Tối Cao của trường Hogwarts.” Lão Hagrid sửng sốt, nói:
“Cái gì?” “Chính xác đó là câu hỏi mà ta muốn hỏi.” Mụ Umbridge nói, tay chỉ vào mấy miểng sành sứ bể từ cái tách trà của Hermione đang nằm tung tóe trên sàn. “À.” Lão Hagrid nói, đưa một cái liếc vô phương giúp đỡ về phía góc phòng mà Harry, Ron và Hermione đang núp. “À, đó là… con Fang. Nó làm bể một cái tách. Thành ra tôi phải xài tạm cái này.” Lão Hagrid chỉ vô cái tách mà lão đang uống từ nãy đến giờ, trong khi một bàn tay của lão vẫn còn ịn miếng thịt rồng lên con mắt của lão. Mụ Umbridge lúc này đã đến đứng giáp mặt lão, ghi nhận mọi chi tiết của mặt mũi hình hài lão thay cho cái chòi của lão. Mụ nói khẽ: “Tôi nghe có tiếng nói.” Lão Hagrid nói chắc nịch: “Tôi nói chuyện với con Fang.” “Và nó nói chuyện lại với ông à?” Lão Hagrid tỏ ra khó chịu: “Ừ… cũng là một kiểu nói chuyện. Đôi khi tôi nói con Fang cũng gần như một con người…” Mụ Umbridge nói giọng ngọt xớt: “Có dấu chân của ba đôi chân trên tuyết đi từ cửa lâu đài
đến căn chòi của ông.” Hermione há hốc miệng ra thở hổn hển; Harry phải đưa một tay lên bụm miệng cô nàng lại. May thay, con Fang đang đánh hơi phì phò quanh vạt áo chùng của giáo sư Umbridge, nên có vẻ mụ không nghe thấy tiếng thở của Hermione. Lão Hagrid vung bàn tay bự chảng của lão về phía cái túi dết. “Chà, tôi vừa mới về tới nơi. Có lẽ có ai đó đã đến đây trước khi tôi về tới và tôi đã không kịp gặp họ.” “Không có dấu chân đi ngược lại từ căn chòi của ông.” “Ái chà, tôi… tôi làm sao biết được tại sao lại như vậy… Ừm…” Lão Hagrid nói, lo lắng đưa tay nắm chòm râu của lão mà giật giật, và lại một lần nữa liếc về phía góc phòng nơi Harry, Ron và Hermione đứng, như thể cầu cứu tụi nó. Mụ Umbridge xoay gót lại và sải bước đi hết chiều dài căn chòi, chăm chú dòm ngó mọi xó xỉnh. Mụ ta thậm chí cúi mọp xuống mà ngó vô gầm giường. Mụ mở cả tủ chén bát của lão Hagrid. Và mụ chỉ cách bọn Harry, Ron và Hermione vài phân khi mụ đi ngang qua chỗ tụi nó đang ép sát mình vô vách. Thực tế là lúc đó Harry phải thót bụng vô, và mụ Umbridge đi qua luôn. Sau khi cẩn thận xem xét cái vạc khổng lồ mà lão Hagrid dùng để nấu ăn, mụ xoay gót lại và nói: “Chuyện gì đã xảy ra cho ông? Làm sao mà ông bị mấy vết thương này hả?” Lão Hagrid vội vàng gỡ miếng thịt rồng ra khỏi mặt lão, mà
theo ý Harry thì đó là cả một sai lầm, bởi vì vết bầm xanh bầm tím quanh con mắt của lão Hagrid giờ đây hiện rõ rành rành, ấy là chưa kể tới cả đống thịt và máu đông dính đầy mặt lão. Vậy mà lão vẫn nói trớt quớt: “Ối… bị một tai nạn sơ sơ mà…” “Tai nạn gì?” “Tôi… tôi trượt té.” Mụ Umbridge lạnh lùng lặp lại: “Ông trượt té.” “Ừ, đúng vậy. Vấp phải… vấp phải cây chổi bay của một người bạn. Tôi thì không bay. Thì cứ nhìn tầm vóc của tôi nè, tôi sợ không có cây chổi nào chở nổi tôi đâu. Bạn của tôi nuôi mấy con ngựa Abraxan, tôi không biết bà có từng thấy chúng bao giờ chưa, chúng là mấy con dã thú bự tổ, có cánh, bà biết không, tôi đã được cỡi mấy con ngựa này một chút và…” Mụ Umbridge lạnh lùng cắt ngang câu chuyện tào lao của lão Hagrid. “Đợt vừa rồi ông đi đâu?” “Đợt vừa rồi tôi… làm sao?” “Đi đâu.” Mụ Umbridge nói tiếp. “Đúng, ông đi đâu? Học kỳ đã bắt đầu hơn hai tháng nay. Một giáo sư khác đã đứng lớp thế cho ông. Không một đồng sự nào của ông trong trường có thể cho tôi biết chút thông tin gì về chuyện ông đi đâu. Ông không để lại địa chỉ. Ông đã đi đâu?” Có một khoảnh khắc lặng trang khi lão Hagrid trừng con
mắt hết bị che đậy nhìn mụ Umbridge. Harry hầu như có thể nghe được cả tiếng bộ não của lão hoạt động một cách giận dữ. Lão nói: “Tôi… tôi đã đi an dưỡng.” “An dưỡng.” Mụ Umbridge lặp lại. Con mắt của mụ lướt khắp gương mặt sưng vù và biến sắc của lão Hagrid; trong sự im lặng của cả hai người, máu rồng êm ái nhễu từng giọt xuống cái áo chẽn của lão. Mụ Umbridge lại nói: “Tôi hiểu.” Lão Hagrid nói: “Ừ, một chút… không khí trong lành, bà biết đó…” Mụ Umbridge nói giọng ngọt ngào: “Phải, là người coi sóc sân trường thì không khí trong lành ắt là khó kiếm dữ lắm nhỉ?” Cái khoảnh nhỏ trên mặt lão Hagrid không bị bầm giập xanh hay tím thì đỏ ửng lên. “Ừ… thì thay đổi… khung cảnh, bà biết…” Mụ Umbridge hỏi ngay: “Khung cảnh miền núi hả?” Harry thất vọng nghĩ, vậy là mụ biết. “Núi hả?” Lão Hagrid lặp lại, rõ ràng là lão cũng suy nghĩ khá nhanh. “Không. Tôi khoái miền nam nước Pháp. Một chút nắng…
và biển.” Mụ Umbridge hỏi: “Thật à? Trông ông không có vẻ gì ăn nắng cả.” “Ờ… ờ… da nhạy cảm mà.” Lão Hagrid nói, cố gắng xạo ra một nụ cười lấy lòng mụ Umbridge. Harry nhận thấy có hai cái răng của lão đã bị gãy. Mụ Umbridge lạnh lùng ngó lão; nụ cười của lão sượng đi. Mụ bèn nhấc cái túi xách tay của mụ lên cao một chút trên cái khuỷu tay, và nói: “Dĩ nhiên tôi sẽ báo cáo cho Bộ Pháp Thuật biết về sự trở về trường chậm trễ của ông.” Lão Hagrid gật đầu. “Được.” “Ông cũng nên biết là với tư cách Thanh Tra Tối Cao, cái bổn phận không may nhưng cần thiết của tôi là thanh tra các giáo sư đồng nghiệp của tôi. Vì tôi dám nói là chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau thôi.” Mụ đột ngột quay lưng lại và hùng hổ đi về phía cửa. Lão Hagrid ngó theo mụ ta, ngây ngô lặp lại: “Bà thanh tra tụi tôi à?” “Vâng.” Mụ Umbridge dịu dàng nói, mặt ngoảnh lại nhìn lão Hagrid khi bàn tay mụ đã đặt lên nắm đấm cửa. “Bộ Pháp Thuật quyết tâm thanh lọc các giáo sư kém phẩm
chất, Hagrid à. Chào.” Mụ đi khỏi, cánh cửa đóng lại sau lưng mụ ta nghe cái cạch. Harry toan giở tấm Áo khoác Tàng hình ra thì Hermione nắm khuỷu tay nó. Cô nàng thì thầm vô tai Harry: “Khoan đã. Mụ có thể chưa đi hẳn đâu.” Lão Hagrid dường như cũng nghĩ như vậy; lão nặng nề bước lộp cộp ngang qua căn phòng, kéo màn hé ra một phân hay cỡ đó. Lão nói khẽ: “Mụ ta đi về lâu đài rồi. Trời ơi… Mụ ấy thanh tra người ta hả?” Harry bỏ tấm Áo khoác Tàng hình ra, nói: “Dạ. Cô Trelawney đang bị quản chế.” Hermione hỏi: “Ơ… bác Hagrid à, bác dự định làm gì với tụi con khi lên lớp?” “Ối, tụi bây khỏi lo chuyện đó, bác đã có cả đống giáo án soạn sẵn rồi.” Lão Hagrid hăng hái nói, hớt miếng thịt rồng trên bàn và lại đắp lên mặt lão một lần nữa. “Bác đã để dành hai sinh vật huyền bí cho năm thi Pháp sư Thường đẳng của tụi bây, tụi bây cứ chờ coi, mấy con này là những thứ thiệt là đặc biệt.” Hermione ngập ngừng dò hỏi:
“Ơ… đặc biệt như thế nào ạ?” Lão Hagrid vui vẻ nói: “Bác không nói trước đâu. Bác đâu có muốn làm tiêu sự bất ngờ của tụi bây.” Hermione vứt hết sự giả vờ, khẩn khoản nói: “Bác Hagrid, bác nghe con nói. Giáo sư Umbridge sẽ không hài lòng chút nào hết nếu bác đem vô lớp bất cứ thứ gì quá nguy hiểm…” “Nguy hiểm hả?” Lão Hagrid kêu lên, tỏ vẻ sửng sốt một cách cởi mở. “Đừng có ngốc, bác sẽ không bao giờ để cho các con tiếp xúc bất cứ thứ gì nguy hiểm! Bác muốn nói là, ừ thì, mấy con thú đó có thể tự lo lấy thân chúng…” Hermione tha thiết nói: “Bác Hagrid à, bác phải vượt qua được cuộc thanh tra của bà Umbridge, mà để làm được điều đó thì tốt nhất là nên để cho bà ấy thấy bác dạy tụi con cách chăm sóc mấy con bù nghẹt, cách phân biệt mấu với gai, đại khái mấy thứ như vậy.” Lão Hagrid nói: “Nhưng ba cái đồ đó chán phèo, Hermione à. Mấy thứ mà bác có đây gây ấn tượng hơn nhiều. Bác đã đem chúng về đây mấy năm rồi, bác đoán là cả nước Anh chỉ có mỗi mình bác có bầy thú thuần hóa duy nhất.” Hermione nói, trong giọng cô nàng có nỗi thất vọng thực sự.
“Bác Hagrid… bác làm ơn… Bà Umbridge đang kiếm một cái cớ để đuổi các giáo sư mà bà ấy cho là quá thân cận với thầy Dumbledore. Bác Hagrid, bác làm ơn dạy tụi con cái gì đó lèng èng và sẽ trúng tủ kỳ thi Pháp sư Thường đẳng…” Nhưng lão Hagrid chỉ ngáp một cái đã đời và liếc ánh mắt độc nhãn về phía cái giường bự mêng mông ở một góc căn chòi. “Tụi bây nghe đây, hôm nay bác đã trải qua một ngày dài vất vả, mà trời thì đã quá khuya rồi.” Lão Hagrid nói, đưa tay vỗ lên vai Hermione một cách nhẹ nhàng, khiến cho cô nàng sụm đầu gối té xuống sàn một cái bịch. “Ối, bác xin lỗi.” Lão nắm cổ áo chùng của Hermione dựng cô nàng đứng thẳng trở lại: “Thôi, vầy nhé, các con đừng lo lắng gì cho bác hết, bác hứa là giờ đây bác trở về rồi thì bác sẽ đưa vô giáo án những thứ thiệt là tốt để dạy các con… Bây giờ các con nên trở về lâu đài, và nhớ xóa sạch dấu chân của mình đi nghe chưa!” Một lát sau, khi đã dòm trước ngó sau và chắc chắn an toàn, Harry, Ron và Hermione đi bộ trở về lâu đài trong lớp tuyết dày, chẳng để lại dấu vết gì đằng sau chúng, nhờ bùa phép Xóa Sạch mà Hermione hô ếm khi tụi nó bước đi. Ron nói: “Mình không biết là bồ nói như vậy có làm cho bác ấy hiểu ra chưa.” Hermione nói một cách kiên quyết:
“Mình sẽ trở lại vào ngày mai. Nếu cần, mình sẽ soạn giáo án cho bác ấy. Mụ Umbridge có tống cổ được cô Trelawney hay không thì mình chẳng thèm quan tâm, nhưng mụ ấy không được bắt chẹt bác Hagrid.”
S 21 MẮT RẮN áng chủ nhật, Hermione cày trên lớp tuyết dày sáu bảy tấc để mở đường trở lại căn chòi của lão Hagrid. Harry và Ron cũng muốn đi với Hermione, nhưng mà núi bài làm ở nhà của tụi nó đã lại cao lên ngất nghểu đến mức báo động, cho nên tụi nó đành bất đắc dĩ ở lại trong phòng sinh hoạt chung, cố gắng phớt lờ những tiếng hò reo vui sướng dâng lên từ dưới sân trường, nơi bọn học sinh đang khoái trá hưởng thú vui trượt băng trên mặt hồ đông cứng, hoặc đi xe trượt băng, hoặc tệ nhất là bọn chúng còn phù phép cho mấy cục banh tuyết bay veo véo lên tháp Gryffindor và tông vô cửa sổ kêu bôm bốp. “Ôi!” Cuối cùng Ron mất hết kiên nhẫn, thò đầu ra khỏi cửa sổ gào lên: “Tôi là Huynh trưởng và nếu có thêm một cục tuyết nào nữa tông vô cửa sổ… Ui da!” Nó thụt ngay cái đầu vô, cái mặt bám đầy tuyết. Đóng mạnh cánh cửa sổ sau lưng, nó cay đắng nói:
“Anh Fred với anh George chứ chẳng phải ai khác! Cứt họ…” Chỉ đến trước bữa ăn trưa Hermione mới từ căn chòi của lão Hagrid quay trở về. Cô nàng run lập cập, áo chùng ướt tới tận đầu gối. Ron ngước nhìn lên khi Hermione bước vào, hỏi: “Sao? Soạn hết giáo án cho bác ấy chưa?” Hermione ngồi lọt thỏm xuống cái ghế bành bên cạnh Harry, ngao ngán nói: “Thôi thì, mình cũng đã cố gắng.” Hermione rút cây đũa phép và quơ quơ nó với một động tác phức tạp để cho khí nóng phả ra từ đầu đũa; rồi chỉ đầu đũa vô áo chùng của mình, sấy cái áo bốc hơi cho khô ráo. “Bác ấy thậm chí không có trong chòi khi mình đến, mình phải gõ cửa ít nhất nửa tiếng đồng hồ. Rồi bác ấy mới lộc cộc đi từ trong rừng ra…” Harry rên lên. Rừng Cấm là nơi đông lúc nhúc những thứ sinh vật có triển vọng khiến cho lão Hagrid bị đuổi dạy. Harry hỏi: “Bác ấy giữ con gì ở trong ấy? Bác ấy có nói không?” “Không.” Hermione rầu rĩ nói. “Bác ấy nói bác muốn chúng mang lại cho tụi mình sự ngạc nhiên. Mình đã ra sức giải thích về mụ Umbridge, nhưng bác ấy không thể hiểu nổi. Bác ấy cứ nói là không ai có đầu óc
sáng suốt lại thích học về mấy con nhím quậy hơn mấy con hổ dương xà* .” Hermione nói thêm khi thấy vẻ mặt thất kinh hồn vía của Harry và Ron. “Ôi, mình không tin là bác ấy có được con hổ dương xà đâu. Nhưng mà cứ nghe bác ấy nói chuyện nếu muốn lấy được trứng của chúng thì khó khăn như thế nào, thì chắc chắn là bác ấy đã có thử… Mình không biết là đã nói với bác ấy bao nhiêu lần rồi, rằng bác ấy tốt nhất cứ nên dạy theo giáo án của giáo sư Grubbly-Plank. Mình thiệt tình không tin là bác ấy có chịu nghe tới một nửa những điều mình nói không. Mấy bồ biết không, bác ấy đang có tâm trạng buồn cười sao ấy. Bác ấy vẫn không chịu nói tại làm sao mà bác ấy bị thương tích đầy mặt như vậy.” Sự xuất hiện của lão Hagrid ở bàn ăn của giáo sư trong bữa điểm tâm ngày hôm sau không được tất cả học sinh nhiệt liệt chào đón. Một số như Fred, George và Lee thì rống lên vui sướng và nhào ra lối đi giữa dãy bàn Gryffindor và Hufflepuff mà siết chặt bàn tay to tổ tướng của lão; một số khác, như Parvati và Lavender chẳng hạn, thì liếc nhìn nhau rầu rĩ rồi lắc đầu. Harry biết có nhiều đứa thích những buổi học với giáo sư Grubbly-Plank hơn, và tệ nhất là có một góc nhỏ không thiên vị trong đầu Harry hiểu rằng điều đó là có lý do chính đáng: theo quan niệm của giáo sư Grubbly-Plank, một lớp học thú vị không phải là một nơi mà ai đó có thể bị mối hiểm họa cắt đứt đầu. Cho nên khi Harry, Ron và Hermione cùng nhau đi đến lớp
của lão Hagrid, co ro trong lớp áo dày quấn kín người chống lại cái lạnh, tụi nó nhất định là không yên tâm chút nào. Harry lo lắng, không chỉ về cái mà lão Hagrid có thể quyết định sẽ đem ra dạy tụi nó, mà còn lo về những đứa học trò khác trong lớp, đặc biệt là Malfoy và bè lũ của nó sẽ cư xử ra sao nếu mụ Umbridge dự giờ quan sát chúng. Tuy nhiên khi tụi nó vất vả lội tuyết đi về phía lão Hagrid, đang đợi ở bên bìa Rừng Cấm, thì vẫn không thấy Thanh Tra Tối Cao ở đâu hết. Lão Hagrid vẫn không trưng ra một bộ mặt khiến tụi nó yên tâm cho lắm: những vết bầm tím hồi đêm thứ bảy đến bây giờ có vẻ phai lợt thành màu xanh và vàng, mấy vết cắt dường như vẫn còn ứa máu. Harry không thể hiểu được điều này: phải chăng lão Hagrid đã bị tấn công bởi một sinh vật nào đó mà nọc độc của nó khiến vết thương do nó gây ra không thể nào lành được? Đã vậy, như thể hoàn chỉnh bức tranh đáng ngại ấy, lão Hagrid còn vác theo trên vai lão một cái gì đó trông giống như nửa con bò chết! Lão vừa hất đầu ra dấu về phía rừng cây âm u đằng sau, vừa vui vẻ gọi lũ học trò đang kéo đền gần: “Hôm nay chúng ta làm việc ở đây. Có chỗ rộng rãi hơn! Với lại, chúng thích tối tăm hơn…” Harry nghe Malfoy nói lanh lảnh với Crabbe và Goyle, trong giọng nói có chút hoảng hốt: “Cái gì thích tối tăm? Tụi bây có nghe… Lão nói cái gì thích tối tăm hơn?” Harry nhớ lại cái dịp duy nhất mà Malfoy phải đi vô Rừng Cấm trước đây; lúc đó thằng này cũng chẳng được gan dạ cho
lắm. Harry mỉm cười một mình; sau trận Quidditch, bất cứ cái gì khiến cho Malfoy khó chịu thì nó đều thấy khoái chí. “Sẵn sàng chưa?” Lão Hagrid vui vẻ nói, nhìn quanh cả lớp học. “Tốt. Như vầy nè, ta đã để dành chuyến đi vô Rừng Cấm cho học sinh năm thứ năm. Muốn các trò đi xem những sinh vật này trong môi trường sinh sống tự nhiên của chúng. Đây, sinh vật mà chúng ta sắp học hôm nay thuộc loại khá hiếm, ta cho rằng có lẽ ta là người duy nhất ở nước Anh tìm được cách huấn luyện chúng…” Malfoy hỏi, sự kinh hoảng trong giọng nói của nó càng rõ rệt: “Thầy có chắc chắn là chúng đã được huấn luyện chưa đó? Đây đâu phải là lần đầu tiên thầy đem vô lớp cái đồ hoang dã hung ác, phải không?” Bọn học sinh nhà Slytherin rì rào đồng ý với Malfoy, và một số học sinh bên nhà Gryffindor trông cũng có vẻ như cho rằng Malfoy khá có lý. Lão Hagrid nhấc con bò chết trên vai lão cao thêm một chút, cau có đáp: “Dĩ nhiên là chúng đã được huấn luyện.” Malfoy hỏi: “Vậy thì chuyện gì đã xảy ra cho cái mặt của thầy hả?” Lão Hagrid tức giận nói: “Đừng có chõ mũi vô chuyện của người khác! Bây giờ, nếu
trò đã hỏi xong những câu hỏi ngu ngốc thì hãy đi theo ta.” Lão quay lưng lại và sải dài chân bước vô Rừng Cấm. Không đứa học trò nào tỏ vẻ muốn đi theo lão. Harry liếc đưa mắt ra hiệu cho Hermione và Ron, hai đứa này thở dài và gật đầu, rồi cả ba đứa đi theo sau lão Hagrid, dẫn đầu cho những đứa còn lại trong lớp. Cả đám đi bộ khoảng mười phút thì đến được một nơi cây cối mọc san sát đến nỗi làm trời sầm lại, hệt như lúc chạng vạng tối, và chẳng có một chút xíu tuyết nào rớt được xuống tới mặt đất. Lão Hagrid quẳng nửa con bò chết trên vai xuống đất, càu nhàu vài tiếng, đứng lùi lại, rồi lại quay mặt về phía lũ học trò một phen nữa, hầu hết bọn chúng vẫn còn đang mải luồn lách qua từng gốc cây một để đi về phía lão, ngoái đầu nhìn quanh quất một cách lo lắng như thể lo sợ bị vồ bất cứ lúc nào. Lão Hagrid nói giọng động viên: “Tập hợp lại, tập họp lại quanh đây. Nghe đây, chúng sẽ bị mùi thịt quyến rũ, nhưng dù sao ta cũng vẫn cứ hú chúng tới, vì chúng sẽ khoái lắm nếu biết rằng chính là ta…” Lão quay mặt đi, lúc lắc cái đầu bờm xờm để hất đi mớ tóc rũ xuống gương mặt, rồi cất lên một kêu the thé rất quái dị, vang vọng qua rừng cây âm u như tiếng kêu của một con chim quái ác nào đó. Nhưng chẳng ai cười nổi. Hầu hết lũ học trò đều đã quá khiếp sợ, đến nỗi chẳng kêu lên được tiếng nào. Lão Hagrid lại cất tiếng hú đinh tai nhức óc một lần nữa. Một phút trôi qua, lũ học trò tiếp tục dáo dác ngó qua vai nhau, dòm vô rừng cây một cách căng thẳng, đợi chờ bóng
dáng vụt thoáng đầu tiên của một vật gì đó sắp xuất hiện. Và rồi lão Hagrid lại hất đầu lần thứ ba, rồi ưỡn bộ ngực vĩ đại ra. Harry huých cùi chỏ vô Ron và chỉ vào một khoảng trống tối thui giữa hai cây thủy tùng sần sùi u mấu. Một cặp mắt lóng lánh, trắng dã và trống rỗng đang mỗi lúc một lớn hơn xuyên qua bóng tối nhờ nhờ, và một lát sau hiện ra cái mặt giống như mặt rồng, một cái cần cổ, và rồi thân hình khẳng khiu như bộ xương của một con ngựa có cánh thiệt bự màu đen tuyền, nhô ra từ cõi tối tăm u ám. Con ngựa quan sát lũ học trò trong vài giây, quất vun vút cái đuôi dài đen nhánh, rồi cúi đầu xuống và bắt đầu xé thịt của con bò chết bằng những cái răng nanh nhọn hoắt. Một đợt sóng nhẹ nhõm quét qua Harry. Rốt cuộc đây chính là bằng chứng rằng nó đã không hề tưởng tượng ra những sinh vật này, rằng chúng hiện hữu thật: bác Hagrid cũng biết về chúng. Nó hăm hở nhìn Ron, nhưng Ron vẫn còn chăm chú nhìn ngó quanh quất rừng cây, một lát sau thì thầm: “Sao bác Hagrid không kêu thêm một lần nữa?” Hầu hết những đứa khác trong lớp cũng có cái vẻ ngong ngóng một cách bối rối và căng thẳng y như Ron vậy và chúng vẫn cứ nhìn ngó đâu đâu chứ không nhìn con ngựa chỉ đứng cách tụi nó có vài bước. Chỉ có hai đứa khác dường như có thể nhìn thấy sinh vật này: một thằng Slytherin mình dây đứng ngay sau lưng Goyle đang ngó con ngựa ăn với cái vẻ gớm ghiếc cực kỳ trên mặt. Và Neville, đôi mắt cậu này đang dõi theo đường quất vun vút của cái đuôi ngựa dài đen nhánh. “Ô, lại một con đến nữa kìa!”
Lão Hagrid hãnh diện reo lên khi một con ngựa đen khác xuất hiện từ rừng cây tối đen, vừa xếp lại đôi cánh bằng da sát vô cơ thể, rồi cắm đầu ngấu nghiến tảng thịt. “Bây giờ trò nào nhìn thấy chúng thì giơ tay lên.” Harry hết sức hài lòng mà cảm thấy là rốt cuộc nó sắp hiểu được bí mật của mấy con ngựa này, nên nó giơ cao tay lên. Lão Hagrid gật đầu với nó. Lão nói một cách nghiêm trang: “Ừ,… ừ, ta biết trò có thể nhìn thấy chúng, Harry à. Và trò nữa hả, Neville? Và…” Malfoy chợt cất lên cái giọng nhạo báng của nó: “Xin tha lỗi cho tôi, nhưng chính xác thì chúng ta phải nhìn thấy cái gì kia chứ?” Để trả lời, lão Hagrid chỉ vào cái xác chết của con bò trên mặt đất. Cả lớp nhìn sững vào đó vài giây, rồi nhiều đứa há hốc miệng kêu lên kinh ngạc, riêng Parvati thì rú lên khiếp đảm. Harry hiểu tại sao: cái cảnh từng miếng thịt sống tự xé ra, tước ra khỏi xương, rồi tự biến mất trong không trung, tức nhiên trông hết sức kinh dị. Parvati lùi lại nấp sau thân cây gần nhất, hỏi bằng một giọng kinh hoàng: “Cái gì làm chuyện đó vậy? Cái gì ăn nó vậy?” “Vong mã.” Lão Hagrid hãnh diện đáp, và Hermione thốt lên một tiếng “A” vỡ lẽ bên vai Harry. Lão Hagrid nói tiếp: “Trường Hogwarts có cả một bầy ở đây. Bây giờ, trò nào
biết…” Parvati đột ngột ngắt lời lão Hagrid, trông cô nàng hoảng sợ hết chỗ nói: “Nhưng chúng là điềm vô cùng, vô cùng gở! Chúng bị coi là đem lại đủ loại bất hạnh khủng khiếp cho những ai nhìn thấy chúng. Giáo sư Trelawney đã có lần nói với con…” Lão Hagrid cười hì hì: “Không, không, không, đó là mê tín dị đoan thôi, nghĩa là, những sinh vật này không hề xúi quẩy, chúng cực kỳ khôn khéo và hữu dụng. Dĩ nhiên, chúng cũng không có nhiều việc để làm cho lắm, ngoài việc chủ yếu là kéo mấy cỗ xe của trường, trừ khi cụ Dumbledore muốn làm một chuyến đi đâu đó mà không muốn độn thổ - và, nhìn kìa, lại thêm một cặp khác nữa kéo đến…” Hai con ngựa khác lặng lẽ tiến ra khỏi rừng cây, một con đi ngang qua chỗ Parvati đang núp, sát đến nỗi cô nàng rùng mình và ép sát thân mình vô thân cây, kêu lên: “Con cảm thấy cái gì đó, con nghĩ là nó ở gần con lắm.” Lão Hagrid kiên nhẫn bảo: “Đừng lo, nó không làm hại trò đâu. Thôi, tốt rồi, bây giờ ai có thể nói cho ta biết tại sao một số người trong các trò có thể nhìn thấy chúng, số người khác thì lại không thấy được.” Hermione giơ tay lên. Lão Hagrid tươi cười với nó, bảo: “Vậy thì nói đi.” Hermione nói:
“Chỉ những người nào từng nhìn thấy cái chết mới có thể nhìn thấy vong mã.” Lão Hagrid nghiêm nghị nói: “Chính xác là như vậy. Mười điểm thưởng cho nhà Gryffindor. Bây giờ, bọn vong mã…” “E hèm, e hèm.” Giáo sư Umbridge đã đến, đang đứng cách Harry vài bước, lại vẫn mặc cái áo khoác và cái nón màu xanh lá cây của mụ, và cái bìa kẹp hồ sơ cũng đã sẵn sàng. Lão Hagrid chưa từng bao giờ nghe tiếng tằng hắng giả vờ của mụ Umbridge, nên lại lo ngại nhìn con vong mã đứng gần lão nhất, rõ ràng lão có cảm tưởng là chính nó phát ra âm thanh vừa rồi. “E hèm, e hèm.” Lão Hagrid sau khi xác định được nguồn gốc của âm thanh ấy rồi, mỉm cười nói: “A, chào!” Mụ Umbridge nói bằng cái giọng to và chậm từng tiếng như mụ đã từng dùng để nói với lão, như thể mụ đang nói với một người nào đó vừa chậm hiểu, vừa là người nước ngoài: “Ông có nhận được lá thư tôi gởi đến căn chòi của ông hồi sáng này không? Báo cho ông biết là tôi sẽ dự giờ thanh tra lớp học của ông đấy?” Lão Hagrid tươi vui đáp: “Ồ có chứ. Rất mừng là bà đã tìm được chỗ này. À, như bà nhìn thấy đấy… Hay là, tôi không rõ, bà có nhìn thấy không?
Hôm nay chúng tôi tìm hiểu về vong mã…” Mụ Umbridge nói to, khum khum bàn tay quanh vành tai và cau mặt lại: “Xin lỗi? Ông nói cái gì?” Lão Hagrid có vẻ hơi bối rối. Lão nói to: “Ơ… vong mã. Mấy con ngựa có cánh… bự xự… bà biết mà!” Lão vẫy vẫy hai cánh tay tổ chảng của lão một cách tràn trề hy vọng. Giáo sư Umbridge nhướn đôi chân mày của mụ lên nhìn lão và vừa lẩm bẩm vừa ghi ghi chép chép vô cái bìa kẹp hồ sơ: “… phải… dùng… đến… ngôn… ngữ… bằng… cử… chỉ… thô… lậu…” Lão Hagrid quay trở lại với lũ học trò và trông có vẻ hơi lúng túng. “À… dù sao đi nữa… Ơ… lúc nãy ta đang nói gì há?” “Tỏ ra… có… trí… nhớ… ngắn… hạn… kém… cỏi…” Mụ Umbridge lẩm bẩm đủ to để cho mọi người có thể nghe thấy. Draco Malfoy hí hửng ra mặt như thể được nghỉ lễ Giáng Sinh trước một tháng. Ngược lại, Hermione đã thâm tím mặt mày vì phải đè nén cơn giận sôi người. Lão Hagrid ném một cái nhìn khó chịu về phía tấm bìa kẹp hồ sơ của mụ Umbridge, nhưng vẫn dũng cảm gạt sóng gió mà tiến lên. Lão nói: “À phải rồi… Ừ, ta đang nói với các trò về làm sao mà
chúng ta có được cả một bầy. Ừ, vậy là chúng ta đã bắt đầu với một con đực và năm con cái. Con này…” Lão Hagrid vỗ vỗ vào con vong mã xuất hiện đầu tiên. “… tên là Tenebrus, con mà ta khoái nhất, là con vong mã đầu tiên được sanh ra trong rừng…” Mụ Umbridge chợt nói ông ổng, ngắt ngang bài giảng của lão Hagrid. “Ông có biết là Bộ Pháp Thuật đã xếp loại vong mã là ‘thú dữ’ không?” Trái tim Harry chìm xuống như cục đá, nhưng lão Hagrid chỉ cười hì hì: “Vong mã đâu có dữ! Ừ thì, chúng có thể cắn cho một cái nếu người ta thực sự quấy rầy chúng…” “Tỏ… dấu… hiệu… khoái… trá… với… ý… tưởng… bạo… lực…” Mụ Umbridge lại lẩm bẩm và ghi ghi chép chép trên tấm bìa kẹp hồ sơ. Lúc này lão Hagrid tỏ ra hơi lo lắng một tý: “… Đâu có… Thôi nào! Ý tôi nói là, một con chó cũng cắn nếu người ta trêu chọc nó, đúng không - nhưng vong mã thì bị tai tiếng xấu chẳng qua vì mấy chuyện chết chóc - trước đây người ta vẫn quen nghĩ chúng là điềm xúi quẩy, chứ gì nữa? Chẳng qua là họ không hiểu biết, đúng không?” Mụ Umbridge không thèm trả lời; mụ ta đang viết nốt những ghi chép cuối cùng của mình, rồi mới ngước lên nhìn
lão Hagrid và nói, cũng vẫn bằng cái giọng rõ to và từng tiếng chậm rãi: “Vui lòng tiếp tục dạy như bình thường, tôi sẽ đi dạo quanh…” (rồi mụ làm điệu bộ đi dạo - Malfoy và Pansy Parkinson phát ra một cơn cười nắc nẻ. Xong mụ Umbridge làm động tác chỉ quanh từng thành viên trong lớp): “… trong đám học sinh.” (rồi mụ lại chỉ tay vô miệng mụ để ngụ ý trò chuyện): “… hỏi chúng vài câu.” Lão Hagrid trừng mắt nhìn mụ, rõ ràng là lão hoàn toàn không hiểu tại sao mụ hành động như thể lão không hiểu tiếng Anh thông thường vậy. Lúc này nước mắt phẫn nộ đã ứa ra trên khóe mắt Hermione. Cô bé thì thầm khi mụ Umbridge đi về phía Pansy Parkinson. “Một mụ phù thủy ghê tởm, một mụ phù thủy độc ác ghê tởm! Tôi biết mụ đang làm gì, đồ ác nghiệt, tàn nhẫn, đáng sợ…” Lão Hagrid nhọc nhằn thấy rõ để lấy lại mạch giảng của bài học. “Ơ… đằng nào đi nữa… vậy là vong mã. Ừ. Thiệt vậy, có cả đống điều tốt đẹp về chúng…” Giáo sư Umbridge đang nói với Pansy Parkinson bằng một giọng ngân nga: “Em thấy em có thể hiểu được giáo sư Hagrid khi thầy ấy
nói không?” Giống như Hermione, Pansy Parkinson đang nước mắt mọng mi, nhưng đó là nước mắt nhịn cười; thực vậy, câu trả lời của nó hầu như không mạch lạc bởi vì nó vừa nói vừa nhịn tiếng cười khúc khích: “Không… bởi vì… nhiều… lúc… nghe… giống tiếng gầm gừ…” Mụ Umbridge hí hoáy lia viết trên tấm bìa kẹp hồ sơ. Mấy chỗ không bị bầm giập trên gương mặt lão Hagrid đỏ ửng lên, nhưng lão cố gắng hành động như thể lão không hề nghe câu trả lời của Pansy Parkinson: “Ơ… phải… những điều tốt đẹp về vong mã. Ừ, một khi được thuần hóa rồi, như bầy vong mã này chẳng hạn, các trò sẽ không bao giờ đi lạc nữa. Chúng có ý thức về phương hướng hết sức diệu kỳ, chỉ cần nói với chúng là mình muốn đi đâu…” “Dĩ nhiên, hết sức kỳ diệu là chúng có thể hiểu được thầy!” Malfoy nói lớn, và cùng với Pansy Parkinson lại òa ra một trận cười hinh híc. Giáo sư Umbridge mỉm cười bao dung với chúng và rồi quay ra hỏi Neville: “Em có nhìn thấy vong mã không, em Longbottom?” Neville gật đầu. Giọng dửng dưng, mụ Umbridge hỏi: “Em đã nhìn thấy ai chết?” Neville nói:
“Ông nội của… của em.” Vung bàn tay múp míp của mụ về phía mấy con vong mã lúc này đã xé hết rất nhiều thịt ra khỏi xương của cái xác con bò, mụ Umbridge hỏi: “Và em nghĩ gì về bọn chúng?” Neville liếc sang lão Hagrid, lo lắng nói: “Ơ… Dạ, chúng… cũng được.” “Học sinh… quá… xấu… hổ… khi phải… thừa… nhận… chúng… sợ… hãi…” Mụ Umbridge vừa lẩm bẩm vừa ghi chép vô tấm bìa kẹp hồ sơ của mụ. Neville tức giận, kêu lên: “Không! Không, em không sợ chúng…!” Mụ Umbridge vỗ vỗ vai Neville, nói với một nụ cười mà rõ ràng mụ có ý định biến thành một nụ cười thông cảm, mặc dù đối với Harry thì đó là một nụ cười hết sức đểu cáng. “Không hề hấn gì đâu.” Mụ quay ra ngước mắt lên nhìn lão Hagrid một lần nữa, và một lần nữa nói bằng cái giọng rõ to và từng tiếng chậm rãi: “À, Hagrid. Tôi nghĩ là tôi đã có đầy đủ để tiến hành… thầy sẽ nhận được…” Mụ làm điệu bộ như lấy được cái gì đó từ trong không khí trước mặt, nói tiếp: “… kết quả của cuộc thanh tra về thầy…”
Mụ chỉ tay vào cái tấm bìa kẹp hồ sơ. “… trong vòng mười ngày.” Mụ giơ lên mười ngón tay nhỏ ú na ú núc, rồi, miệng toác ra một nụ cười giống hệt như hàm ếch hơn bao giờ hết dưới cái nón xanh lá cây, mụ xăng xái vẹt đám học trò bước ra, để lại Malfoy và Pansy Parkinson với những trận cười hinh hích, Hermione thì run bắn lên vì phẫn nộ, và Neville thì vừa bối rối vừa buồn tức. Nửa giờ sau, khi lội ngược trở ra tòa lâu đài bằng những cái rãnh mà tụi nó đã tạo ra trong tuyết trước đó, Hermione nổi trận lôi đình: “Mụ quái ngợm già cay nghiệt, dối trá, ác độc đó! Mấy bồ có hiểu mụ đang làm gì không? Vẫn là lặp lại cái chiêu của mụ về những người lai - mụ đang tạo ra một bác Hagrid như một thứ quỷ khổng lồ đần độn, chỉ vì bác ấy có một bà mẹ là người khổng lồ - và ôi, chẳng công bằng gì hết, buổi học thiệt tình không dở chút nào hết - mình muốn nói là, tốt thôi, nếu lại là mấy con Đuôi Nổ thì tệ, nhưng những con vong mã thì hay chứ - thực ra, đối với bác Hagrid, tất cả bọn chúng đều hay hết!” Ron nói: “Mụ Umbridge bảo chúng là thú dữ.” Hermione sốt ruột nói: “Thì, bác Hagrid nói rồi đó, chúng có thể tự quản. Và mình nghĩ là một cô giáo kiểu giáo sư Grubbly-Plank thường thì sẽ không dạy cho tụi mình về mấy con này trước khi mình lên tới
bậc Kiểm tra Pháp thuật Tận sức, nhưng mà, ừ, chúng thú vị đó chớ, đúng không? Thú vị là một số người có thể nhìn thấy chúng, còn một số người thì không. Mình ước gì mình có thể nhìn thấy chúng.” Harry hỏi nhỏ Hermione: “Bồ muốn à?” Hermione trông hoảng hốt: “Ôi Harry… mình xin lỗi… không, dĩ nhiên mình không… thiệt tình là ngu hết sức mới nói một điều như vậy…” Harry nói nhanh: “Không sao đâu, đừng lo…” Ron nói: “Mình ngạc nhiên là có nhiều người có thể nhìn thấy chúng đến vậy. Có tới ba người trong một lớp…” “Ừ há, Weasley, tụi này cũng đang thắc mắc…” Một giọng nói độc địa vang lên gần đó. Vì tuyết khiến cho tụi nó không nghe rõ, nên tụi nó không hay bọn Malfoy, Crabbe và Goyle đang đi ngay đằng sau lưng. Malfoy nói tiếp: “Mày có nghĩ là nếu mày nhìn thấy một ai đó ngủm củ tỏi thì nhờ đó mày sẽ ngó thấy trái Quaffle khá hơn không?” Malfoy và Crabbe cùng Goyle phá ra cười ha hả khi tụi nó vượt qua bọn Harry trên đường trở về tòa lâu đài, và rồi tụi nó hè nhau đồng ca: “Weasley là vua của chúng ta!”
Hai vành tai của Ron đỏ tía. Hermione nói giọng ngâm nga: “Phớt lờ chúng, chỉ việc phớt lờ chúng.” Hermione rút cây đũa phép ra và thực hiện bùa phép tạo ra khí nóng một lần nữa, nhờ đó cô nàng có thể làm tan tuyết thành một quãng đường dễ đi hơn, xuyên qua vùng tuyết còn rắn nguyên, ngăn giữa tụi nó với những ngôi nhà lồng kiếng. Tháng mười hai đến, đem cho đám học sinh năm thứ năm nhiều tuyết hơn và số lượng bài tập về nhà cũng tới tấp hơn. Bổn phận Huynh trưởng của Hermione và Ron cũng càng lúc càng trở nên nặng nề thêm khi lễ Giáng sinh đến gần. Tụi nó bị kêu đi hướng dẫn việc trang trí tòa lâu đài (Ron kể: “Bồ phải cố mà treo dây kim tuyến lên, trong khi con yêu tinh Peeves nắm đầu dây kia và tìm cách quấn xiết bồ bằng sợi dây đó.”), canh giữ không cho bọn học sinh năm thứ nhất và thứ hai chạy ra ngoài trong giờ ra chơi vì trời quá lạnh (Ron kể: “Và tụi nó là những thằng mũi thò lò hỗn láo, bồ biết đó, hồi tụi mình còn học năm thứ nhất tụi mình đâu có vô phép vô tắc như vậy.”), và thay phiên với thầy giám thị Argus Filch đi rảo các hành lang. Thầy Filch nghi ngờ là tinh thần lễ tết có thể bộc lộ trong những vụ đấu tay đôi pháp thuật (Ron giận dữ nói: “Ông ấy hả, đầu ông ấy toàn là phân.”) Tụi nó bận rộn đến nỗi Hermione thôi cái trò đan nón cho mấy con gia tinh và cô nàng bực dọc hết sức vì chỉ còn có ba cái cuối cùng. “Tội nghiệp mấy con gia tinh chưa được hưởng tự do, phải ở lại suốt kỳ nghỉ Giáng sinh chỉ vì không đủ nón!” Harry không nỡ lòng nào kể cho Hermione nghe chuyện
Dobby lấy hết mọi thứ mà Hermione làm ra, bèn cúi thấp hơn xuống bài luận Lịch sử Pháp thuật của nó. Trong hoàn cảnh nào đi chăng nữa, nó cũng không muốn nghĩ đến lễ Giáng Sinh. Lần đầu tiên kể từ khi đi học ở trường Hogwarts, nó hết sức mong muốn được nghỉ lễ Giáng Sinh ở xa trường Hogwarts. Giữa chuyện bị cấm chơi Quidditch và nỗi lo ngay ngáy về việc không biết liệu bác Hagrid có bị đưa vô danh sách các giáo sư phải thử thách hay không, Harry cảm thấy căm phẫn tột cùng đối với ngôi trường trong thời điểm này. Điều duy nhất mà nó thực sự trông ngóng là những buổi họp của Đ.Q.D., thì những buổi họp đó lại tạm ngừng trong thời gian nghỉ lễ, bởi vì hầu như mọi người trong hội Đ.Q.D. đều sẽ về nghỉ lễ với gia đình. Hermione sẽ đi trượt tuyết với ba má, chuyện này làm Ron khoái lắm, vì nó chưa bao giờ nghe nói đến chuyện dân Muggle cột mấy mảnh gỗ hẹp vô chân mình rồi trượt xuống núi. Trong thời gian đó, Ron sẽ về nhà ở trang trại Hang Sóc. Harry đã phải trải qua nhiều ngày sống trong ganh tỵ mãi cho đến khi Ron nói, (để đáp lại câu hỏi của Harry là Ron sẽ về nhà vào dịp nghỉ Giáng Sinh bằng cách nào): “Nhưng mà bồ cũng về với mình mà! Chứ không phải mình đã nói rồi à? Má viết thư bảo mình mời bồ về chơi từ mấy tuần trước mà!” Hermione đảo tròn đôi mắt, nhưng tinh thần Harry thì bay vút lên: ý tưởng nghỉ lễ ở trang trại Hang Sóc quả thiệt là tuyệt vời, chỉ hơi bị sứt mẻ một tý vì Harry cảm thấy có lỗi khi nó không thể về nghỉ lễ với chú Sirius. Nó băn khoăn không biết liệu nó có đủ khả năng thuyết phục được bà Weasley mời luôn
người cha đỡ đầu của nó đến dự các lễ lạc không. Tuy nhiên, bên cạnh cái điều nó lo lắng là liệu cụ Dumbledore có cho phép chú Sirius rời khỏi quảng trường Grimmauld không, nó không thể nào không nghĩ tới việc hình như bà Weasley có lẽ không ưa chú Sirius; hai người đó hay cãi nhau lắm. Chú Sirius đã không liên lạc với tụi nó kể từ lần xuất hiện sau cùng trong lò sưởi, và mặc dù Harry biết là một khi mụ Umbridge vẫn thường xuyên rình mò thì thiệt là ngu nếu tìm cách liên lạc với chú ấy, Harry vẫn không muốn nghĩ đến cảnh chú Sirius lủi thủi một mình trong căn nhà xưa cũ của má chú ấy, có lẽ chỉ còn nước cùng với Kreacher đốt một trái pháo đơn độc mà thôi. Vào buổi họp mặt cuối cùng của hội Đ.Q.D. trước kỳ nghỉ lễ, Harry đến Phòng Cần Thiết rất sớm và mừng là đã đến sớm, bởi vì khi những ngọn đèn bật sáng lên, nó nhận thấy Dobby đã tự đảm lấy cái nhiệm vụ trang trí căn phòng cho lễ Giáng Sinh. Nó dám nói chắc là con gia tinh đã làm chuyện đó, bởi vì không ai khác có thể giăng mắc hàng trăm món đồ trang trí vàng chóe trên trần, mỗi cái lại phô ra một tấm hình của Harry kèm theo hàng chữ CHÚC MỘT GIÁNG SINH RẤT HARRY! Harry chưa kịp gỡ xuống hết thì cánh cửa cọt kẹt mở ra và Luna Lovegood đi vào, trông mơ màng như mọi khi. Cô bé nhìn qua mấy thứ đồ trang trí còn sót lại mà Harry chưa kịp tháo gỡ hết, nói một cách lơ đãng: “Chào. Mấy thứ này dễ thương quá, anh treo lên đó hả?” Harry nói:
“Không, con gia tinh Dobby treo.” Luna Lovegood chỉ vào một chùm bự mấy trái dâu tròn mọng màu trắng được treo gần như ngay phía trên đầu Harry, mơ màng nói: “Tầm gởi. Ý kiến hay.” Harry nhảy phóc ra khỏi chỗ đó. Luna Lovegood nói một cách nghiêm trang: “Nó hay bị bọn ngạ quái quậy tưng bừng.” Harry thoát khỏi việc bắt buộc phải làm là hỏi lại xem ngạ quái là cái gì, nhờ kịp đúng lúc đó Angelina, Katie và Alicia kéo đến. Cả ba cô nàng này đều mệt đứt hơi và trông có vẻ lạnh cóng. Angelina cởi áo khoác ra và quăng vô một góc phòng, nói giọng đều đều: “Chà, tụi này đã kiếm ra người thay thế bạn rồi.” Harry ngây ra hỏi: “Thay tôi à?” Angelina nói một cách nóng nảy: “Bạn, Fred và George. Tụi này đã kiếm được một Tầm thủ khác.” Harry hỏi ngay: “Ai?” Katie nói: “Ginny Weasley.”
Harry há hốc miệng nhìn cô nàng. Angelina rút cây đũa phép ra, vặn vẹo cánh tay: “Ừ, tôi biết. Nhưng thực ra cô bé cũng khá giỏi. Dĩ nhiên không thể bì với bạn…” Cô nàng ném cho Harry một cái nhìn khinh miệt, nói tiếp: “… nhưng vì tụi này không thể có bạn…” Harry cắn răng nuốt xuống câu trả miếng mà nó hết sức muốn thốt ra: bộ cô nàng đã có tích tắc nào đó tưởng tượng ra là nó không hối tiếc việc nó bị tống cổ ra khỏi đội bóng sao, một trăm lần hơn cô nàng ấy chứ? Cố gắng giữ giọng điềm đạm, nó hỏi: “Vậy còn các Tấn thủ thì sao?” Alicia nói mà không có chút nhiệt tình nào: “Adrew Kirke và Jack Sloper. Cả hai người, chẳng người nào xuất sắc hết, nhưng so với mấy đứa ngu độn khác đến dự tuyển…” Cuộc thảo luận đáng ngán ngẩm này được kết thúc nhờ Hermione, Ron và Neville đến đúng lúc, và chỉ trong vòng năm phút sau, căn phòng đủ đông đúc để ngăn nó khỏi nhìn thấy ánh mắt trách móc dữ dội của Angelina. “Thôi được.” Nó nói, kêu gọi mọi người giữ trật tự. “Tôi nghĩ tối hôm nay chúng ta nên ôn lại những gì chúng ta đã học được từ trước đến nay, bởi vì đây là buổi họp cuối cùng trước kỳ nghỉ lễ và không nên bắt tay vô một cái gì mới
rồi lại nghỉ biệt tăm ba tuần lễ…” “Tụi mình không làm cái gì mới nữa à?” Zacharias Smith kêu lên, bằng cái giọng xì xào không vừa ý đủ to để cả phòng nghe thấy. “Nếu mà biết vậy tôi đã chẳng thèm đến…” Fred nói lớn: “Vậy thì tụi này thiệt tình lấy làm tiếc vì Harry đã không nói cho bồ biết trước.” Nhiều người cười khúc khích. Harry nhìn thấy Cho cười to và cảm thấy một cái thót quen thuộc trong bao tử, như thể nó vừa bước hụt xuống một bậc cầu thang. Harry nói: “Chúng ta có thể thực hành thành từng cặp. Chúng ta sẽ bắt đầu với bùa Ngăn chặn, trong mười phút thôi, sau đó sẽ bày mấy cái gối ra mà thực hành bùa Choáng.” Mọi người đều ngoan ngoãn chia thành từng cặp. Harry lại bắt cặp với Neville như thường lệ. Căn phòng lại vang đầy tiếng hô thần chú từng hồi “Ngăn lại”. Cứ từng cặp, một người bị tê liệt một hai phút, trong khi người kia nhìn vơ vẩn quanh phòng xem các cặp khác thực hành, rồi giải huyệt cho bạn mình hết tê liệt, xong đến phiên mình chịu ếm bùa. Neville đã tiến bộ vượt bậc chưa từng thấy. Sau một lúc, khi đã hết bị tê liệt liên tiếp ba lần, Harry lại cho Neville nhập bọn với Ron và Hermione, để nó có thể đi loanh quanh căn phòng mà xem những người khác luyện tập. Khi đi ngang chỗ
Cho, Cho tươi cười với nó; sau đó nó đã phải kháng cự lại cái nỗi cám dỗ đi ngang qua chỗ cô bé thêm nhiều lần nữa. Sau mười phút thực hành thần chú Ngăn chặn, tụi nó bày gối nệm la liệt khắp phòng và bắt đầu thực hành bùa Choáng một lần nữa. Không gian thực ra quá giới hạn khiến cho tụi nó không thể thực hành bùa chú này cùng một lúc; một nửa nhóm này quan sát một nửa nhóm kia một lát, rồi đổi chỗ cho nhau. Harry cảm thấy mình vô cùng phấn khởi vì tự hào, khi nó quan sát tất cả mọi người. Đành rằng đúng là Neville đã làm choáng Padma Patil thay vì Dean là đứa mà nó nhắm vô, nhưng mà vụ nhắm trật này cũng còn gần hơn mọi khi, và những người khác cũng đều đạt được tiến bộ vượt bậc. Sau một giờ, Harry yêu cầu ngưng lại. Nó nhìn quanh, tươi cười rạng rỡ với cả đám và nói: “Tụi mình đã làm thiệt là giỏi. Khi nào trở về sau kỳ nghỉ lễ, tụi mình có thể bắt đầu làm mấy thứ lớn hơn - phép Gọi Thần Hộ Mệnh chẳng hạn.” Tiếng xì xào sôi nổi vang lên. Căn phòng bắt đầu vơi dần khi tụi nó ra khỏi phòng từng đôi, từng ba đứa một; khi đi ra, hầu hết mọi người đều chúc Harry một lễ Giáng Sinh hạnh phúc. Harry cùng với Ron và Hermione đi thu gom lại mấy cái gối nệm sắp xếp cho gọn ghẽ ngay ngắn, trong lòng nó cảm thấy hào hứng vô cùng. Ron và Hermione đi về trước, Harry nấn ná ở lại thêm một lát, bởi vì Cho vẫn còn ở lại đó và nó những mong nhận được một lời chúc mừng Giáng Sinh từ cô bé này. Nó nghe Cho nói với cô bạn Marietta:
“Không, bồ cứ về trước đi.” Và tim nó nhảy vọt lên, như thể muốn xí chỗ của cục hầu trong cổ họng. Harry làm bộ như đang xếp cho ngay ngắn lại cái đống gối. Bây giờ nó đã biết chắc là chỉ còn hai đứa nó trong phòng và nó đang chờ cô nàng lên tiếng. Nhưng thay vào giọng nói của Cho, Harry lại nghe có tiếng khóc sụt sịt. Nó quay lại và nhìn thấy Cho đang đứng giữa phòng, nước mắt ràn rụa trên gương mặt. “Cái…?” Nó không biết làm sao hết. Cho chỉ đứng đó mà khóc lặng lẽ. Nó hỏi giọng yếu ớt: “Có chuyện gì vậy?” Cho lắc đầu và quẹt nước mắt bằng tay áo. Cô bé nói khó khăn trong tiếng nức nở: “Tôi… xin lỗi… Tôi tin là… chỉ tại… học tất cả những thứ này… chỉ làm cho tôi… tự hỏi liệu… nếu anh ấy biết được tất cả những thứ này… anh ấy biết đâu đã sống sót…” Trái tim Harry rụng trở xuống, thấp hơn cả vị trí thông thường, và nằm đâu đó gần chỗ cái rún thì phải. Lẽ ra nó nên biết điều đó. Cho chỉ muốn nói chuyện về Cedric. Harry nặng nhọc đáp: “Anh ấy biết hết tất cả những thứ này. Anh ấy thực sự giỏi về mấy thứ này, nếu không thì anh ấy đã chẳng thể nào vô tới
giữa cái Mê cung đó được. Nhưng một khi Voldemort đã muốn giết ai thì người đó kể như đã tới số cùng.” Cho nấc cụt khi nghe đến tên Voldemort, nhưng vẫn chăm chú nhìn Harry không chút nao núng. Cô bé nói khẽ: “Nhưng bạn vẫn sống sót khi bạn hãy còn là một em bé.” Harry đi về phía cửa, mệt mỏi nói: “Ừ, thực ra, tôi cũng không biết tại sao, mà cũng không ai biết hết, thành ra cũng không có gì đáng tự hào lắm.” “Ôi, đừng bỏ đi mà!” Cho kêu lên, nghe như sắp khóc nữa. “Tôi thiệt tình rất tiếc là tự nhiên lại bị bối rối như vầy… Tôi đâu có muốn…” Cô nàng lại nấc cục một cái nữa. Ngay cả khi đôi mắt Cho đỏ hoe và sưng mọng, Cho vẫn xinh đẹp vô cùng. Harry cảm thấy khổ sở quá sức. Nó sẽ cảm thấy hạnh phúc biết chừng nào dù là chỉ một lời chúc Giáng Sinh vui vẻ… Lại quẹt nước mắt vô tay áo, Cho nói: “Tôi biết chắc là bạn cảm thấy khủng khiếp lắm khi tôi nhắc đến Cedric, khi bạn nhìn thấy anh ấy chết… tôi đoán là bạn chỉ muốn quên chuyện đó đi…” Harry không nói lời nào về điều này; hoàn toàn đúng thế đấy, nhưng nó chẳng lòng dạ nào mà nói ra nữa. Cho lại nói, với một nụ cười đẫm nước mắt: “Bạn biết không, bạn là một người thầy thiệt, thiệt là giỏi. Trước đây tôi chẳng bao giờ có thể làm cho cái gì choáng
được hết.” Harry vụng về đáp: “Cám ơn.” Hai người nhìn nhau một lúc lâu. Harry cảm thấy một nỗi khát khao cháy bỏng muốn chạy ra khỏi căn phòng, mà cùng lúc, lại hoàn toàn không có khả năng nhúc nhích được đôi chân. Cho chỉ lên cái trần bên trên đầu Harry, nói khẽ: “Dây tầm gởi.” Miệng Harry khô khốc, nó nói: “Ừ. Nhưng có lẽ chúng đầy ngạ quái.” “Ngạ quái là cái gì?” “Ai mà biết.” Harry đáp. Cho đã bước tới gần hơn. Dường như bộ não của Harry đã bị trúng bùa Choáng. Nó nói: “Bạn nên hỏi Loony. Ý tôi là Luna.” Cho bật ra một âm thanh nghe nửa như khóc nửa như cười. Bây giờ Cho đứng càng gần Harry hơn nữa. Nó có lẽ có thể đếm được cả mấy vết tàn nhang trên chót mũi của Cho. “Tôi thiệt tình mến bạn, Harry à.” Harry không thể nghĩ suy được gì nữa. Một cảm giác tê râm ran lan truyền khắp cơ thể nó, khiến nó tê liệt hết tay chân và đầu óc. Cho đã đứng rất gần bên nó. Nó có thể thấy từng giọt nước
mắt lóng lánh trên mi mắt cô bé… Nửa tiếng sau, Harry trở về phòng sinh hoạt chung, đã thấy Hermione và Ron đang ngồi ở những vị trí êm ấm nhất bên cạnh lò sưởi; những người khác đã đi ngủ gần hết. Hermione đang viết một lá thư rất dài; cô nàng đã viết đầy hết một nửa cuộn giấy da đang thòng lơ lửng xuống bên cạnh bàn. Ron thì đang nằm dài trên tấm thảm trải trước lò sưởi, cố gắng làm cho xong bài tập Biến Hình. Khi Harry thả người ngồi lút xuống cái ghế bành bên cạnh Hermione, Ron hỏi: “Bồ mắc kẹt chuyện gì mà trễ vậy?” Harry không trả lời. Nó vẫn còn ở trong tình trạng bị chấn động. Nó nửa muốn kể cho Ron và Hermione nghe chuyện vừa mới xảy ra, nửa chỉ muốn giữ kín bí mật đó trong lòng cho đến khi xuống mồ. Hermione nhìn săm soi Harry qua đầu cây viết lông ngỗng và hỏi: “Bồ không sao chứ, Harry?” Harry nhún vai một cách lưỡng lự. Thiệt tình, nó cũng không biết nó có sao không nữa. Ron chống người lên cao thêm một chút trên đôi cùi chỏ để có thể nhìn Harry rõ hơn. “Có chuyện gì vậy? Chuyện gì xảy ra thế?” Harry hoàn toàn không biết làm sao mở lời để kể cho tụi nó nghe, mà nó vẫn còn chưa biết chắc là nó có muốn kể ra hay
không nữa. Vừa đúng lúc nó quyết định là không nói gì hết, thì Hermione giải quyết vấn đề dùm nó. Cô nàng hỏi bằng cái giọng như nói chuyện công việc làm ăn. “Có phải Cho không? Có phải sau buổi họp bạn ấy dồn bồ vô thế bí không?” Ngạc nhiên đến lặng người, Harry gật đầu. Ron khúc khích cười, nhưng ráng nín khi bắt gặp ánh mắt của Hermione. Ron hỏi bằng giọng chế giễu vô ý tứ: “Vậy… ơ… bạn ấy muốn gì?” Harry bắt đầu nói, giọng hơi khàn khàn; nó tằng hắng rồi ráng nói lại: “Bạn ấy… ơ… bạn ấy… ơ…” Hermione nhanh nhẩu: “Bồ có hôn không?” Ron ngồi bật dậy nhanh đến nỗi nó làm cho cái bình mực của mình đổ tùm lum trên tấm thảm. Hoàn toàn không đếm xỉa gì tới điều đó, nó chỉ chăm chăm nhìn Harry. Nó hỏi: “Sao?” Harry nhìn cái vẻ mặt vừa tò mò vừa hí hửng của Ron, lại nhìn sang cái vẻ hơi cau có trên mặt Hermione, rồi gật đầu. “HA!” Ron làm một động tác diễn tả chiến thắng bằng nắm đấm và bò lăn ra cười, giọng khàn khàn, khiến cho mấy đứa năm thứ hai có bộ tịch nhút nhát đang ngồi gần cửa sổ nhảy dựng lên. Một nụ cười bất đắc dĩ nhe ra trên gương mặt Harry khi nó
nhìn Ron lăn tròn trên tấm thảm. Hermione nhìn Ron với một vẻ ghê tởm sâu sắc rồi quay lại với bức thư cô nàng đang viết dở. Cuối cùng Ron ngước nhìn Harry và hỏi: “Sao? Như thế nào?” Harry đắn đo một lúc. Rồi nó nói một cách thật thà: “Ướt.” Ron phát ra một âm thanh mà có thể hiểu là khoái chí cũng được, hiểu là ghê tởm cũng được, rất khó nói. Harry khó khăn nói tiếp: “Bởi vì bạn ấy khóc.” Nụ cười của Ron hơi héo đi một tý. Nó nói: “Ủa? Bồ hôn dở đến mức người ta phát khóc à?” Harry chưa từng xét đến khả năng này, bây giờ cảm thấy hơi lo lo. “Không biết. Có lẽ.” Hermione vẫn hí hoáy viết bức thư của mình, lơ đãng nói: “Dĩ nhiên bồ đâu có dở dữ vậy.” Ron hỏi ngay, giọng sắc bén: “Làm sao bồ biết?” Hermione nói một cách mơ hồ: “Bởi vì dạo gần đây Cho dành hết nửa thời gian của bạn ấy chỉ để khóc. Bạn ấy khóc lúc ăn, khóc trong nhà tắm, khóc ở mọi nơi.”
Ron cười khì, nói: “Vậy nên bồ nghĩ là hôn hít một tý sẽ làm cho bạn ấy vui lên hả.” Hermione cắm cây viết lông ngỗng vô trong bình mực của cô nàng rồi nói một cách đứng đắn đàng hoàng: “Ron, bồ là cái mụn cóc trơ trẽn vô cảm vô tình nhất mà mình xui lắm mới gặp phải từ xưa tới nay.” Ron tức giận hỏi lại: “Bồ nói như vậy nghĩa là sao? Người như thế nào mà lại khóc khi người ta hôn mình chứ?” Harry hơi thất vọng, nói: “Ừ. Ai lại làm vậy.” Hermione nhìn cả hai anh chàng với một vẻ mặt gần như thương hại. Cô nàng hỏi: “Bồ không hiểu dạo này Cho cảm thấy như thế nào sao?” Cả Ron và Harry cùng nói: “Không.” Hermione thở dài và đặt cây viết lông ngỗng xuống. “Này nhé, hiển nhiên là bạn ấy cảm thấy buồn lắm, bởi vì cái chết của Cedric. Kế đến mình chắc là bạn ấy cảm thấy bối rối lắm bởi vì bạn ấy đã từng mến Cedric mà giờ đây bạn ấy lại mến Harry, và bạn ấy không thể nào kết luận được là mình mến ai nhất. Rồi bạn ấy lại cảm thấy có lỗi, cho là chuyện hôn Harry làm tổn thương ký ức về Cedric, và bạn ấy cũng lo lắng chuyện mọi người sẽ nói gì về bạn ấy bồ bịch với một người
từng ở bên cạnh Cedric khi Cedric chết, thành ra những cảm xúc này lộn xộn và đau đớn. À, và bạn ấy lại sợ là bạn ấy sẽ bị đuổi ra khỏi đội Quidditch Ravenclaw bởi vì dạo này bạn ấy bay dở ẹt.” Một chút yên lặng sững sờ tiếp theo bài diễn văn của Hermione. Sau đó Ron nói: “Một người không thể nào cảm thấy ngần ấy thứ một lúc được, không khéo sẽ bị nổ tung ra.” Hermione lại cầm cây viết lông ngỗng của cô nàng lên, nói với một vẻ kinh tởm: “Không phải vì bồ chỉ có một tẹo tình cảm vừa đủ cho một muỗng trà mà tụi này đều vô cảm giống bồ cả đâu.” Harry nói: “Bạn ấy là người bắt đầu trước. Mình sẽ không bao giờ… Bạn ấy chỉ đại khái đi tới bên mình… rồi tiếp theo là bạn ấy khóc suốt trên vai mình… mình không biết phải làm sao hết…” Ron có vẻ được cảnh tỉnh bởi chính suy nghĩ này, an ủi Harry: “Đừng trách bản thân như vậy chứ, bồ tèo.” Hermione ngước nhìn lên băn khoăn: “Bồ chỉ cần tử tế với bạn ấy. Mà bồ có tử tế chứ hả?” Mặt Harry từ từ nóng lên một cách khó chịu: “Ơ, mình đại khái… vỗ nhè nhẹ lên lưng bạn ấy một tý.” Trông nét mặt Hermione như thể đang hết sức khó khăn
mới kềm chế được nước mắt của mình khỏi lăn tròn xuống má. Hermione nói: “Ôi, mình tưởng là tệ hơn thế chứ. Bồ có định gặp lại bạn ấy không?” Harry nói: “Mình sẽ phải gặp lại chứ, đúng không? Tụi mình còn mấy buổi họp Đ.Q.D. mà, phải không?” Hermione nói không chút kiên nhẫn gì hết: “Bồ biết mình muốn nói gì mà.” Harry không lên tiếng nữa. Những lời của Hermione đã mở ra cả một viễn cảnh mới mẻ về những khả năng đáng sợ. Nó ráng tưởng tượng ra chuyện hẹn hò với Cho ở đâu đó - có lẽ ở làng Hogsmeade - rồi một mình ở bên cạnh Cho suốt nhiều tiếng đồng hồ. Dĩ nhiên là Cho cũng sẽ mong đợi Harry hẹn hò đi chơi sau cái chuyện vừa xảy ra… Cái ý tưởng này khiến cho bao tử nó quặn lên đau đớn. Hermione lại một lần nữa vùi đầu vô bức thư đang viết, nói giọng xa xôi: “Mà thôi, bồ còn có cả đống cơ hội hẹn hò với bạn ấy…” Từ nãy giờ Ron vẫn quan sát Harry với một vẻ mặt lém lỉnh khác thường, nó nói: “Còn nếu Harry không muốn hẹn hò với bạn ấy thì sao?” Hermione nói lơ đãng: “Đừng có ngu dữ vậy. Harry thích bạn ấy từ lâu rồi, đúng không, Harry?”
Harry không trả lời. Đúng, nó đã thích Cho từ lâu lắm rồi, nhưng bất cứ khi nào nó tưởng tượng ra cái cảnh chỉ có hai người với nhau thì nó luôn luôn hình dung nét nổi bật của Cho như một người vui vẻ, trái ngược hẳn với một cô bé Cho khóc thổn thức trên vai nó không sao dỗ được. “Nhân tiện hỏi, vậy chứ bồ đang viết thư cho ai vậy?” Ron hỏi Hermione, thử đọc một chút cái tấm giấy da lúc này đã thòng xuống tới tận sàn. Hermione kéo bức thư lên khỏi tầm mắt của Ron, đáp: “Viktor.” “Krum hử?” “Chứ tụi mình biết tới mấy Viktor lận?” Ron không nói gì nữa, nhưng tỏ vẻ bực mình hết chỗ nói. Ba người ngồi trong im lặng chừng hai mươi phút nữa, Ron làm cho xong bài tập Biến Hình của nó với rất nhiều cái khịt mũi sốt ruột và gạch xóa, Hermione thì viết đều đều tới tận cuối tấm giấy da, rồi cuộn tròn nó lại một cách cẩn thận, xong niêm phong bức thư. Harry chỉ ngồi ngó trân trân ngọn lửa trong lò sưởi, ước ao nhất trên đời là sao cho cái đầu của chú Sirius lại hiện ra trong ngọn lửa để khuyên bảo nó đôi lời về bọn con gái. Nhưng ngọn lửa chỉ tí tách cháy thấp dần rồi tắt dần, cho đến khi mấy cục than hồng rụi xuống thành tro. Bấy giờ nó ngước nhìn quanh, và một lần nữa, nó thấy ba đứa tụi nó là những người cuối cùng còn lại trong phòng sinh hoạt chung. “Thôi, chúc ngủ ngon.”
Hermione nói, ngoác miệng rộng mà ngáp dài, rồi cô nàng đi về phía cầu thang của nữ sinh. Khi Ron và Harry trèo lên cầu thang về phòng ngủ nam sinh, nó hỏi: “Cô ả thấy thằng Krum có gì hay chứ?” Harry cân nhắc vấn đề rồi nói: “À, mình cho là anh ta lớn tuổi hơn, đúng không… và anh ta lại là cầu thủ Quidditch thế giới…” Ron tỏ ra cáu gắt thêm: “Ừ, nhưng mà ngoài cái đó ra, mình thấy hắn chỉ là một thằng tồi bẳn tính, đúng không?” Đầu óc Harry vẫn còn vương vấn hình ảnh Cho, nên nó đáp xuôi: “Ừ, một thằng tồi bẳn tính.” Tụi nó cởi áo chùng ra rồi lặng lẽ mặc đồ ngủ vào. Dean, Seamus, và Neville đã ngủ say rồi. Harry đặt cặp mắt kiếng của nó lên cái bàn cạnh giường ngủ rồi trèo lên giường mà không kéo kín lại mấy tấm màn giăng quanh bốn cây cọc giường ngủ; thay vì vậy, nó nằm nhìn đăm đăm lên mảnh trời đầy sao, thấy được qua khung cửa sổ bên cạnh giường của Neville. Phải như nó biết được, vào giờ này đêm qua, rằng trong vòng hai mươi bốn giờ tới nó được hôn Cho Chang… Từ đâu đó bên phải của Harry, tiếng Ron quàu quạu: “Ngủ ngon!” Harry nói:
“Ngủ ngon!” Có thể lần sau… nếu còn có lần sau… Cho sẽ vui hơn một chút. Nó nên hẹn Cho đi chơi; Cho có lẽ đã chờ đợi điều đó và bây giờ đang thực sự giận hờn nó… Hay là Cho đang nằm trên giường mà khóc nhớ Cedric? Nó không biết phải nghĩ sao nữa. Lời giải thích của Hermione khiến cho mọi chuyện dường như rối rắm thêm chứ không dễ hiểu hơn chút nào hết. Lẽ ra ở đây người ta phải dạy cho tụi mình chuyện đó, nó trở mình trên giường, nằm nghiêng, và suy nghĩ. Chuyện đầu óc con gái nghĩ ngợi ra sao… dù sao thì cũng sẽ có ích lợi hơn nhiều so với môn Tiên tri bói toán. Neville mớ ú ớ trong giấc ngủ. Một con cú rúc lên đâu đó ngoài trời đêm. Harry mơ thấy nó trở lại căn phòng Đ.Q.D. họp mặt. Cho đang buộc tội nó đã thu hút cô nàng đến đó bằng những sự đóng kịch vờ vĩnh; Cho còn nói nó đã hứa tặng cô nàng một trăm năm chục thẻ nhái sôcôla nếu cô nàng đến lớp. Harry phản đối… Cho hét lên, “Anh Cedric tặng em cả đống thẻ nhái sôcôla, coi nè.” Và cô nàng rút từ bên trong tấm áo chùng ra một nắm thẻ rồi quăng hết chúng lên không trung, và rồi quay lại Hermione. Hermione nói “Harry, bồ đã hứa với bạn ấy, bồ cũng biết… mình nghĩ tốt nhất bồ nên tặng bạn ấy một cái gì khác để đền bù… hay là tặng cây Tia Chớp?…” Harry phản đối là nó không thể tặng Cho cây Tia Chớp, bởi vì mụ Umbridge đang câu lưu cây chổi, với lại toàn bộ câu chuyện này thiệt là khôi hài, nó chỉ đến phòng họp Đ.Q.D. để treo lên ba mớ đồ trang trí lễ Giáng Sinh lòe loẹt có hình dạng
giống cái đầu của Dobby thôi mà… Giấc mơ thay đổi… Thân thể nó trở nên trơn nhẵn, đầy sức mạnh, và dẻo dai linh động. Nó đang trườn lướt giữa những thanh kim loại bóng loáng, băng qua bóng tối, đá lạnh… nó trườn sát đất, lướt tới bằng bụng… Trời rất tối, nhưng nó vẫn có thể nhìn thấy những vật thể chung quanh tỏa ánh sáng lung linh rực rỡ lạnh lùng… Nó đang quay đầu lại… Thoạt nhìn thì thấy hành lang trống vắng… nhưng không… một người đàn ông đang ngồi trên sàn đằng trước, cằm gục xuống tận ngực, hình thù của ông ta hiện mờ mờ trong bóng tối… Harry thè lưỡi ra… Nó đánh hơi được mùi của người đàn ông trong không khí… ông ta vẫn còn sống nhưng đang lơ mơ ngủ… ngồi ở phía trước một cánh cửa ở cuối một hành lang… Harry thèm muốn cắn người đàn ông đó… nhưng nó phải chế ngự sự thôi thúc đó… Nó còn có chuyện quan trọng hơn phải làm… Nhưng người đàn ông cục cựa… một cái áo khoác óng ánh bạc rớt khỏi chân ông ta khi ông ta vùng đứng dậy; và Harry nhìn thấy hình dáng lung linh rất ấn tượng của người này vươn cao bên trên nó. Nó nhìn thấy một cây đũa phép được rút ra từ thắt lưng… nó không còn chọn lựa nào khác… Nó ngóc lên cao khỏi sàn nhà và mổ một, hai, ba lần, cắp phập răng nanh của nó sâu vô sớ thịt của người đàn ông, cảm thấy xương sườn của ông ta vỡ vụn dưới hai hàm của nó, cảm thấy dòng máu ấm… Người đàn ông thét lên trong đau đớn… rồi ông ta nín
lặng… Nó dội ngược lại thụp xuống tựa vào bức tường… máu đang văng tung tóe trên sàn… Trán nó nhức nhối dễ sợ… nó đau nhức đến nỗi phài gào lên… “Harry! HARRY!” Nó mở mắt ra. Toàn thân nó chỗ nào cũng rịn mồ hôi lạnh ngắt; khăn trải giường của nó xoắn chặt chung quanh mình như một cái áo bó; nó cảm thấy như thể có một que cời cực nóng đang dí vào trán nó. “Harry!” Ron đang đứng bên cạnh cúi xuống nhìn nó, tỏ vẻ khiếp đảm cực kỳ. Phía dưới chân giường nó còn có thêm mấy hình bóng khác nữa. Harry đưa tay ôm chặt đầu, cơn đau làm nó hoa mắt không còn nhìn thấy gì nữa… Nó lăn mình qua và nôn thốc ra mép nệm. Một giọng hoảng hốt kêu lên: “Nó bệnh nặng rồi. Tụi mình có nên kêu ai không?” “Harry! Harry!” Nó phải nói với Ron, nó cần phải nói với Ron, điều này rất quan trọng… hớp lấy một hơi sâu, nó cố gượng ngồi dậy trên giường, cố nhịn để không bị ói mửa nữa, cơn đau làm nó hoa mắt ù tai rồi. Nó thở hổn hển, ngực phập phồng. “Ba của bồ… ba của bồ đã bị tấn công…” Ron hỏi lại, có vẻ chẳng hiểu gì hết.
“Cái gì?” “Ba của bồ ấy! Ba bồ bị cắn, trầm trọng lắm, máu chảy khắp nơi…” Cái giọng hoảng hốt lúc nãy lại vang lên: “Mình đi kiếm người giúp đây.” Harry nghe tiếng bước chân chạy ra khỏi phòng ngủ. Ron ngập ngừng nói: “Harry ơi, bồ ơi, bồ… bồ chỉ nằm chiêm bao mà…” Harry tức giận nói: “Không!” Điều tối quan trọng là Ron phải hiểu. “Đó không phải là một giấc mơ… không phải một giấc mơ bình thường… mình có mặt ở đó, mình nhìn thấy… Chính mình đã làm chuyện đó…” Nó nghe tiếng Dean và Seamus xì xầm, nhưng nó không bận tâm. Cơn đau trên trán nó dịu đi một chút, mặc dù nó vẫn toát mồ hôi và run lẩy bẩy. Nó lại ói mửa và Ron nhảy lùi lại để tránh chỗ. Ron nói giọng run run: “Harry, bồ không được khỏe, Neville đã đi kiếm người giúp đỡ rồi…” Harry nuốt xuống, chùi miệng vô áo ngủ và run lập cập, không sao tự chủ được. Nó nói: “Mình khỏe mà! Mình không sao hết, nhưng chính ba của bồ là người mình thấy đáng lo lắng… tụi mình cần phải truy ra
ngay hiện giờ ba bồ đang ở đâu… ba bồ chảy máu như điên… mình là… mình… đã là một con rắn khổng lồ…” Harry cố gắng ra khỏi giường, nhưng Ron đẩy nó ngã trở xuống. Dean và Seamus vẫn còn rù rì đâu đó gần đấy. Harry không biết là thời gian vừa trôi qua là một phút hay mười phút; nó chỉ ngồi đó mà run lập cập, cảm thấy cơn đau ở vết thẹo từ trên trán từ từ nguôi đi… Và rồi có tiếng chân bước hấp tấp lên cầu thang, rồi nó nghe tiếng Neville một lần nữa: “Thưa cô, ở đây ạ…” Giáo sư McGonagall vội vã đi vào phòng ngủ trong tấm áo khoác ngoài bộ đồ ngủ bằng vải len kẻ ô vuông, cặp mắt kiếng của bà nằm trễ xuống giữa sống mũi xương xẩu. “Chuyện gì vậy, Potter? Bị thương ở chỗ nào?” Harry chưa bao giờ thấy mừng rỡ khi gặp giáo sư McGonagall như lần này. Lúc này nó đang cần gặp một thành viên của Hội Phượng Hoàng, chứ không phải một người nào đó lăng xăng bên nó rồi kê toa cho nó cả đống thuốc vô hiệu. Harry cố gắng ngồi dậy một lần nữa: “Chính là ba Ron ạ. Bác ấy bị tấn công và bị nặng lắm, con nhìn thấy việc xảy ra thế nào.” Hai chân mày sậm của giáo sư McGonagall nhíu khít lại, bà hỏi: “Con nói con đã nhìn thấy việc xảy ra nghĩa là sao?” “Con không biết… con đang ngủ, thế rồi con có mặt ở đó…”
“Con muốn nói là con đã chiêm bao thấy việc đó?” “Không!” Harry tức giận kêu lên, không lẽ không ai trong số họ hiểu được sao? “Lúc đầu con nằm chiêm bao về những chuyện hoàn toàn khác, những chuyện ngớ ngẩn… thế rồi chuyện này xen vô. Nó xảy ra thực, con không hề tưởng tượng đâu. Bác Weasley đang ngồi ngủ trên sàn thì bị một con rắn khổng lồ tấn công, máu bị chảy nhiều lắm, bác ấy ngã, phải có ai đi tìm xem bác ấy đang ở đâu…” Giáo sư McGonagall chăm chú nhìn Harry qua cặp mắt kiếng nằm trễ trên sống mũi và dường như hoảng sợ cái điều bà nhìn thấy. Harry nói với bà, giọng lớn dần, như gào thét. “Con không nói láo, con không điên! Con nói với cô, con đã nhìn thấy việc xảy ra!” Giáo sư McGonagall nói gọn: “Cô tin con, Potter. Mặc đồ vô - chúng ta đến gặp thầy Hiệu trưởng.”
H 22 BỆNH VIỆN THÁNH MUNGO CHUYÊN TRỊ THƯƠNG TÍCH VÀ BỆNH TẬT PHÁP THUẬT arry cảm thấy bớt căng thẳng vì giáo sư McGonagall coi trọng lời nói của nó, nên nó không một chút ngập ngừng, nhảy ra khỏi giường ngay, choàng tấm áo khoác ra ngoài bộ đồ ngủ, và đeo lại cặp mắt kiếng lên sống mũi. Giáo sư McGonagall nói: “Weasley, con cũng nên đi theo.” Tụi nó theo giáo sư McGonagall đi ngang qua những dáng hình im lặng của Neville, Dean và Seamus, ra khỏi phòng ngủ, đi xuống cầu thang xoắn bằng đá để vào phòng sinh hoạt chung, rồi chui qua cái lỗ chân dung ra hành lang Bà Béo tràn ngập ánh trăng. Harry cảm thấy như thể cơn hoảng loạn bên trong nó có thể tràn ra bất cứ lúc nào; nó muốn chạy, muốn hét to tên cụ Dumbledore. Trong khi nó và Ron và giáo sư McGonagall đi thong dong dọc hành lang thì ông Weasley đang chảy máu trầm trọng, và nếu mấy cái răng nanh đó (Harry cố gắng không nghĩ là “mấy cái răng nanh của mình”) có nọc độc thì sao? Ba người đi ngang qua con mèo Bà Norris,
nó dõi hai con mắt như hai bóng đèn chai theo họ và gừ rít khe khẽ, nhưng giáo sư McGonagall xua nó “Xù!” Bà Norris lẩn vào bóng tối ngay. Chỉ trong vòng vài phút sau, cả ba đến trước cột tượng đá hình đầu thú canh gác lối vào văn phòng cụ Dumbledore. Giáo sư McGonagall nói: “Ong xì xèo.” Cái đầu thú bừng sống dậy và nhảy vọt sang một bên; bức tường đằng sau tách ra làm hai, để lộ một cái cầu thang bằng đá đang chuyển động lên liên tục như cái thang máy xoắn trôn ốc. Cả ba người bước lên cái cầu thang chuyển động đó; bức tường đóng lại một cái uỵch sau lưng họ, và họ được chuyển lên cao theo những vòng xoắn khít khao, cho đến khi họ đến được một cánh cửa bằng gỗ sồi được đánh bóng cực kỳ cao cấp với một cái búa gõ cửa bằng đồng có hình dạng một con điểu sư - mình sư tử đầu chim. Mặc dù lúc này đã quá nửa đêm khá lâu, từ bên trong căn phòng vẫn vang lên tiếng nói, rõ ràng là đang bép xép về họ. Nghe có vẻ như cụ Dumbledore đang thù tiếp ít nhất một tá người trong phòng. Giáo sư McGonagall cầm cái búa gõ cửa nhẹ ba lần, và mọi tiếng nói đột ngột nín lặng như thể ai đó vừa vặn tắt chúng đi. Cánh cửa tự mở ra cùng lúc đó và giáo sư McGonagall dẫn Harry cùng Ron bước vào bên trong. Căn phòng chìm trong cảnh tranh tối tranh sáng; những dụng cụ bằng bạc lạ lùng để trên bàn đều im lặng và tĩnh lại chứ không kêu vo vo và nhả ra từng bụm khói như chúng vẫn
thường làm vậy. Những bức chân dung của các ông bà Hiệu trưởng cũ của trường Hogwarts treo kín trên tường đang ngủ gà ngủ gật trong mấy cái khung tranh. Đằng sau cánh cửa, một con chim to bằng con ngỗng lông màu đỏ và vàng chóe hết sức lộng lẫy đang đậu trên một nhành cây và dụi đầu dưới cánh mà ngủ. “À, hóa ra là cô, giáo sư Mc… và… A!” Cụ Dumbledore đang ngồi trong một cái ghế có lưng dựa rất cao đặt phía sau cái bàn giấy; cụ chồm tới trong một vùng ánh sáng tạo nên bằng những ngọn nến đang chiếu sáng các giấy tờ đặt trước mặt cụ. Cụ mặc một cái áo khoác thêu chỉ màu tía và vàng bên ngoài cái áo ngủ trắng như tuyết, nhưng trông cụ có vẻ hết sức tỉnh táo, cặp mắt xanh sáng của cụ nhìn xuyên suốt nhìn chăm chăm giáo sư McGonagall một cách cố tình. Giáo sư McGonagall nói: “Thưa giáo sư Dumbledore, Potter có một… vâng, một cơn ác mộng. Trò ấy nói…” Harry lập tức đính chính: “Đó không phải là ác mộng.” Giáo sư McGonagall ngoảnh lại nhìn Harry, hơi cau mày: “Vậy thì, thôi, Potter, con hãy kể lại chuyện đó cho thầy Hiệu trưởng biết.” “Dạ, con… con đang ngủ…” Harry nói, và ngay cả trong cơn hoảng loạn và tuyệt vọng,
nó vẫn tìm cách làm cho cụ Dumbledore hiểu là nó cảm thấy ấm ức vì thầy Hiệu trưởng vẫn không hề nhìn thẳng vào nó, mà cứ chăm chú xem xét mấy ngón tay đan cài vào nhau. “Nhưng đó không phải là một giấc mơ chiêm bao bình thường… nó có thực… Con nhìn thấy việc xảy ra…” Nó hít một hơi sâu rồi nói tiếp: “Ba của Ron - bác Weasley - đã bị một con rắn khổng lồ tấn công!” Mấy lời nói đó dường như dội lại trong không gian, sau khi Harry thốt ra, nghe hơi buồn cười, thậm chí khôi hài. Một lúc im lặng trong khi cụ Dumbledore ngả lưng ra sau và đăm chiêu tư lự ngắm cái trần nhà. Ron hết nhìn cụ Dumbledore lại nhìn Harry, mặt mày nó trắng bệch và hết sức sửng sốt. Vẫn không nhìn Harry, cụ Dumbledore lặng lẽ hỏi: “Con đã nhìn thấy việc này bằng cách nào?” Harry đáp, hơi tức tối - điều đó thì ăn nhằm gì chứ? “Dạ… con không biết. Ở trong đầu con, con cho là…” Cụ Dumbledore vẫn giữ nguyên giọng bình thản. “Con hiểu lầm thầy rồi. Thầy muốn hỏi là… con có thể nhớ… ừm… vị trí của con khi quan sát vụ tấn công diễn ra không? Có thể con đứng bên cạnh nạn nhân, hay từ đâu đó trên cao nhìn xuống hiện trường?” Đây là một câu hỏi tỉ mỉ lạ lùng, khiến Harry há hốc mồm ngó cụ Dumbledore; nghe gần như thể cụ đã biết rồi… Nó nói: “Con là con rắn đó. Con đã nhìn thấy tất cả việc đó từ mắt
rắn…” Mất một lát, không một ai nói tiếng nào nữa, rồi cụ Dumbledore nhìn Ron - vẫn còn xanh xám mặt mũi - và cất lên một giọng nói sắc lẻm: “Bác Arthur bị thương có nặng không?” “Dạ có!” Harry đáp dứt khoát và rõ ràng. Tại sao mà tất cả thầy cô lại chậm hiểu đến như vậy, chẳng lẽ họ lại không biết là một người chảy máu nhiều như thế nào khi bị những cái răng nanh dài như vậy cắm phập vô hông sao? Mà tại sao cụ Dumbledore không dành cho nó cái lịch sự xã giao thông thường là nhìn thẳng vào mắt nó? Nhưng cụ Dumbledore đã đứng lên, nhanh nhẹn đến nỗi khiến Harry giật mình, và cụ nói với một trong mấy bức chân dung cũ kỹ treo rất sát trần nhà. Giọng cụ sắc bén uy quyền: “Ông Evarard? Và bà nữa, Dilys!” Một pháp sư mặt mày xám ngoét tóc đen cắt ngắn ngang trán, và trong cái khung tranh bên cạnh lão là một mụ phù thủy cao niên kỷ tóc bạch kim dài quăn tít, cả hai đều có vẻ như đang ngủ say cực kỳ, nhưng lại mở mắt ra ngay tức thì. Cụ Dumbledore hỏi: “Ông có nghe chứ?” Lão pháp sư gật đầu, còn mụ phù thủy thì đáp: “Đương nhiên.” Cụ Dumbledore nói:
“Người đàn ông tóc đỏ đeo mắt kiếng. Ông Evarard, ông sẽ cần phải tăng cường báo động, phải bảo đảm là cử đúng người đi tìm ông ta và phải tìm ra…” Cả hai gật đầu và di chuyển ra khỏi khung tranh của họ, nhưng thay vì xuất hiện trong những bức tranh bên cạnh (như chuyện thường xảy ra ở trường Hogwarts), thì lần này không người nào tái xuất hiện nữa; một cái khung hiện giờ chẳng chứa cái gì ngoài cái nền hậu cảnh đen thui, còn cái khung tranh kia chỉ còn trơ mỗi cái ghế bành da xinh xắn. Harry nhận thấy nhiều thầy cô Hiệu trưởng khác trên mấy bức tường, mặc dù có vẻ như đang ngáy khò khò và nhễu dãi một cách say sưa cực kỳ, vẫn tiếp tục nhìn trộm nó dưới mi mắt khép hờ, và nó chợt hiểu ra những ai đã rì rầm nói chuyện khi giáo sư McGonagall gõ cửa phòng. “Ông Evarard và bà Dilys là hai trong số những Hiệu trưởng Hogwarts nổi tiếng nhất.” Cụ Dumbledore nói. Cụ đang đi vòng qua Harry, Ron và giáo sư McGonagall để đến gần con chim lộng lẫy đang ngủ say trên cành cây đằng sau cánh cửa. “Họ nổi tiếng đến nỗi cả hai đều có chân dung treo ở nhiều học viện pháp thuật khác nhau. Và bởi vì họ tự do thoải mái lui tới giữa những bức chân dung của họ, nên họ có thể kể cho chúng ta biết những chuyện có thể đang diễn ra ở chỗ khác…” Harry kêu lên: “Nhưng bác Weasley có thể đang ở bất cứ đâu!” “Ba người ngồi xuống đi nào.”
Cụ Dumbledore nói tiếp như thể không nghe Harry nói gì cả. “Ông Evarard và bà Dilys có thể trở về trong nhiều phút nữa… Giáo sư McGonagall, giá như cô có thể lấy ra thêm vài cái ghế nữa…” Giáo sư McGonagall rút cây đũa phép của bà ra khỏi túi áo khoác bên ngoài bộ đồ ngủ và vẫy nó một cái; ba cái ghế xuất hiện từ chốn không trung, ghế gỗ lưng thẳng, không giống chút nào cái ghế bành bọc vải hoa mà cụ Dumbledore đã hóa phép ở phiên tòa kỷ luật xử Harry. Harry ngồi xuống ghế, ngoái lại, nhìn theo cụ Dumbledore. Lúc này cụ Dumbledore đang dùng một ngón tay nhịp nhè nhẹ lên cái đầu vàng phủ đầy lông vũ của con Fawkes. Con chim phượng hoàng thức dậy ngay tức thì. Nó vươn cái đầu xinh đẹp lên cao và quan sát cụ Dumbledore bằng đôi mắt đen lóng lánh. Cụ Dumbledore nói nhỏ với con phượng hoàng: “Chúng ta cần cảnh báo.” Một ngọn lửa nhá lên và con phượng hoàng biến mất. Cụ Dumbledore bây giờ cúi xuống một trong những dụng cụ bằng bạc mong manh mà chức năng của chúng Harry chưa bao giờ được biết. Cụ đem cái món đồ đó về bàn giấy của cụ, ngồi xuống và lại đối diện với giáo sư McGonagall và bọn Harry. Cụ nhịp nhè nhẹ đầu cây đũa phép của cụ lên cái vật đó. Dụng cụ này lập tức bừng lên sự sống với những tiếng leng
keng nhịp nhàng. Mấy bụm khói tí hon màu xanh lục nhạt bốc lên từ cái ống nhỏ xíu màu bạc lấp lánh trên đỉnh của dụng cụ này. Cụ Dumbledore ngắm làn khói rất kỹ lưỡng, trán của cụ chau lại thành rãnh, và vài giây sau, những bụm khói tí hon trở thành một luồng khói đều đặn mạnh mẽ, bốc lên tới không trung thì dày đặc và cuộn xoắn lại… Một cái đầu rắn mọc ra từ cuối luồng khói, há cái miệng rộng hoác. Harry tự hỏi có phải cái dụng cụ đó đang thẩm định lại câu chuyện của nó không: nó háo hức nhìn cụ Dumbledore để tìm một dấu hiệu chứng tỏ rằng nó đúng, nhưng cụ Dumbledore không thèm ngước đầu lên. “Đương nhiên, đương nhiên.” Cụ Dumbledore lẩm bẩm, rõ ràng là cụ tự nói với chính mình, vẫn quan sát luồng khói mà không tỏ một chút biểu hiện ngạc nhiên nào. “Nhưng về bản chất thì tách biệt à?” Harry không thể hiểu được đầu cua tai nheo của câu hỏi này. Tuy nhiên, ngay khi đó, con trăn khói tự tách mình ra làm hai con rắn, cả hai đều cuộn quấn nhau và uốn éo trong không gian tăm tối. Với một vẻ hài lòng dứt khoát, cụ Dumbledore gõ cây đũa phép lên cái dụng cụ đó một lần nữa: tiếng kêu leng keng chậm lại và tắt đi, hai con rắn khói mờ dần, trở thành một làn khói sương không hình dạng, rồi biến mất. Cụ Dumbledore đặt cái dụng cụ đó trở lại chỗ cũ trên cái bàn nhỏ mảnh khảnh; Harry thấy nhiều ông Hiệu trưởng cũ trong mấy bức chân dung đưa mắt dõi theo nó, rồi khi nhận thấy Harry quan sát lại họ, họ bèn vội vàng giả bộ ngủ trở lại.
Harry muốn hỏi cái dụng cụ bằng bạc kỳ lạ đó dùng để làm gì, nhưng trước khi nó kịp hỏi thì có một tiếng quát vang lên từ đỉnh của bức tường bên phải; lão pháp sư tên là Everard đã trở về trong bức tranh chân dung của mình, thở hổn hển. “Cụ Dumbledore!” Cụ Dumbledore hỏi ngay: “Có tin gì?” Lão pháp sư lau trán bằng tấm màn đằng sau lưng, nói: “Tôi đã hò hét cho đến khi có người chạy tới. Tôi nói tôi nghe có cái gì đó chuyển động dưới tầng trệt - họ không biết có nên tin tôi hay không nhưng cũng đi xuống kiểm tra - ông cũng biết là ở dưới đó không có bức chân dung nào để làm chỗ quan sát. Nhưng dù sao cũng chỉ vài phút sau là họ đã khiêng được ông ta lên lầu. Trông không ổn lắm, đầy mình máu me. Khi họ đi rồi, tôi chạy qua bức chân dung của bà Elfrida Cragg để có góc nhìn tốt hơn…” Ron làm một cử động hoảng loạn như bị co giật. Cụ Dumbledore nói: “Tốt. Vậy thì tôi tin là bà Dilys sẽ nhìn thấy lúc ông ấy đến nơi…” Vài khắc sau, bà phù thủy tóc bạch kim quăn tít cũng tái xuất hiện trong bức chân dung của mình. Bà ngồi thụp xuống cái ghế bành, húng hắng ho và nói: “Vâng, cụ Dumbledore à, họ đã đưa ông ta đến bệnh viện Thánh Mungo… Họ khiêng ông ta đi ngang qua bức chân dung của tôi… trông ông ta bết lắm…”
Cụ Dumbledore nói: “Cám ơn.” Cụ nhìn sang giáo sư McGonagall: “Minerva, tôi nhờ cô đi đánh thức mấy đứa trẻ nhà Weasley dậy.” “Tất nhiên…” Giáo sư McGonagall đứng dậy và nhanh chóng đi về phía cửa; Harry liếc một cái nhìn sang bên Ron, trông Ron lúc này khiếp sợ điếng người. Dừng bên cánh cửa, giáo sư McGonagall hỏi: “Mà này cụ Dumbledore, còn chị Molly thì sao?” Cụ Dumbledore nói: “Đó sẽ là công việc của Fawkes khi nó làm xong nhiệm vụ canh gác những kẻ lai vãng chỗ này. Nhưng có lẽ bà ấy đã biết rồi… cái đồng hồ tuyệt vời của bà ấy…” Harry biết cụ Dumbledore đang nói tới cái đồng hồ chỉ ra, không phải giờ, mà là nơi chốn và tình trạng của từng thành viên khác nhau trong gia đình Weasley, và nó chợt nghĩ với một cơn đau nhói là cây kim đồng hồ ông Weasley, vào lúc này, đang chỉ vô chỗ “lâm nguy đến tính mạng”. Nhưng bây giờ đã quá khuya rồi… Bà Weasley có lẽ đã đi ngủ, chứ không còn xem đồng hồ… và nó cảm thấy lạnh buốt khi nhớ lại Ông Kẹ của bà Weasley đã từng hóa ra xác chết của ông Weasley, cặp mắt kiếng của ông lệch đi, máu trên mặt ông chảy xuống… Nhưng ông Weasley sẽ không chết… ông không thể
chết được… Cụ Dumbledore lúc này đang lục lọi trong một tủ đựng ly tách đằng sau lưng Ron và Harry. Cụ quay trở ra, mang theo một cái ấm đun nước cũ đen xì đen thui, cẩn thận đặt nó lên bàn giấy của cụ. Rồi cụ giơ cây đũa phép lên lẩm bẩm: “Portus!” (“Cảng hóa”) * ; trong tích tắc, cái ấm run lên, sáng rực lên một màu xanh kỳ dị, rồi sau cái rùng mình, nó đứng yên, trở lại màu đen nguyên thủy. Cụ Dumbledore đi tới một bức chân dung khác, lần này là một lão pháp sư có hàm râu nhọn, trông rất khôn ngoan; bức tranh vẽ lão đang mặc y phục màu xanh lá cây và bạc của nhà Slytherin, và rõ ràng là lão ngủ say đến nỗi lão không thể nghe tiếng cụ Dumbledore đang cố gắng đánh thức lão. “Phineas. Phineas!” Đến lúc này thì chủ thể của mấy bức chân dung sắp hàng trong phòng không còn giả vờ ngủ nghê nữa; họ cựa quậy trong cái khung tranh của họ, để có tư thế tốt hơn mà quan sát việc gì đang diễn ra. Khi lão pháp sư mặt mũi khôn ngoan tiếp tục giả đò ngủ, mấy pháp sư trong các bức chân dung khác hè nhau hét gọi tên lão: “Phineas! Phineas! PHINEAS!” Lão ta không thể giả vờ thêm được nữa; lão làm một điệu bộ giật mình như đóng kịch và mở to đôi mắt ra. “Có phải ai đó vừa gọi tôi?” Cụ Dumbledore nói: “Tôi nhờ ông về thăm bức chân dung kia của ông một lần
nữa, Phineas à. Tôi có một thông điệp nữa cần gởi.” Phineas cất tiếng nói nghe lạo xạo, giả một ngáp dài (mắt lão đảo quanh phòng rồi chú mục vào Harry). “Thăm bức chân dung kia của tôi à? Ôi, thôi, ông Dumbledore ơi, tối nay tôi mệt quá…” Có cái gì đó trong giọng nói của lão Phineas rất quen thuộc đối với Harry. Nó đã nghe giọng nói này trước đây ở đâu rồi? Nhưng trước khi nó có thể suy nghĩ tiếp, mấy bức chân dung trên các bức tường chung quanh đã ầm ầm phản đối. Một lão pháp sư mũi đỏ, thân hình béo tốt, vung nắm đấm lên la lối: “Thưa ngài, như vậy là bất phục tùng! Là vô trách nhiệm!” Một lão pháp sư coi bộ già nua ốm yếu mà Harry nhận ra là vị Hiệu trưởng tiền nhiệm cụ Dumbledore, cụ Armando Dippet, kêu lên: “Chúng ta rất vinh dự để được phục vụ đương kim Hiệu trưởng của trường Hogwarts! Ông Phineas, ông thiệt là đáng xấu hổ!” Một mụ phù thủy có đôi mắt sắc lẻm giơ lên cao một cây đũa phép dày cui một cách khác thường, trông rất giống một cây roi mây, và kêu to: “Cụ Dumbledore, có cần tôi khuyên răn lão ấy không?” Lão pháp sư tên Phineas đành xuống nước, mắt ngó chừng cây đũa phép như cái roi mây ấy, khá e dè sợ sệt. Lão nói: “Thôi, được rồi. Mặc dù vào thời điểm này có lẽ hắn đã tiêu hủy bức tranh của tôi mất rồi, như hắn đã làm đối với hầu
hết những người khác trong gia đình…” Cụ Dumbledore nói: “Sirius biết là không nên tiêu hủy bức chân dung của ông.” Harry nhớ ra ngay tức thì nơi nó đã từng nghe giọng nói của lão pháp sư Phineas trước đây: giọng nói đó phát ra từ khung tranh rõ ràng là trống trơn trong phòng ngủ của nó ở ngôi nhà trên quảng trường Grimmauld. Cụ Dumbledore nói tiếp: “Ông sẽ truyền cho anh ấy thông điệp rằng Arthur Weasley đã bị thương nặng, và vợ, con cái, cùng Harry Potter sẽ đến nhà anh ấy trong một thời gian ngắn. Ông hiểu chứ?” Lão Phineas nhắc lại bằng một giọng ngao ngán: “Arthur Weasley, bị thương, vợ và con cái và Harry Potter sẽ đến đó ở. Được, được… tốt lắm…” Lão tuột ra khỏi cái khung tranh của bức chân dung và biến mất đúng vào lúc cánh cửa văn phòng lại mở ra một lần nữa. Fred, George, và Ginny được giáo sư McGonagall lùa vô phòng, trông cả ba đều đầu bù tóc rối và bàng hoàng sửng sốt, vẫn còn mặc nguyên đồ ngủ. Ginny có vẻ sợ hãi, hỏi: “Anh Harry… chuyện gì xảy ra vậy? Giáo sư McGonagall nói anh nhìn thấy ba của em bị thương…” Trước khi Harry kịp nói, cụ Dumbledore đã bảo: “Ba của con đã bị thương trong lúc đang thi hành một công tác cho Hội Phượng Hoàng. Ông ấy đã được đưa tới bệnh viện
Thánh Mungo chuyên trị Thương tích và Bệnh tật Pháp thuật. Thầy sẽ đưa các con về nhà chú Sirius, ở đó tiện lui tới bệnh viện hơn là từ trang trại Hang Sóc. Các con sẽ gặp má của các con ở đó.” Trông Fred rõ ràng là bị chấn động, anh chàng hỏi: “Tụi con đi bằng cách nào? Bằng bột Floo ạ?” Cụ Dumbledore nói: “Không, bột Floo không an toàn lúc này, hệ thống chuyên chở đó đang bị canh gác. Các con sẽ đi bằng Khóa Cảng.” Cụ chỉ vào cái ấm đun nước cũ xì đang nằm một cách ngây thơ vô tội trên bàn giấy của cụ, nói tiếp: “Chúng ta chỉ còn chờ Phineas Nigellus trở về tường thuật lại… Thầy muốn chắc chắn là tất cả ngoại vi đều phải an toàn trước khi đưa các con đi…” Một ánh lửa nhá sáng lên giữa căn phòng, để lại đằng sau mỗi một chiếc lông chim vàng chóe lơ lửng trong không trung rồi nhẹ nhàng thong dong đáp xuống sàn. Cụ Dumbledore bắt chiếc lông khi nó vừa rơi xuống, và nói: “Đó là báo động của Fawkes. Ắt là bà ấy đã biết các con đã ra khỏi giường… Minerva, cô đi ra lừa bà ấy qua chỗ khác… bịa với bà ta bất cứ chuyện gì…” Giáo sư McGonagall biến mất trong một cái phất tấm áo choàng len. Từ đằng sau lưng cụ Dumbledore vang lên một tiếng nói chán phè phè; lão pháp sư tên là Phineas vừa tái xuất hiện
trước ngọn cờ Slytherin của lão. “Nó nói là nó vui mừng lắm. Thằng chắt của ta vẫn luôn luôn có sở thích kỳ cục trong việc khách khứa đến nhà…” Cụ Dumbledore nói với Harry và mấy anh em nhà Weasley. “Vậy thì, các con lại đây. Và nhanh chân lên, trước khi có kẻ khác đi theo chúng ta…” Harry và mấy đứa kia xúm quanh bàn giấy của cụ Dumbledore. “Tất cả các con đều đã từng sử dụng Khóa Cảng trước đây phải không?” Cụ Dumbledore hỏi và tụi nó gật đầu, từng đứa chồm tới để sờ vào một bộ phận nào đó của cái ấm đun nước đen thui. Cụ Dumbledore nói: “Tốt. Vậy khi thầy đếm đến ba… một… hai…” Chuyện xảy ra chỉ trong một phần giây: trong cái tích tắc không tính được trước khi cụ Dumbledore đếm “ba”, Harry ngước nhìn lên cụ - hai người lúc này đứng rất sát bên nhau - và đôi mắt đăm chiêu trong xanh của cụ Dumbledore di chuyển từ cái Khóa Cảng sang gương mặt Harry. Ngay lập tức, cái thẹo trên trán Harry cháy bỏng lên, nóng rát cực kỳ, như thể vết thương cũ lại một lần nữa bùng lên - và cũng bùng lên bên trong Harry một cách tự nhiên, ngoài ý muốn, và mạnh một cách đáng sợ, một nỗi căm ghét mà Harry cảm thấy hết sức mãnh liệt, trong tích tắc ấy, đến nỗi nó chẳng muốn làm gì khác hơn là đánh - cắn - cắm phập răng nanh của nó vô người đàn ông đứng trước mặt nó…
“… ba!” Harry cảm thấy một cái giựt thót thiệt mạnh sau rún, mặt đất tan biến đi dưới chân nó, cái ấm đun nước chạm mặt đất kêu lanh canh, và đâu đó trong tầm tay, một giọng nói vang lên: “Lại trở về đây, lũ trẻ ranh xấc xược phản bội giống nòi, có đúng là chúng đang hấp hối không…?” Một giọng thứ hai gầm lên: “CÚT!” Harry lồm cồm đứng lên và nhìn ngó chung quanh: tụi nó đã về đến cái nhà bếp âm u dưới tầng hầm của căn nhà số mười hai quảng trường Grimmauld. Nguồn ánh sáng duy nhất chiếu rọi căn phòng xuất phát từ ngọn lửa lò sưởi và một ngọn nến chập chờn soi sáng những đồ thừa lại của một bữa ăn tối cô độc. Lão Kreacher đang lủi biến đi bằng cánh cửa dẫn lên hành lang, vừa ngoảnh lại nhìn tụi nó với vẻ đầy ác ý vừa kéo mạnh cái giải thắt lưng của lão; chú Sirius thì vội vã đi về phía tụi nó, trông hết sức lo âu. Chú không cạo râu và vẫn còn mặc quần áo ban ngày, và từ chú bốc ra một cái mùi chua loét từa tựa như mùi lão Mundungus. Chú đưa tay ra đỡ Ginny đứng dậy, hỏi: “Chuyện gì xảy ra vậy? Ông Phineas Nigellus nói là anh Arthur đã bị thương nặng…” Fred nói: “Chú hỏi Harry ấy?”
George nói: “Đúng rồi, cháu cũng muốn chính tai mình nghe chuyện ra sao.” Hai anh em sinh đôi và Ginny đều nhìn Harry chòng chọc. Tiếng bước chân của lão Kreacher dừng ở đâu đó trên cầu thang bên ngoài. Harry bắt đầu nói, nhưng lần này thiệt khó nói hơn cả khi kể lại cho giáo sư McGonagall hay cụ Dumbledore. “Đó là… con có một… một thứ… giống như thấy trong chiêm bao…” Nó kể lại toàn bộ những gì nó đã nhìn thấy, mặc dù nó đã sửa đổi chi tiết câu chuyện để nghe có vẻ như nó đã quan sát sự việc từ bên lề khi con rắn tấn công, chứ không phải nhìn thấy từ chính con mắt rắn… Vẫn còn trắng bệch, Ron ném cho Harry một cái nhìn rất nhanh, nhưng không nói gì cả. Khi Harry kể xong, Fred, George và Ginny tiếp tục nhìn nó chòng chọc thêm một lát nữa. Harry không biết là có phải là nó tưởng tượng hay không, nhưng nó cảm thấy dường như trong ánh mắt tụi kia có điều gì đó như thể buộc tội nó. Ừ, nếu họ kết tội nó khi mà nó chỉ chứng kiến cuộc tấn công, thì quả thực nó rất mừng là đã không kể cho họ nghe rằng lúc đó nó ở ngay bên trong con rắn… Fred quay lại chú Sirius, hỏi: “Má của cháu có ở đây không?” Chú Sirius nói:
“Có lẽ má các cháu còn chưa biết chuyện vừa xảy ra. Điều quan trọng là phải đưa các cháu đi khỏi trước khi mụ Umbridge có thể xía vô. Chú chắc rằng lúc này cụ Dumbledore đang thông báo cho má các cháu biết.” Ginny khẩn khoản nói: “Chúng ta đi đến bệnh viện Thánh Mungo đi.” Cô bé nhìn quanh mấy người anh, tụi nó dĩ nhiên vẫn còn mặc đồ ngủ. Ginny bèn nói tiếp: “Chú Sirius, chú có thể cho tụi cháu mượn cái áo khoác hay cái gì đó…” Chú Sirius nói: “Nhưng mà khoan đã. Các cháu không thể nào kéo sầm sầm vô bệnh viện Thánh Mungo được.” Fred nói với vẻ mặt bướng bỉnh: “Dĩ nhiên là tụi cháu có thể đi đến bệnh viện Thánh Mungo nếu tụi cháu muốn. Đó là ba của tụi cháu mà!” “Và cháu sẽ giải thích làm cách nào mà cháu biết được Arthur bị tấn công khi mà bệnh viện chưa kịp báo tin cho má cháu biết?” George nóng nảy nói: “Chuyện đó thì mắc mớ gì?” Chú Sirius nổi giận: “Mắc mớ chứ, bởi vì chúng ta không muốn gây chú ý đến sự kiện là Harry có khả năng nhìn thấy sự việc diễn ra cách xa nó hàng trăm dặm! Các cháu có biết là Bộ Pháp Thuật sẽ làm
gì với cái thông tin đó không?” Fred và George tỏ vẻ như thể tụi nó cóc cần biết Bộ Pháp Thuật sẽ làm bất cứ điều gì với bất cứ cái gì. Ron vẫn trắng bệch và im lặng. Ginny nói: “Thì có thể người nào đó đã nói cho tụi cháu biết… Tụi cháu có thể nghe tin từ một người nào đó khác hơn là Harry chứ bộ…” “Thí dụ như từ ai?” Chú Sirius mất kiên nhẫn. “Nghe đây, các cháu. Ba của các cháu đã bị thương trong lúc thi hành một nhiệm vụ cho Hội và trong một hoàn cảnh đủ để thiên hạ nghi ngờ rồi, giờ lại thêm chuyện kỳ lạ là con cái ông biết ngay việc đã xảy ra chỉ trong vòng vài giây. Các cháu có thể làm tổn hại đến Hội một cách nghiêm trọng…” Fred hét toáng lên: “Chúng cháu cóc cần lo tới cái Hội thổ tả!” George cũng gào lên: “Chuyện chúng ta đang nói là ba của chúng cháu đang hấp hối!” Đến phiên chú Sirius nổi cơn thịnh nộ: “Ba của các cháu biết rõ ông ấy đang làm cái gì, và ông ấy sẽ chẳng cám ơn các cháu đâu nếu các cháu làm rối nùi công việc của Hội! Chính cái kiểu này - chính điều này là nguyên nhân các cháu không được gia nhập Hội - các cháu không hiểu - có những điều đáng cho chúng ta sống chết vì chúng.” Fred rống to:
“Ngồi ở đây mà nói thì dễ lắm! Cháu có thấy chú liều cái mạng chú bao giờ đâu?” Chút xíu sắc hồng còn lại trên gương mặt chú Sirius cạn kiệt nốt. Trong một thoáng, trông vẻ mặt chú như thể chú chỉ muốn đấm vô mặt Fred, nhưng khi chú mở miệng ra nói, thì giọng của chú điềm tĩnh một cách kiên quyết: “Chú biết là rất khó, nhưng tất cả chúng ta cần phải hành động như thể chúng ta không biết gì hết. Chúng ta phải án binh bất động, ít nhất là cho tới khi chúng ta nghe được tin tức từ má các cháu, được chứ?” Fred và George vẫn còn có vẻ lăm le làm binh biến. Tuy nhiên Ginny đi mấy bước về phía cái ghế gần nhất rồi thả người ngồi phịch xuống. Harry nhìn Ron, anh chàng này làm một cử chỉ buồn cười nửa như gật đầu nửa như nhún vai, rồi cả hai đứa cũng ngồi xuống. Hai anh em sinh đôi quắc mắt nhìn chú Sirius thêm một phút nữa rồi ngồi xuống hai bên Ginny. Chú Sirius nói một cách đầy khích lệ: “Vậy là tốt! Thôi nào, chúng ta hãy… tất cả chúng ta hãy uống gì đó trong khi chờ đợi. Lại đây Bia bơ!” Chú giơ cây đũa phép lên khi đang nói và nửa tá chai từ trong tủ đựng đồ ăn uống bay vèo ra về hướng tụi nó, trượt dọc theo cái bàn ăn, đụng văng tá lả tàn dư bữa ăn tối của chú Sirius, rồi từng chai dừng lại ngay ngắn trước từng người một. Tất cả sáu người cùng uống, và trong một